Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ bệnh giun đũa ở bê, nghé nuôi tại huyện bình gia tỉnh lạng sơn và biện pháp phòng trị - Pdf 48

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
––––––––––––––––

NÔNG NGỌC THẮNG

NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ BỆNH
GIUN ĐŨA Ở BÊ, NGHÉ NUÔI TẠI HUYỆN BÌNH GIA,
TỈNH LẠNG SƠN VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG TRỊ

LUẬN VĂN THẠC SĨ THÚ Y

THÁI NGUYÊN - 2016


ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
––––––––––––––––

NÔNG NGỌC THẮNG

NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ BỆNH
GIUN ĐŨA Ở BÊ, NGHÉ NUÔI TẠI HUYỆN BÌNH GIA,
TỈNH LẠNG SƠN VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG TRỊ
Chuyên ngành: Thú y
Mã số: 60.64.01 .01

LUẬN VĂN THẠC SĨ THÚ Y

Người hướng dẫn khoa học: TS. ĐỖ QUỐC TUẤN


Xin chân thành cảm ơn các anh, chị em, các bạn bè đồng nghiệp Lãnh
đạo Trạm Thú y Bình Gia, Ban lãnh đạo Chi cục Thú y tỉnh Lạng Sơn đã
nhiệt tình giúp đỡ và tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành luận văn.
Đồng thời tôi xin cảm ơn UBND các xã: Tô Hiệu, Hoàng Văn Thụ, Tân
Văn, Thiện Thuật, Thiện Hòa, Hòa Bình đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong
quá trình thực hiện luận văn.
Cuối cùng xin được dành lời cảm ơn tới gia đình, những người thân đã
động viên, chia sẻ với tôi trong suốt khoá học và thực hiện luận văn này.
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2016
Tác giả luận văn

Nông Ngọc Thắng


iii
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN ........................................................................................... i
LỜI CẢM ƠN ................................................................................................ ii
MỤC LỤC .................................................................................................... iii
DANH MỤC CÁC BẢNG ............................................................................. v
DANH MỤC CÁC HÌNH ............................................................................. vi
MỞ ĐẦU ....................................................................................................... 1
1. Tính cấp thiết của đề tài.............................................................................. 1
2. Mục đích nghiên cứu .................................................................................. 2
3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn .................................................................... 2
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU .......................................................... 3
1.1. Cơ sở khoa học của đề tài ........................................................................ 3
1.2.1. Tình hình nghiên cứu trong nước ........................................................ 17
1.2.2. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài .................................................... 18
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG

3.2. Biểu hiện lâm sàng của bệnh giun đũa bê, nghé ..................................... 55
3.2.1. Ảnh hưởng của giun đũa trong hội chứng tiêu chảy của bê, nghé ..... 55
3.2.2. Tỷ lệ bê nghé có biểu hiện lâm sàng khi bị bệnh giun đũa .................. 59
3.2.3. Bệnh lý và lâm sàng của bê, nghé bị bệnh giun đũa ............................ 60
3.3. Nghiên cứu và đề xuất quy trình phòng trị bệnh giun đũa bê nghé......... 60
3.3.1. Khả năng diệt trứng và trứng giun đũa bê, nghé có sức gây bệnh
của thuốc sát trùng ....................................................................................... 60
3.3.2. Hiệu lực thuốc tẩy giun đũa bê, nghé .................................................. 62
3.3.3. Đề xuất quy trình phòng trị bệnh giun đũa cho bê, nghé ..................... 63
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ ........................................................................ 66
TÀI LIỆU THAM KHẢO.......................................................................... 68
MỘT SỐ HÌNH ẢNH MINH HỌA ........................................................... 60


v
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1. Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun đũa ở bê tại huyện Bình Gia tỉnh
Lạng Sơn ..................................................................................... 33
Bảng 3.2. Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun đũa ở nghé tại huyện Bình Gia
tỉnh Lạng Sơn .............................................................................. 34
Bảng 3.3. Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun đũa ở bê theo mùa vụ ................... 37
Bảng 3.4. Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun đũa ở nghé theo mùa vụ .............. 38
Bảng 3.5. Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun đũa ở bê theo tuổi ....................... 40
Bảng 3.6. Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun đũa ở nghé theo tuổi ................... 41
Bảng 3.7. Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun đũa ở bê theo tính biệt ................ 44
Bảng 3.8. Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun đũa ở nghé theo tính biệt ............ 45
Bảng 3.9. Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun đũa ở bê theo tình trạng vệ sinh
trong chăn nuôi ............................................................................ 46
Bảng 3.10. Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun đũa ở nghé theo tình trạng vệ
sinh trong chăn nuôi .................................................................... 47


1

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm gần đây việc phát triển đàn trâu, bò về cả số lượng
lẫn chất lượng là một vấn đề quan trọng, nhằm đáp ứng nhu cầu thực phẩm
cho người tiêu dùng, ổn định nền kinh tế, góp phần nâng cao đời sống xã
hội. Tuy nhiên, các bệnh xảy ra ở lứa tuổi bê, nghé đã gây ảnh hưởng rất
lớn đến công tác phát triển chăn nuôi trâu bò, trong đó phải kể đến bệnh
giun đũa ở bê, nghé.
Bệnh giun đũa ở bê, nghé nói riêng và bệnh ký sinh trùng nói chung
không gây thành ổ dịch lớn như các bệnh do vi khuẩn và virus, Nhưng nó
thường kéo dài âm ỉ, làm giảm năng suất chăn nuôi, ảnh hưởng đến khả năng
sinh trưởng và phát triển của bê, nghé.
Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs (2015) [12], Phan Địch Lân và cs
(2005) [14], bệnh do giun Neoascaris vitulorum gây ra, chúng ký sinh trong
ruột non của bê, nghé và gây ra các tác hại như: gây tổn thương ruột non,
một số cơ quan (gan, phổi,…) do ấu trùng di hành, giun lấy chất dinh
dưỡng làm cho bê, nghé gầy còm, chậm lớn. Ngoài ra giun đũa còn tiết độc
tố làm cho bê, nghé bị trúng độc, sốt cao, ỉa chảy, gầy sút và dễ chết nếu
không được điều trị kịp thời.
Lạng Sơn là một tỉnh nông lâm nghiệp thuộc miền núi phía bắc của Việt
Nam có các cửa khẩu thông thương với thị trường lớn Trung Quốc, đặc điểm
địa hình thấp với 68% tổng diện tích đất tự nhiên là đồi núi đất. Yếu tố khí
hậu thổ nhưỡng trong vùng tạo cho Lạng Sơn có thảm thực vật phong phú,
bao gồm những đồi cỏ rộng lớn, những bụi cây và thảm cỏ xen kẽ trong cánh
rừng trong đó có huyện Bình Gia. Những đặc điểm trên tạo cho Lạng Sơn có
tiềm năng lớn và vị thế thuận lợi để phát triển chăn nuôi trâu bò, bê, nghé.
Tuy nhiên, trong những năm gần đây, việc nghiên cứu về bệnh giun đũa bê

hiệu quả chăn nuôi, góp phần phát triển kinh tế - xã hội của huyện Bình Gia
nói riêng và cho toàn tỉnh Lạng Sơn.


3

Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Cơ sở khoa học của đề tài
1.1.1. Dịch tễ học của bệnh giun đũa bê, nghé
Bệnh giun đũa bê nghé do Neoascaris vitulorum gây ra, thường xảy ra
hầu khắp các nơi trên thế giới.
Theo Panday V.S. và cs (1990) [51], kiểm tra phân của 20 bê nghé trong
giai đoạn 15 - 20 ngày tuổi ở đồng cỏ Zimbabwe, thấy trứng giun có trong
phân, số trứng đếm được từ 257 - 19821 trứng /gam phân.
Akyol C.V. (1993) [42] cho biết, bê ở khu vực Barsa (Thổ Nhĩ Kỳ) bị
nhiễm Neoascaris vitulorum phổ biến qua việc kiểm tra trứng trong phân. Ấu
trùng cũng được tìm thấy trong mẫu sữa. Đồng cỏ là nơi có nhiều trứng giun
nên làm bê nghé bị nhiễm bệnh nhanh. Tỷ lệ nhiễm bệnh giữa các vùng sinh
thái khác nhau là khác nhau.
Starke W.A., Machado R.Z., Becchara G.H. và Zocoller M.C. (1996)
[54] đã kiểm tra 75 mẫu phân bê nghé từ 9 - 115 ngày tuổi, thấy có 86,7% bê
nghé nhiễm giun đũa. Số lượng trứng cao nhất khi 45 ngày tuổi.
Theo Roberts J.A. (1990) [53], tỷ lệ chết của nghé trong 6 tháng đầu sau
khi sinh ở vùng Đông Nam Á tới 30% do giun Neoascaris vitulorum và S.
papillosus.
Gupta và cs (1985) [47] cho biết, trong 1626 bê ở bang Haryana (Ấn Độ)
có 55,8% bị nhiễm ký sinh trùng, bao gồm: giun móc 44,2%; giun đũa 15,2%;
giun đầu gai 6,2%. Tỷ lệ nhiễm trong mùa thu (62,8%) cao hơn trong mùa
xuân (54,2%), mùa hè (52,4%) và mùa đông (52,2%). Trong 2411 nghé ở

Phùng Quốc Quảng và cs (2006) [28] cho biết, bệnh giun đũa ở bê phổ
biến ở lứa tuổi 20 - 25 ngày sau khi đẻ. Bệnh phân bố khắp nơi trên thế giới.
Ở nước ta, bệnh thường phát vào mùa rét, tại các vùng nuôi bò thuộc đồng
bằng trung du, miền núi. Bệnh phổ biến hơn ở miền núi vì bê thường thả
rông đi theo mẹ đi ăn.
Tô Du (2005) [4] cho biết, bệnh giun đũa ở bê nghé hay mắc từ 15 - 60
ngày tuổi vì trong đất nền chuồng, hoặc ngoài bãi cỏ có dính trứng giun đũa,


5
bê nghé khi gặm cỏ liếm phải rồi mắc bệnh. Bệnh thường gặp nhiều ở nghé
đẻ vào vụ Đông - Xuân.
Bệnh giun đũa bê nghé thường thấy ở bê nghé dưới 3 tháng tuổi ở các
vùng chăn nuôi trâu bò thuộc miền núi, trung du, đồng bằng và ở các cơ sở
chăn nuôi trâu bò sữa (Phạm Sỹ Lăng và Phan Địch Lân, 1999 [18]).
Nguyễn Hùng Nguyệt và cs (2008) [22] cho biết bê nghé nuôi ở vùng
núi bị bệnh giun đũa nhiều hơn so với vùng trung du và đồng bằng. Ở nước ta
bê, nghé thường bị bệnh vào tháng 12, 1, 2 hàng năm (vụ Đông - Xuân), do
trâu bò thường đẻ vào các tháng 11, 12, 1. Bê, nghé mắc bệnh giun đũa sớm
nhất là 14 ngày tuổi, nhiều nhất ở lứa tuổi 30 - 45 ngày tuổi và muộn nhất ở
65 ngày tuổi, trâu bò không mắc bệnh.
1.1.2. Đặc điểm sinh học của giun đũa ký sinh ở bê, nghé
1.1.2.1. Vị trí của giun đũa bê, nghé trong hệ thống phân loại động vật.
Theo Phan Thế Việt và cs. (1977) [39], giun đũa bê nghé có vị trí trong
hệ thống phân loại động vật học như sau:
Nghành Nemathelminthes Schneider, 1873
Lớp Nematoda Rudolphi, 1808
Phân Lớp Rhabditia Pearse, 1942
Bộ Ascaridida Skrjabin et Schulz, 1940
Phân bộ Ascaridina Skrjabin, 1915

Theo mô tả của Urquhart G.M. và cs (1996) [56] thì giun đũa T.
viturlorum là ký sinh trùng đường ruột lớn nhất của ở bê nghé, giun cái dài có
thể đến 30,00 cm. Giun đũa có thân dày, màu hơi hồng khi còn sống, và lớp
biểu bì khá trong suốt nên có thể nhìn thấy được các cơ quan nội tạng, trứng
giun đũa có một lớp vỏ dày và trong suốt.
1.1.2.3. Đặc điểm vòng đời của Neoascaris vitulorum
Vòng đời của giun đũa bê nghé không cần ký chủ trung gian. Nếu cho bò
mẹ trước khi đẻ 124 - 192 ngày nuốt trứng giun có súc gây bệnh thì bê đẻ ra


7
20 - 31 ngày trong phân đã có trứng giun đũa. Điều đó chứng tỏ giun đũa bê,
nghé có thể qua máu truyền vào bào thai. Ở trâu mẹ thời kỳ chửa đầu nuốt
trứng giun cảm nhiễm thì tất cả nghé đẻ ra đều bị nhiễm giun qua nhau thai.
Giun đũa bê, nghé nhiễm vào cơ thể bằng 2 con đường nhiễm trực tiếp và
nhiễm qua bào thai (Nguyễn Hùng Nguyệt và cs, 2008 [24]).
Nguyễn Thị Kim Lan (2012) [11] cho biết giun cái đẻ trứng ở ruột non,
trứng theo phân ra ngoài, gặp nhiệt độ và độ ẩm thích hợp, phát triển thành
trứng có sức gây bệnh (ở t0 15 - 170C cần 38 ngày, 19 - 220C cần 20 ngày,
250C cần 10 - 12 ngày, 28 - 300C cần 7 ngày, 31 - 320C cần 6 ngày. Nhưng ở
nhiệt độ 34 - 350C thì trứng không phát triển). Bê, nghé mắc bệnh giun đũa
do 2 cách nhiễm;
- Nhiễm trực tiếp: Bê, nghé nuốt trứng giun đũa, trứng nở thành ấu trùng
ở ruột non, chui vào mạch máu, niêm mạc, theo máu về gan. Một số ít chui
vào ống lâm ba màng treo ruột, vào tĩnh mạch màng treo ruột rồi vào gan, sau
khi nhiễm 4 - 5 ngày hầu hết ấu trùng di hành tới phổi sớm nhất là sau 18 giờ,
muộn nhất là sau 12 ngày vẫn có ấu trùng ở phổi, khi đi tới phổi ấu trùng lột
xác thành ấu trùng kỳ 3, ấu trùng này từ mạch máu phổi chui vào phế bào,
qua khí quản rồi cùng với niêm dịch ấu trùng lên hầu, được nuốt xuống ruột
non, lột xác lần nữa và phát triển thành trứng trưởng thành.

Theo Vy Đức Nhật Quang (2014) [27], trứng giun đũa phát dục thành
phôi thai trong khoảng 20 ngày ở nhiệt độ 19 - 220C, Nhưng phải cần 38 ngày
ở nhiệt độ 15 - 170C.
Phạm Sỹ Lăng và Phan Địch Lân (1999) [18] cho biết, con cái đẻ trứng
ở ruột non, theo phân ra ngoài, gặp nhiệt độ thích hợp trứng phát triển thành
trứng có khả năng gây bệnh (nhiệt độ 15 - 170C cần 38 ngày, 19 - 220C cần
20 ngày, 250C cần 10 - 12 ngày, 28 - 300C cần 65 ngày, nhưng khi nhiệt độ
đến 34 - 350C thì trứng không phát triển).
Theo Nguyễn Hùng Nguyệt và cs (2008) [22], trứng giun đũa bê, nghé
có sức đề kháng với điều kiện ngoại cảnh, chỉ bị diệt ở nhiệt độ 450C trở lên
và ánh nắng mặt trời chiếu trực tiếp.
Sau khi trứng giun cảm nhiễm vào cơ thể trâu bò mẹ, dưới tác dụng của
dịch vị và dịch ruột non, ấu trùng nở ra và từ ruột non theo mạch máu vào
gan, qua tim lên phổi, ấu trùng đến tim trái và từ đó vào đại tuần hoàn. Phần
lớn ấu trùng đều theo mạch máu đến các mô và phủ tạng, ở đó nó đóng kén và
có thể sống từ 5 đến 6 tháng hay hơn. Trường hợp trâu bò cái nhiễm phải
trứng giun trong thời gian chửa thì ấu trùng có thể qua hệ tuần hoàn của nhau
thai đến bào thai, hoặc có thể trâu bò cái nhiễm trong thời gian không chửa,
ấu trùng đóng kén ở mô và phủ tạng, khi trâu bò chửa ấu trùng thoát ra khỏi
kén theo mạch máu đến nhau thai và vào bào thai.
Kén của ấu trùng có thể thấy ở nhiều mô và phủ tạng của trâu bò mẹ
như: cơ, thận, não, gan, phổi. Ấu trùng có thể sống ở đó 6 tháng. Ở con vật
không chửa, quá thời gian 6 tháng ấu trùng chết. Ở con vật chửa trong vòng 6
tháng, ấu trùng chui ra khỏi kén đi vào nhau thai.
Ở bào thai ấu trùng sống trong gan, ấu trùng sống không biến đổi trong
suốt thời kỳ bào thai còn ở trong tử cung, thời kỳ cuối trước khi đẻ ấu trùng
có thể từ gan lên phổi biến thái một lần. Nhưng nói chung, ở mọi trường hợp,
chỉ sau khi bê nghé được đẻ ra, ấu trùng mới tiếp tục biến thái sau khi hoàn




11
(2012) [10]) Giun đũa Neoascaris vitulorum cũng Như các loài giun sán khác,
ngoài tác động chiếm đoạt chất dinh dưỡng của vật chủ, còn gây tổn thương
niêm mạc ruột, tạo điều kiện cho các vi khuẩn có trong đường tiêu hoá
(E.coli, Salmonella, Proteus...) xâm nhập gây rối loạn quá trình phân tiết,
viêm ruột và tiêu chảy cấp tính hoặc mãn tính.
Ngoài ra, giun đũa còn gây viêm ruột cata, một số ít bị biến đổi hoại tử ở
gan. Giun ở trong ống dẫn mật gây viêm có mủ, viêm do tổn thương ở phổi
cũng được phát hiện. Gia súc non mắc bệnh giun đũa bị viêm ruột thứ phát có
thể chết đến 80%.
Đặc điểm chủ yếu của bệnh là gây tiêu chảy song không liên tục, có sự
xen kẽ giữa tiêu chảy và bình thường, cơ thể thiếu máu, da nhợt nhạt, bê nghé
có biểu hiện nôn từng cơn, kém ăn, thể trạng sa sút. Nếu không phát hiện sớm
và điều trị kịp thời bê nghé chết rất nhanh.
Theo Chu Thị Thơm và cs (2006) [36], ấu trùng sau khi xâm nhập vào
cơ thể bê nghé, ấu trùng di hành gây tổn thương nhiều cơ quan. Chúng đem
theo nhiều vi khuẩn, virus gây các truyền nhiễm kế phát. Giun chiếm đoạt
nhiều chất dinh dưỡng, tiết độc tố đầu độc vật chủ làm bê nghé gầy yếu, ỉa
chảy, ỉa phân trắng. Do giun có kích thước lớn, khi ký sinh với số lượng lớn
thường gây tắc ruột, thủng ruột, tắc ống mật.
Nguyễn Hùng Nguyệt và cs (2008) [22] cho biết giun đũa ký sinh trong
ruột non bê nghé sẽ gây ra các tác động:
- Tác động cơ giới: Ấu trùng di hành làm tổn thương gan, phổi. Giun
trưởng thành dùng các lá môi vào niêm mạc ruột và gây tổn thương niêm mạc
ruột, viêm cata, ảnh hưởng đến tiêu hóa, sữa không tiêu hóa bị vón lại.
Sữa này bị vi khuẩn lên men phân hủy, sinh ra nhiều sản phẩm của quá
trình phân hủy protit. Vì vậy, khi phân ra ngoài có màu trắng sữa, lỏng và có
mùi thối khắm. Số lượng giun đũa nhiều sẽ gây tắc, thủng ruột, gây viêm
phúc mạc.

dạ múi khế, ống dẫn mật. Ở gan có những điểm hoại tử màu trắng đục.


13
Theo Nguyễn Văn Thiện và cs (1977) [31], bê nghé bị bệnh giun đũa có
dáng đi lù đù, đầu cúi, lưng cong đuôi cụp, bụng ỏng, có khi con vật nằm một
chỗ không theo mẹ. Bệnh nặng bê nghé gầy rạc, xù lông, mắt lờ đờ, chảy
nước mắt có nhử, mũi khô, thân nhiệt khoảng 40 - 410C. Con vật mệt mỏi,
đứng lên nằm xuống, ỉa phân lúc đầu táo hoặc lổn nhổn, màu đen, dần dần
chuyển thành màu trắng, lỏng.
Theo Vy Đức Nhật Quang (2014) [27], con vật ăn kém, ỉa chảy, đôi khi
táo bón, chướng hơi, đi lại không yên, đau bụng, ho, co giật. Trường hợp tự
thải giun hay được điều trị thì các triệu chứng sẽ mất đi, ở thể mãn tính bệnh
kéo dài 2 - 3 tháng.
Chu Thị Thơm và cs (2006) [31] cho biết về lâm sàng của bệnh giun đũa
bê nghé: bệnh xảy ra phổ biến ở bê nghé từ 11 - 30 ngày tuổi. Bê nghé ủ rũ, lù
xù, chậm chạp đầu cúi, lưng cong, đuôi cụp, thường chết vào ngày thứ 7 - 16.
Lúc đầu còn theo mẹ, khi bệnh nặng nghé bỏ bú, không theo mẹ, nằm một
chỗ, thở yếu, đau bụng, nằm ngửa dãy dụa, đạp chân lên phía trước bụng. Có
khi nghe rõ tiếng sôi bụng. Bê, nghé gấy sút nhanh chóng, da khô, lông dựng,
mắt lờ đờ, niêm mạc nhợt nhạt, mũi khô, hơi thở thối.
Phân màu trắng, mùi rất thối, con vật ỉa chảy nặng, ỉa vọt cần câu, phân
dính ở khuỷu chân và xung quanh hậu môn. Có thể xem đây là một triệu
chứng điển hình giúp cho việc chẩn đoán xác định bệnh giun đũa bê nghé.
Vy Đức Nhật Quang (2014) [24], theo số lượng nhiễm, bê nghé thường
đau bụng, chướng hơi (biểu hiện đạp chân lên bụng, lưng hơi cong lên) tiêu
chảy đôi khi táo bón, nếu nặng bê nằm một chỗ, bỏ ăn
1.1.4. Chẩn đoán bệnh giun đũa bê, nghé
Chẩn đoán bệnh giun đũa Neoascaris vitulorum ở bê nghé dựa vào triệu
chứnglâm sàng, các thông tin về dịch tễ học, xét nghiệm mẫu phân bê nghé

nhất, không những xác định được tỷ lệ nhiễm, cường độ nhiễm, mà còn
quan sát được những tổn thương ở đường tiêu hoá do giun sán gây ra.


15
1.1.5. Biện pháp phòng trị bệnh
Phùng Quốc Quảng và cs (2006) [28] đã đưa ra phương pháp phòng
bệnh giun đũa cho bê nghé như sau:
- Để chủ động phòng bệnh, sau khi đẻ 7 - 10 ngày, cần cho bê nghé uống
một trong số các thuốc tẩy giun như: Piperazin, Hexachloretan, Mebenvet...
uống một lần trong một buổi sáng. Khi uống bắt bê, nghé nhịn đói.
- Cho bò mẹ ăn uống tốt để có đủ sữa cho con bú, kết hợp vệ sinh
chuồng trại, môi trường. Cho uống nước sạch. Giữ chuồng nuôi ấm và khô
ráo. Tập trung phân ủ để diệt trứng giun.
Theo Phạm Sỹ Lăng và Lê Thị Tài (1997) [17], Piperazin, Mebendazol,
Tetramisol, Thiabendazol có tác dụng rất tốt khi sử dụng để tẩy giun đũa cho
bê nghé.
Theo Robert J.A. (1989) [53], hiệu quả tẩy giun đũa bê nghé của
Pyrantel là 100%; Febentel là 100%; Levamisol (7,5 mg/kg TT cho uống) là
83%, Levamisol tiêm (0,1 ml/kg TT) là 73%, Piperazine là 57%.
Nguyễn Văn Thiện và cs (1977) [31] đã dùng 8 hạt cau tươi giã nhỏ, trộn
với 20 gam bột diêm sinh, hoà với 1/3 lít nước hơi ấm, cho uống vào buổi
sáng trong 3 ngày liền; hoặc một nắm vỏ xoan (50 gam) giã nhỏ, trộn với 2
gam muối, hoà với 1/3 lít nước ấm, để lắng, gạn lấy nước cho uống vào buổi
sáng, 3 ngày liền; hoặc 2 đến 3 lá đu đủ non giã nhỏ, hoà với 1/3 lít nước, cho
uống vào buổi sáng ba ngày liền. Có thể cho uống 3 ml tinh dầu giun trộn với
60 ml dầu đu đủ, cho uống một lần vào buổi sáng. Cũng có thể cho uống
Phenothiazine 1,5 - 2,0 gam/ngày trong ba ngày, hoặc Piperazin 0,2 - 0,3
gam/kg TT.
Bùi Quý Huy (2011) [9] cho biết , để chủ động phòng trị bệnh giun đũa bê

- Hạt cau: nghiền nhỏ 4 g hạt cau, sắc lấy nước cho gia súc uống. Hoặc
nghiền nhỏ, rang khô đem trộn thức ăn, cho ăn vào buổi sáng.


17
1.1.6. Tình hình nghiên cứu trong nước
Nguyễn Văn Diên (2014) [7] cho biết, nghé nhiễm bệnh từ trong bào
thai, đến tuổi ngoài hai tháng rưỡi không phát bệnh nữa, có trường hợp khi
đến tuổi ấy nghé tự tống giun ra ngoài.
Theo Trịnh Văn Thịnh (1962) [32], qua điều tra trên 32 xã thuộc nhiều
tỉnh miền núi và trung du miền bắc nước ta, nghé ốm do bệnh giun đũa chiếm
39,1%, nghé chết chiếm 38,7% so với số nghé ốm. Đặc biệt bệnh chỉ phổ
biến trên đàn trâu sinh sản ở miền núi và trung du, ở vùng đồng bằng bệnh
giảm rõ rệt.
Theo Trịnh Văn Thịnh (1966) [33], ở Sơn Tây, Phia Đén (Cao Bằng)
Ngọc Thanh (Vĩnh Phú), đàn bê mắc bệnh giun đũa chiếm 20% so với số bê
đẻ ra và bê chết do giun đũa chiếm 5% so với số bê ốm.
Theo Nguyễn Văn Thiện và cs (1977) [31], bê nghé từ 15 - 60 ngày tuổi
hay mắc bệnh ỉa cứt trắng, bệnh thường hay gặp nhất ở miền núi.
Vương Đức Chất (1995) [2] cũng thấy tỷ lệ nhiễm giun đũa trên đàn bê
ở Hà Nội qua mổ khám là 15,6%.
Phạm Sỹ Lăng và Phan Địch Lân (1996) [16] cho biết, bệnh giun đũa bê
ghé có tỷ lệ nhiễm từ 23% - 64% ở nghé trong độ tuổi 1- 3 tháng, bê trong độ
tuổi 17 ngày đến 3 tháng tuổi cũng bị nhiễm bệnh.
Theo Phạm Sỹ Lăng (2002) và cs [19], có thể sử dụng một trong các loại
hóa dược sau để điều trị bệnh giun đũa bê nghé: Piperazin dùng liều 0,3 0,5gam/kg TT, thuốc cho uống trực tiếp hoặc trộn với thức ăn; Levamisol
dùng với liều 15 - 20 mg/kg TT, cho uống hoặc 10 - 15 mg/kg TT dùng tiêm;
Mebenvet(10% Mebendazol) dùng liều 0,5 gam/kg TT; Ivermectin dùng liều
0,2 mg/kg TT tiêm cho bê nghé.
Lê Thị Thanh Nhàn (2008) [26] đã điều trị tiêu chảy cho bê nghé do


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status