Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ bệnh giun đũa lợn t ại huyện Hải Hà tỉnh Quảng Ninh và biện pháp phòng trị. - Pdf 29



ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

HỨA THỊ HUỆ
Tên đề tài:

“NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ BỆNH GIUN ĐŨA
LỢN TẠI HUYỆN HẢI HÀ, TỈNH QUẢNG NINH
VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG TRỊ”

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy
Chuyên ngành : Thú y
Lớp : K42 - TY
Khoa : Chăn nuôi - Thú y
Khóa học : 2010 - 2015

Giảng viên hướng dẫn : TS. Phan Thị Hồng Phúc
Giảng viên khoa Chăn nuôi thú y - Trường đại học Nông Lâm Thái Nguyên Hứa Thị Huệ
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT VÀ KÝ HIỆU

A.suum : Ascaris suum
cs : cộng sự
Nxb : Nhà xuất bản
PTCN : Phương thức chăn nuôi
TT : Thể trọng
tr : trang
VSTY : Vệ sinh thú y

Hình 4.1: Biểu đồ thể hiện tỷ lệ nhiễm giun đũa lợn ở một số xã thuộc huyện
Hải Hà 27
Hình 4.2. Biểu đồ thể hiện cường độ nhiễm giun đũa lợn ở một số xã thuộc huyện
Hải Hà 27
Hình 4.3. Biểu đồ thể hiện tỷ lệ và cường độ nhiễm theo tuổi lợn 30
Hình 4.4. Biểu đồ thể hiện tỷ lệ nhiễm giun đũa theo giống lợn 31
Hình 4.5. Biểu đồ thể hiện tỷ lệ nhiễm giun đũa theo tình trạng vệ sinh thú y 33
Hình 4.6. Niêm mạc ruột bị thoái hóa, long tróc 43
Hình 4.7.Lông nhung ruột bị tổn thương, một số bị đứt, nát 44
Hình 4.8. Các tế bào viêm, bạch cầu ái toan (1) và hồng cầu (2) xuất hiện
nhiều ở niêm mạc ruột 44

MỤC LỤC

PHẦN 1. MỞ ĐẦU 1
1. Đặt vấn đề 1
1.1. Mục tiêu nghiên cứu 2
1.2. Mục đích nghiên cứu 2
1.3. Ý nghĩa của đề tài 2
PHẦN 2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1. Cơ sở khoa học của đề tài 3
2.2. Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 13
2.2.1. Tình hình nghiên cứu trong nước 13
2.2.2. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài 15
PHẦN 3. ĐỐI TƯỢNG, VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU 17

vườn bãi trồng cây thức ăn cho lợn 36
4.8. Thời gian trứng giun đũa phát triển thành trứng có sức gây bệnh trong
phân ở ngoại cảnh 37
4.9. Thời gian sống của trứng giun đũa lợn có sức gây bệnh trong phân ở
ngoại cảnh 39
4.10. Biểu hiện lâm sàng của bệnh giun đũa ở lợn 40
4.11. Bệnh tích đại thể của lợn nhiễm giun đũa 41
4.12. Biến đổi vi thể của lợn nhiễm giun đũa 42
4.13. So sánh số lượng hồng cầu, bạch cầu và hàm lượng huyết sắc tố giữa
lợn bị nhiễm giun đũa và lợn khoẻ 45
4.14. So sánh công thức bạch cầu của lợn bị bệnh giun đũa và lợn khoẻ 45

4.15. Hiệu lực của một số thuốc tẩy giun đũa cho lợn 46
4.16. Đề xuất quy trình phòng trị bệnh giun đũa cho lợn 48
PHẦN 5. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 50
5.1. Kết luận 50
5.2. Đề nghị 50
TÀI LIỆU THAM KHẢO 51
I. Tài liệu tiếng Việt 51
II. Tài liệu dịch 53
III. Tài liệu tiếng Anh 53

1
Phần 1
MỞ ĐẦU

1. Đặt vấn đề

TT : Thể trọng
tr : trang
VSTY : Vệ sinh thú y
3
Phần 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1. Cơ sở khoa học của đề tài
Bệnh ký sinh trùng đường tiêu hóa thường là những bệnh tiến triển thể
thể mãn tính, triệu chứng không rõ, thường bị triệu chứng của các bệnh khác
che lấp. Do đó chính những con vật bị nhiễm đã trở thành nguồn reo rắc mầm
bệnh ra bên ngoài và lây ra các con khác làm cho bệnh càng có điều kiện phát
triển mạnh ảnh hưởng đến quá trình sinh trưởng của vật nuôi.
*Đặc điểm hình thái, kích thước của giun đũa lợn
Theo Nguyễn Thị Kim Lan (2012) [6] giun đũa lợn thuộc họ Ascaridae,

Ascaris suum Trứng Ấu trùng
(Ký sinh ở ruột non lợn) (có sức gây bệnh)
Ấu trùng
Thời gian hoàn thành vòng đời của giun đũa lợn là 54 - 62 ngày. Giun
đũa lợn phát triển không cần ký chủ trung gian. Giun cái đẻ mỗi ngày 200.000
trứng, trung bình một giun cái đẻ 27 triệu trứng. Trứng theo phân ra ngoài, ở
nhiệt độ khoảng 24
o
C và độ ẩm thích hợp, được hai tuần trong trứng có phôi
thai, sau một tuần nữa thì phôi thai lột xác thành trứng có sức gây bệnh. Lợn
nuốt phải trứng này thì ấu trùng nở ở ruột, chui vào mạch máu niêm mạc, theo
máu về gan. Một số ít chui vào ống lâm ba và màng treo ruột, vào tĩnh mạch
màng treo ruột, vào gan. Sau khi nhiễm 4 - 5 ngày thì hầu hết ấu trùng di hành
tới phổi, sớm nhất là sau 18 giờ muộn nhất là sau 12 ngày vẫn có ấu trùng vào
Phân T
o
,A
o
,pH
Phổi< Gan< Máu< Niêm mạc ruột

5
phổi. Khi tới phổi ấu trùng lột xác thành ấu trùng kỳ III, ấu trùng này từ mạch
máu phổi chui vào tế bào, qua khí quản và cùng với niêm dịch lên hầu, rồi

C chết trong nửa giờ, nước nóng 60
o
C diệt trứng
trong 5 phút, nước 70
o
C chỉ cần 1 - 10 giây. Vì vậy ủ phân theo phương pháp
nhiệt sinh học sẽ diệt được trứng giun đũa.
* Dịch tễ học
Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (2006) [9] bệnh giun đũa lợn là bệnh phổ
biến ở khắp nơi trên thế giới, đặc biệt các nước đang phát triển của châu Á và

6
châu Phi. Nguyên nhân bệnh giun đũa lợn rất phổ biến vì vòng đời của nó đơn
giản, có thể truyền trực tiếp và có sức đề kháng cao.
- Tuổi mắc bệnh giun đũa: Chu Thị Thơm và cs (2006) [20] cho biết,
lợn nhiễm giun đũa với tỷ lệ cao và cường độ lớn ở lợn từ 3 - 5 tháng tuổi.
Theo Bùi Quý Huy (2006) [4], lợn từ 2 - 6 tháng tuổi mắc bệnh với tỷ lệ cao,
tuy nhiên mọi lứa tuổi đều mắc. Nhìn chung, lợn nhiễm giun đũa cao ở lứa
tuổi 2 - 6 tháng tuổi, sau đó giảm dần.
Nguyên nhân có tình trạng này là do điều kiện khí hậu nước ta nóng và
ẩm, thuận lợi cho trứng giun phát triển. Mặt khác công tác thú y ở các cơ sở
chăn nuôi mặc dù đã được quan tâm nhưng chưa được thực hiện tốt, chưa ủ
phân, còn bón phân tươi vào ruộng trồng cây thức ăn cho lợn
- Động vật cảm nhiễm: theo Phạm Sỹ Lăng và cs (2009) [11], lợn nhà
và lợn rừng ở các lứa tuổi 1 - 4 tháng tuổi nhiễm giun đũa với tỷ lệ cao nhất
và bị bệnh nặng hơn lợn trưởng thành. Lợn con dưới 2 tháng tuổi tỷ lệ nhiễm
giun đũa 39,2%; 3 - 4 tháng tuổi tỷ lệ nhiễm là 48,0%; trên 8 tháng tuổi tỷ lệ
nhiễm 24,9%.
- Đường bài xuất mầm bệnh: lợn mắc bệnh thải trứng theo phân ra ngoại
cảnh. Ở ngoại cảnh những trứng này được phát tán rộng rãi và bắt đầu quá

Tác động cơ giới: hầu hết các ký sinh trùng đều gây nên những biến
loạn cơ giới, ngăn trở ít hay nhiều khí quan mà nó xâm nhập, làm tắc, chèn
ép, phá vỡ các tổ chức hoặc làm thủng, rách, do khí quan bám hút của ký sinh
trùng mà làm tróc niêm mạc, gây xuất huyết và viêm thường gặp ở thể cấp
tính, thứ cấp tính, mãn tính.
Tác động đầu độc: ký sinh trùng bài tiết các chất độc hằng ngày, ký chủ
hấp thụ chất độc, sinh ra những biến loạn khác nhau nhưng thường thấy nhất
là biến loạn thần kinh và tuần hoàn. Nói chung, chất độc do ấu trùng bài tiết
mạnh hơn thanh trùng.

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 4.1. Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun đũa lợn tại một số xã thuộc huyện
Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh 26
Bảng 4.2. Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun đũa theo tuổi lợn 28
Bảng 4.3. Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun đũa theo giống lợn 31
Bảng 4.4: Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun đũa lợn theo tình trạng vệ sinh thú y 32
Bảng 4.5. Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun đũa lợn theo tháng trong năm 34
Bảng 4.6. Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun đũa theo phương thức chăn nuôi 35
Bảng 4.7. Sự ô nhiễm trứng giun đũa ở ngoại cảnh 37
Bảng 4.8. Thời gian trứng giun đũa phát triển thành trứng có sức gây bệnh
trong phân ở ngoại cảnh 38
Bảng 4.9. Thời gian sống của trứng giun đũa có sức gây bệnh trong phân ở
ngoại cảnh 39
Bảng 4.10. Biểu hiện lâm sàng của lợn nhiễm giun đũa 40
Bảng 4.11. Bệnh tích đại thể bệnh giun đũa ở lợn 41
Bảng 4.12. Tỷ lệ tiêu bản có bệnh tích vi thể trong số tiêu bản nghiên cứu 42
Bảng 4.13. So sánh số lượng hồng cầu, bạch cầu và hàm lượng huyết sắc tố
giữa lợn bị bệnh giun đũa và lợn khoẻ 45
Bảng 4.14. So sánh công thức bạch giữa lợn bị bệnh giun đũa và lợn khoẻ 46

kiểm tra bệnh tích. Lợn dưới hai tháng tuổi: mổ khám tìm ấu trùng giun ở
phổi vì giun chưa đẻ trứng.
* Phòng bệnh
Phòng bệnh ký sinh trùng có nhiều biện pháp nhưng đều nhằm mục
đích không cho mầm bệnh ký sinh trùng phát triển, thực hiện tốt các chu trình
tiến hóa của nó, để nó không thể sinh ra ký sinh trùng trưởng thành mới được.
Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [5], các phương pháp tấn công
ký sinh trùng ở từng giai đoạn như sau:

10
Giai đoạn thứ nhất: ký sinh trùng trưởng thành đẻ trứng ở ký chủ cuối
cùng. Có thể tiêu diệt nó bằng hai phương pháp: dùng thuốc đặc hiệu diệt ký
sinh trùng (việc tẩy ký sinh trùng này có tính chất dự phòng, tức là thực hiện
trước khi súc vật phát hành triệu chứng bệnh và trước khi súc vật reo rắc mầm
bệnh ra bên ngoài môi trường), tiêu diệt ký sinh trùng bằng cách giết tất cả
những vật mắc bệnh (phương pháp này triệt để nhưng tốn kém mặc dù thịt súc
vật vẫn sử dụng được).
Giai đoạn thứ hai: trứng. Có thể dùng hai phương pháp: tiêu diệt hầu
hết trứng bằng cách thu nhặt hết phân của gia súc ốm trong chuồng và đem
chôn (biện pháp này phải làm đi làm lại nhiều lần để trứng không có thời gian
phát triển thành phôi thai) hoặc có thể ủ phân theo phương pháp nhiệt sinh
học. Đối với súc vật chăn thả, phải ngăn không cho trứng trên đồng cỏ phát
triển bằng cách làm cho đồng cỏ khô ráo.
Giai đoạn thứ ba và thứ tư: phôi thai và ấu trùng tự do ngoài thiên
nhiên có hai cách:
Diệt toàn bộ phôi thai và ấu trùng ngoài đồng cỏ và ao tù bằng vôi bột,
sunfat sắt, sunfat đồng với lượng dùng 400 kg cho 1 ha đồng cỏ, 5 kg cho
100 m
3
nước ao.

Diệt căn bệnh ở cơ thể lợn:
+ Đối với từng cá thể: tẩy giun 3 tháng 1 lần. Nếu sau khi tẩy, vệ sinh
tốt, cho ăn thức ăn chín một đời lợn bột thì chỉ cần tẩy 1 lần vào lúc tách mẹ.
+ Đối với lợn nuôi tập trung: cả đàn lợn 100 - 1000 con, 3 - 4 tháng/1
lần tẩy giun, cho tất cả lợn ở diện cần tẩy (lợn con mới tách mẹ, lợn mới tách
con, lợn nuôi thịt và các loại lợn khác).
- Đảm bảo vệ sinh chuồng trại và môi trường, hạn chế việc lây lan mầm
bệnh cho lợn. Vệ sinh thức ăn nước uống. Không nên cho lợn ăn sống các loại
rau được tưới bằng phân tươi.
- Ủ phân để diệt trứng giun, ngăn ngừa sự phát tán mầm bệnh ra ngoài.
Ủ bằng phương pháp nhiệt sinh học để diệt trứng và ấu trùng.
- Xử lý phân theo các biện pháp sau:
+ Dùng ánh sánh mặt trời, nhiệt độ để diệt mầm bệnh (như phơi các
dụng cụ chăn nuôi ).

12
+ Dùng hóa chất để diệt trứng và ấu trùng.
+ Biện pháp sinh học: ủ phân.
Nguyên lý của biện pháp ủ phân: lợi dụng hệ vi sinh vật yếm khí và
hiếu khí phân hủy và lên men các chất hữu cơ ở trong phân làm nhiệt độ phân
tăng lên (55 - 60
o
C), ở nhiệt độ đó có thể diệt trứng và ấu trùng giun đũa. Đây
là biện pháp đơn giản, dễ thực hiện, hiệu quả cao, tốn ít công sức và tiền bạc,
không gây ảnh hưởng đến súc vật, đảm bảo vệ sinh môi trường cho người và
súc vật.
Nguyên lý ủ: phân chuồng + lá xanh + vôi bột + tro bếp.
+ Ủ nổi trên mặt đất: trộn 4 loại trên, đem đánh đống để ủ, bên ngoài
trát bùn dày 10cm.
+ Ủ chìm: trộn 4 loại trên, đào hố ủ sâu dưới đất và bên trên trát bùn

Hình 4.4. Biểu đồ thể hiện tỷ lệ nhiễm giun đũa theo giống lợn 31
Hình 4.5. Biểu đồ thể hiện tỷ lệ nhiễm giun đũa theo tình trạng vệ sinh thú y 33
Hình 4.6. Niêm mạc ruột bị thoái hóa, long tróc 43
Hình 4.7.Lông nhung ruột bị tổn thương, một số bị đứt, nát 44
Hình 4.8. Các tế bào viêm, bạch cầu ái toan (1) và hồng cầu (2) xuất hiện
nhiều ở niêm mạc ruột 44

14
nhiễm giun đũa với tỷ lệ cao ở lứa tuổi dưới 4 tháng tuổi sau đó tỷ lệ nhiễm
giảm dần.
Nguyễn Thiện và cs (2004) [18] cho biết, trứng giun đũa lợn có khả
năng sống rất lâu từ 11 - 24 tháng vì trứng có sức đề kháng rất mạnh với tất cả
cá hóa chất (kiềm, axit), chống đỡ kém với thời tiết khô ráo và ánh sáng mặt
trời chiếu trực tiếp. Tuổi thọ của giun đũa lợn khoảng 7 - 10 tháng. Hết tuổi
thọ giun đũa theo phân ra ngoài. Gặp điều kiện không thuận lợi (con vật bị
bệnh truyền nhiễm, sốt cao ) thì tuổi thọ của giun đũa ngắn lại. Số lượng
giun có thể vài con đến hàng nghìn con trên một cơ thể lợn.
Trương Thị Thu Trang (2010) [21], nghiên cứu bệnh giun đũa lợn tại
một số địa phương thuộc tỉnh Thái Nguyên với tổng số 2022 mẫu phân lợn
kiểm tra có 805 mẫu phân lợn nhiễm giun đũa , tỷ lệ nhiễm chung là 39,81%
trong đó cường độ nhiễm nặng và rất nặng chiếm 11,92%.
Nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến tình hình nhiễm giun sán trên
đàn lợn tại một số địa phương vùng đồng bằng Sông Hồng, Trần Văn Quyên
và cs (2008) [16] cho biết: xét nghiệm 221 mẫu phân lợn tại một số địa
phương, kết quả cho thấy lợn nhiễm giun đũa với tỷ lệ 22,4 - 37,3%.
Theo Nguyễn Xuân Bình (2005) [1] biện pháp phòng và trị bệnh giun đũa
đối với lợn con từ sơ sinh đến 2,5 tháng tuổi phải tẩy giun một lần. Sau 2 - 3

Lợn có thể bị nhiễm số lượng giun đũa khác nhau. Ở lợn 2 - 5 tháng
tuổi, giun gây tiêu chảy, giảm cân, gây viêm phổi, gây ho và có thể gây nhiễm
trùng phổi do ấu trùng di hành mang vi khuẩn vào, lợn con có thể chết. Bề
mặt gan của lợn bệnh có các đốm trắng hay còn gọi là điểm hoại tử .
Theo Anderdahl (1997) [25] nếu cho lợn nhiễm trứng giun đũa, sau 5
ngày cho nhiễm bệnh suyễn thì bệnh tích gây ra ở phổi rộng gấp 10 lần so với
lợn chỉ bị nhiễm bệnh suyễn.
Johanes Kaufman (1996) [30] cho biết, sự lây nhiễm giun đũa cho lợn
con có thể được ngăn chặn bằng cách điều trị cho lợn mẹ trước khi đẻ.

16
Bezimidazle, Febatel và Levamisol có tác dụng hữu hiệu để chống lại sự lây
nhiễm. Ivermectin (30 microgam/kg TT) dùng cho lợn trưởng thành, dùng
trước khi đẻ 1 - 2 tuần có thể kiểm soát được sự lây nhiễm cho lợn con sau
khi sinh.
Mixinkova E.A. (1977) [26] đã chứng minh hiệu quả thụt formalin
0,5% với liều 200ml cho lợn nặng 120 - 140 kg. Chữa bằng formalin nên tiến
hành ở chỗ nhốt đặc biệt, nền chuồng nghiêng 30 - 40
o
, đầu lợn thấp hơn phần
thân sau, như vậy thuốc được ngấm nhiều nhất trong ruột, tức ngấm nhiều chỗ
giun sán ký sinh.
Bowman D.D (1995) [28], cho biết: Các phương pháp miễn dịch như
phương pháp ngưng kết (SAT), phương pháp ELISA, phương pháp huỳnh
quang gián tiếp (IFAT) cũng được dùng trong chẩn đoán bệnh ký sinh trùng.
- Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun đũa theo tuổi lợn
- Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun đũa theo giống lợn
- Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun đũa lợn theo tình trạng vệ sinh thú y
- Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun đũa lợn theo mùa vụ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status