ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
---------------------
NGUYỀN HỮU ĐẠT
Tên đề tài:
“NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ
BỆNH CẦU TRÙNG Ở BÊ, NGHÉ (COCCIDIOSIS)
NUÔI TẠI HUYỆN ĐỒNG HỶ - TỈNH THÁI NGUYÊN
VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG TRỊ”
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo
: Chính quy
Chuyên ngành
: Thú y
Khoa
: Chăn nuôi Thú y
Lớp
: TY - K41
Khoá học
mong được sự đóng góp quý báu của các thầy, cô giáo và các bạn để bản khóa
luận của em được đầy đủ và hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn !
Thái Nguyên,ngàytháng năm 2013
Sinh viên
Nguyễn Hữu Đạt
MỤC LỤC
Phần 1: MỞ ĐẦU ......................................................................................... 1
1.1. ĐẶT VẤN ĐỀ .................................................................................... 1
1.2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU .............................................................. 2
1.3. MỤC ĐÍCH ĐỀ TÀI .......................................................................... 2
Phần 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU .............................................................. 3
2.1. CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI ................................................... 3
2.1.1. Đặc điểm sinh học của cầu trùng .......................................................... 3
2.1.2. Dịch tễ học bệnh cầu trùng..................................................................10
2.1.3. Đặc điểm bệnh lý và lâm sàng của bệnh............................................14
2.1.4. Chẩn đoán bệnh cầu trùng ...................................................................17
2.1.5. Phòng trị bệnh cầu trùng cho bê nghé ................................................18
2.2. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC ........... 20
2.2.1. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài ...................................................20
2.2.2. Tình hình nghiên cứu ở trong nước ....................................................21
Phần 3: ĐỐI TƯỢNG, VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU ........................................................................................... 23
3.1. ĐỐI TƯỢNG VÀ VẬT LIỆU NGHIÊN CỨU ............................... 23
3.1.1. Đối tượng nghiên cứu ..........................................................................23
3.1.2. Vật liệu nghiên cứu ..............................................................................23
3.2. ĐỊA ĐIỂM VÀ THỜI GIAN NGHIÊN CỨU ................................. 23
4.2.4. Nghiên cứu sự ô nhiễm Oocyst cầu trùng ở khu vực chuồng nuôi và
xung quanh chuồng nuôi bê, nghé .....................................................................40
4.3. NGHIÊN CỨU VAI TRÒ CỦA CẦU TRÙNG TRONG HỘI
CHÚNG TIÊU CHẢY Ở BÊ, NGHÉ VÀ TRIỆU CHỨNG LÂM SÀNG
CỦA BỆNH ............................................................................................. 41
4.4. NGHIÊN CỨU BIỆN PHÁP PHÒNG TRỊ BỆNH CẦU TRÙNG
CHO BÊ, NGHÉ ..................................................................................... 44
4.4.1. Nghiên cứu công thức ủ phân để tăng khả năng sinh nhiệt .............44
4.4.2. Hiệu lực của thuốc điều trị cầu trùng cho bê, nghé...........................48
4.4.3. Đề xuất biện pháp phòng trị bệnh cầu trùng cho bê, nghé ...............53
Phần 5 ......................................................................................................... 54
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ ........................................................................ 54
5.1. KẾT LUẬN ...................................................................................... 54
5.2. ĐỀ NGHỊ .......................................................................................... 54
TÀI LIỆU THAM KHẢO ......................................................................... 55
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 4.1. Các loài cầu trùng ký sinh ở bê, nghé tại tỉnh Thái Nguyên ........... 32
Bảng 4.2. Tỷ lệ nhiễm cầu trùng bê, nghé tại 3 xã .......................................... 34
Bảng 4.3. Tỷ lệ và cường độ nhiễm cầu trùng theo tuổi bê, nghé ................... 36
Bảng 4.4. Tỷ lệ và cường độ nhiễm cầu trùng theo các tháng trong thời
gian thực tập...................................................................................... 38
Bảng 4.5. Sự ô nhiễm Oocyst cầu trùng ở chuồng và khu vực xung
quanh chuồng nuôi bê, nghé ............................................................. 40
Bảng 4.6: Tỷ lệ bê, nghé tiêu chảy trong số bê, nghé nhiễm cầu trùng ........... 41
Bảng 4.7. Tỷ lệ và cường độ nhiễm cầu trùng ở bê, nghé bình thường.......... 42
Bảng 4.9. Khả năng sinh nhiệt và tác dụng diệt Oocyst cầu trùng của
công thức ủ II .................................................................................... 45
kinh tế - xã hội. Do đó, chăn nuôi trâu bò có nhiều cơ hội phát triển.
Chăn nuôi trâu, bò cung cấp cho con người hai loại thực phẩm có giá
trị cao và hoàn chỉnh về dinh dưỡng, đó là thịt và sữa. Trâu, bò là những
gia súc nhai lại có khả năng biến thức ăn thực vật rẻ tiền như cây cỏ, rơm rạ
thành hàng trăm dưỡng chất khác nhau tích lũy để tạo ra thịt, sữa.
Hiện nay, ngành chăn nuôi trâu bò nước ta vẫn đang phải đối mặt với
không ít khó khăn, trong đó có vấn đề dịch bệnh. Ngoài các bệnh truyền
nhiễm thì bệnh ký sinh trùng cũng là một trong những nguyên nhân làm
giảm năng suất chăn nuôi. Ký sinh trùng ký sinh trên cơ thể trâu, bò, chiếm
đoạt chất dinh dưỡng làm cho vật nuôi gầy còm, ốm yếu. Một trong những
bệnh ký sinh trùng thường xảy ra đối với đàn bê, nghé là bệnh cầu trùng
(Coccidiosis).
Bệnh cầu trùng ở bê, nghé là bệnh ký sinh trùng đường tiêu hóa với
các biểu hiện đa dạng: ẩn, cấp tính, mãn tính, rối loạn tiêu hóa, thiếu máu ,
gầy yếu... Bệnh do 6 loài cầu trùng ký sinh ở ruột già gây ra: E. zuernni, E.
bovis, E. smithi, E. elipsoidalis, E. cylindrica, E. bukidnonensis. (Kolapxki
N. A. và cs,1980 [31]).
Huyện Đồng Hỷ - tỉnh Thái Nguyên là một huyện miền núi với đa
phần dân số làm nông nghiệp. Sự phát triển nhanh đàn trâu, bò ở huyện
Đồng Hỷ - tỉnh Thái Nguyên trong những năm gần đây đã góp phần quan
2
trọng trong việc nâng cao hiệu quả kinh tế và cải thiện đời sống của nhiều
hộ chăn nuôi trong huyện.
Ở Việt Nam đã có một số công trình nghiên cứu về bệnh cầu trùng
bê, nghé như các công trình nghiên cứu của Lê Văn Năm (2004) [17];
Phạm Sỹ Lăng và cs (2002) [12]. Bệnh cầu trùng bê, nghé cũng như tất
cả các bệnh ký sinh trùng khác, sự lây lan phụ thuộc vào các yếu tố
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI
2.1.1. Đặc điểm sinh học của cầu trùng
2.1.1.1. Vị trí của cầu trùng trong hệ thống phân loại động vật học
Cầu trùng là động vật đơn bào có hình tròn, hình trứng, hình bầu dục
(phụ thuộc vào từng loài cầu trùng). Cầu trùng ký sinh chủ yếu ở tế bào
biểu mô ruột của nhiều loài gia súc, gia cầm và cả ở người. Phân loại cầu
trùng ở gia súc, gia cầm, chủ yếu dựa vào đặc điểm về hình thái, kích
thước, màu sắc, vị trí ký sinh, thời gian sinh bào tử.
Levine N. (Ed) (1985) [41], Daugschies A. và Njadrowski M. (2005)
[34], Ajayi J. A. (2004) [33] cho biết, cầu trùng ký sinh ở bê, nghé có vị trí
trong hệ thống phân loại như sau:
Giới Protista
Ngành Myzozoa
Phân ngành Apicomplexa
Lớp Conoidasida
Phân lớp Coccidiasina
Bộ Eucoccidiorida
Phân bộ Eimeriorin
Họ Eimeriidae
Giống Eimeria
Loài Eimeria alabamemsis Christiensen, 1941
Loài Eimeria auburnensis Christiensen and Porter, 1939
Loài Eimeria bovis Christiensen, 1941
Loài Eimeria brasisliensis Torres and Ramos, 1939
Loài Eimeria bukidnonensis Tubangui, 1931
4
sinh bào tử là 2 - 3 ngày. Cầu trùng phát triển nội sinh trong các tế bào mô
liên kết lớp nhung mao, đoạn dưới của ruột non.
- Eimeria brasisliensis (Torres and Ramos, 1939): Oocyst có hình elip,
màu nâu vàng, có 1 - 2 lớp vỏ, có lỗ noãn và nắp. Kích thước 34 - 43 x 24 30 µm, trung bình là 35,5 x 27 µm. Kích thước của Sporocyst 16 - 22 x 7 10 µm. Thời gian hình thành bào tử là 6 - 7 ngày, trong bào tử có thể cặn.
- Eimeria bukidnonensis (Tubangui, 1931): Oocyst hình quả lê, màu
nâu sẫm hay nâu vàng. Vỏ Oocyst có hai lớp, lớp ngoài dày và lớp bên
trong mỏng, Lee R. P. (1959) mô tả lớp vỏ mỏng này giống như những vằn
sọc. Lớp vỏ dày 2 - 4 µm. Kích thước nang trứng 47 - 50 x 33 - 38 µm.
Kích thước của Sporocyst 12 - 21 x 9 - 12 µm. Micropyle rộng từ 3,5 - 7
µm. Thời gian hình thành bào tử 4 - 7 ngày, đôi khi đến 17 ngày. Loài này
phát triển nội sinh trong màng niêm mạc ruột non.
- Eimeria canadensis (Bruce, 1921): Oocyst hình elip, kích thước 28 37 x 20 - 27 µm, màu vàng nâu. Micropyle là một khoảng kín, rất khó nhìn
thấy ở trên một đầu, được bao phủ bởi một đường phản xạ tối. Sporocyst có
kích thước 15 - 22 x 7 - 10 µm. Thời gian hình thành bào tử là 3 ngày.
- Eimeria cylindrica (Wilson, 1931): Oocyst hình trụ, kích thước 16 27 x 12 - 15 µm, trung bình 23,3 x 13,3 µm, không có màu, có 1 lớp vỏ
dày. Kích thước của Sporocyst 12 - 16 x 4 - 6 µm, không có Micropyle và
thể cặn. Thời gian sinh bào tử là 2 ngày.
- Eimeria ellipsoidalis (Becker and Frye, 1929): Oocyst hình elip hay
bầu dục, màu phớt hồng hoặc không màu, có 1 - 2 lớp vỏ, kích thước 20 26 x 13 - 17 µm, trung bình là 23,4 x 15,9 µm. Lỗ noãn không rõ, không có
thể cặn trong bào tử và nang trứng. Sporocyst có kích thước 9 - 16 x 7 - 15
µm. Thời gian hình thành bào tử là 2 - 3 ngày. Cầu trùng phát triển nội sinh
trong màng niêm mạc ruột già.
6
- Eimeria pellita (Supperer, 1952): Oocyst hình trứng, tương đối dày,
có màu nâu sẫm, kích thước 36 - 41 x 26 - 30 µm. Kích thước của
Sporocyst 17 - 20 x 7 - 9 µm. Có lỗ noãn và thể cặn. Thời gian hình thành
từng loài. Tuy nhiên, phần lớn Oocyst cầu trùng có đặc điểm cấu tạo như sau:
Oocyst màu vàng nâu, vàng chanh hoặc nâu hạt, không màu. Vỏ
thường có 2 lớp: lớp vỏ ngoài dày, vỏ trong mỏng. Hai lớp vỏ ngoài và vỏ
trong có thể tách rời nhau dưới tác động của acid H2SO4 đặc hoặc bằng
cách làm nóng Oocyst trong nước (Monne và Honin, 1954).
Về cấu tạo hoá học: vỏ ngoài là lớp quinone protein, vỏ trong là lớp
lipit kết hợp với protein để tạo thành khúc xạ kép (lipoprotein). Nghiên cứu
về bản chất hoá học của thành phần Oocyst, Ryley J. F. (1976)[43] cho
biết: lớp ngoài của vỏ Oocyst chiếm 20%, có chứa carbohydrat và một
protein đặc trưng. Nyberg P. A. và Knapp S. E. (1976) khi quan sát trên
kính hiển vi điện tử thấy lớp ngoài của vỏ Oocyst có thể bị khử bằng dung
dịch sodium hypochlorid 2 - 3% trong 15 phút. Scotish R. L., Wang C. C.
và Mayenhofer (1978) nghiên cứu về bản chất hoá học của thành Oocyst
qua xử lý bằng sodium hypochlorid 5% cho rằng, chất này không tác động
được đến màng Oocyst còn nguyên vẹn mà chủ yếu tác động đến
Micropyle. Lớp trong của vỏ Oocyst chiếm 80%, gồm: một lớp
glycoprotein (dày 90 µm), được bao bọc bởi một lớp lipit dày (10 µm). Lớp
lipit chủ yếu là phospholipit, chính lớp này bảo vệ Oocyst cầu trùng chống
lại sự tấn công về mặt hoá học. Một số loài cầu trùng ở phía đầu nhỏ của
Oocyst có một nắp khúc xạ, gọi là Micropyle (lỗ noãn). Micropyle là vị trí
có khe hở của màng bao quanh Macrogamete khi thụ tinh, sau thụ tinh thì
khe hở đóng lại, vì vậy nhiều loài không thấy Micropyle nữa.
2.1.1.4. Chu kì sinh học của cầu trùng bê, nghé
Cầu trùng ký sinh ở bê nghé là những cầu trùng giống Eimeria. Đây
là những ký sinh trùng có giai đoạn sinh sản vô tính và hữu tính diễn ra
trong cùng một ký chủ, được đặc trưng bằng ba giai đoạn phát triển: sinh
8
9
* Giai đoạn sinh sản hữu tính (Gametogony)
Giai đoạn sinh sản hữu tính bắt đầu từ thể phân lập thế hệ cuối cùng
của cầu trùng. Từ thể phân lập cuối cùng chúng xâm nhập vào tế bào biểu
bì ký chủ để biến thành những thể sinh dưỡng và phát triển thành các giao
tử đực, giao tử cái. Giao tử cái (Macrogametocyte) có nhân rất to, chứa
nhiều chất dinh dưỡng, chuyển động nhanh nhờ 2 lông roi. Qua lỗ noãn
(Micropyle) của giao tử cái, giao tử đực chui vào và thực hiện quá trình thụ
tinh, tạo hợp tử. Hợp tử được bao bọc bởi một lớp màng bọc, lúc này nó
được gọi là noãn nang (Oocyst). Noãn nang có hình bầu dục, gần tròn, hình
elip, hình thoi hay quả lê (phụ thuộc vào từng loài). Đến đây, các Oocyst
rơi vào lòng ruột và kết thúc giai đoạn sinh sản hữu tính.
* Giai đoạn sinh sản bào tử (Sporogony)
Trong điều kiện thiên nhiên khắc nhiệt hoàn toàn khác với môi trường bên
trong cơ thể ký chủ, các noãn nang muốn tiếp tục duy trì sự sống buộc phải
thích nghi với điều kiện mới, trong điều kiện đó nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng,
không khí,...luôn thay đổi. Noãn nang tự bảo vệ bằng cách nhanh chóng tạo ra
vỏ cứng, dày, gồm 1 - 2 lớp với màu sắc khác nhau tuỳ thuộc vào chủng cầu
trùng. Sau đó, trong mỗi noãn nang hình thành 4 túi bào tử có hình bầu dục,
xung quanh mỗi nguyên bào tử lại được bao bọc một lớp màng mỏng và trở
thành túi bào tử. Trong mỗi túi bào tử, nhân của tế bào lại chia đôi về hai phía,
được ngăn cách bởi một màng mỏng nữa để trở thành thể bào tử có hình lưỡi
liềm, gọi là bào tử con.
Như vậy, trong quá trình sinh sản bào tử, đối với cầu trùng thuộc giống
Eimeria, trong mỗi Oocyst tạo ra 4 túi bào tử, trong mỗi túi bào tử chứa 2 bào
tử con. Tất cả 8 bào tử con được bao bọc xung quanh bởi một vỏ cứng dày gồm
2 lớp, gọi là bào tử nang (Oocyst gây bệnh). Chỉ có các Oocyst sau khi trở thành
Oocyst gây bệnh mới có khả năng gây bệnh và truyền bệnh từ gia súc này sang
gia súc khác (Kolapxki N. A. và cs, 1980 [31]).
2.1.2.1. Phân bố của bệnh
Bệnh thường gặp ở tất cả các châu lục trên thế giới. Bệnh cầu trùng
thường phát sinh khi vi phạm chế độ nuôi dưỡng, đặc biệt là khi di chuyển
bê nghé từ chuồng nuôi ra đồng cỏ và ngược lại.
11
Nghiên cứu về mùa phát sinh bệnh cầu trùng, Joyner L. P. và cs (1966)
[37] cho biết: bệnh thường lây lan và phát triển trong những tháng nóng ẩm,
mưa nhiều từ mùa hè đến mùa thu. Thời kỳ này, thời tiết nóng ẩm làm cho
noãn nang cầu trùng dễ dàng phát triển đến giai đoạn cảm nhiễm ngay trên
nền chuồng và bãi chăn thả. Khi mưa xuống, nước mưa sẽ mang noãn nang
cảm nhiễm ra các khu vực phụ cận, làm ô nhiễm môi trường chăn nuôi.
Gobzem V. R. (1972) (dẫn theo Kolapxki N. A. và cs, 1980 [31]), khi
theo dõi bệnh cầu trùng bê nghé ở thời kỳ nuôi chuồng, thấy tỷ lệ nhiễm
bệnh tới 25%. Bệnh thường có nhiều hơn vào các năm có mùa hè nóng và
độ ẩm cao, mùa thu ẩm ướt, mưa nhiều.
Cũng theo tác giả trên, ở Belaruxia thường thấy bê ít bị nhiễm bệnh
vào tháng 3, tháng 4, tỷ lệ nhiễm cao hơn vào các tháng từ tháng 5 đến
tháng 9; cường độ nhiễm bệnh phụ thuộc vào loài cầu trùng; tác giả xác
định rằng, cường độ nhiễm cầu trùng loài E. bovis và tỷ lệ nhiễm mạnh
nhất ở bê, lứa tuổi 40 - 45 ngày khi bê nuôi thiếu vệ sinh, bê bị nhiễm ở lứa
tuổi 60 - 100 ngày trong điều kiện nuôi dưỡng tốt và có đủ thức ăn. Ở bê 30
ngày tuổi, thấy trong phân có Oocyst loài E. bovis và E. ellipsoidalis; ở bê
2,5 - 3 tháng thấy loài E. cylindrica và E. zuernii. Mức độ nhiễm E.
bukidnonensis ở bê không cao lắm trong thời gian chăn nuôi bê trên
đồng cỏ.
Người ta cũng quan sát thấy bê nghé thường phát bệnh vào những thời
kỳ chuyển vụ: từ mùa thu sang mùa đông, khi thời tiết thay đổi, từ ấm ấp
Khi con vật bệnh thải Oocyst cầu trùng qua phân, Oocyst được phát
tán trên khắp nền chuồng, máng ăn và dụng cụ chăn nuôi, từ đó con vật
trực tiếp nuốt phải Oocyst do chính chúng thải ra.
Dụng cụ chăn nuôi, người chăn nuôi, giầy, dép, ủng, phương tiện
vận chuyển cũng đóng vai trò quan trọng trong việc mang Oocyst cầu
trùng từ nơi khác vào chuồng chăn nuôi gia súc, gia cầm, hoặc từ ô
13
chuồng này sang ô chuồng khác (vật nuôi nhiễm Oocyst do những con
vật ở nơi khác thải ra).
Đường lây nhiễm chủ yếu của bệnh cầu trùng là qua hệ thống tiêu hoá.
Bê, nghé nuốt phải noãn nang có sức gây bệnh trong thức ăn, nước uống,
dụng cụ chăn nuôi sẽ bị nhiễm cầu trùng. Các loài cầu trùng có độc lực gây
bệnh nặng hay nhẹ tuỳ thuộc vào độc lực của loài cầu trùng mà chúng cảm
nhiễm và sự chăm sóc, nuôi dưỡng của người chăn nuôi (Phạm Sỹ Lăng và
cs, 2003 [13], 2006 [14]).
Vai trò mang và truyền Oocyst cầu trùng đã được một số tác giả đề cập.
Theo tài liệu của Lê Văn Năm (2004) [18], chuột, chó, mèo, chim sẻ
và một số côn trùng có thể mang Oocyst từ đàn gia súc này sang đàn gia
súc khác, từ chuồng này sang chuồng khác.
Phạm Văn Khuê và cs (1996) [9] cho biết, khi Oocyst bị nuốt vào
đường tiêu hoá của ruồi, chúng vẫn còn khả năng gây bệnh trong 24 giờ.
- Các yếu tố stress: Điều kiện chuồng trại chật trội, thức ăn kém dinh
dưỡng, thiếu sữa, nhiệt độ môi trường thay đổi, con vật đang mắc các bệnh
ký sinh trùng khác hoặc các bệnh truyền nhiễm mãn tính...đều làm sức đề
kháng của con vật giảm, dễ nhiễm cầu trùng và dễ bị bệnh.
2.1.2.3. Tuổi vật chủ, mùa mắc bệnh
* Ảnh hưởng của lứa tuổi đến tỷ lệ nhiễm cầu trùng
2.1.3. Đặc điểm bệnh lý và lâm sàng của bệnh
2.1.3.1. Đặc điểm bệnh lý
Phạm Văn Khuê và cs (1996) [9] cho biết, cầu trùng xâm nhập vào tế
bào biểu mô ruột gây tổn thương lan tràn niêm mạc ruột, từ đó một số
lượng lớn tế bào biểu mô, lớp dưới niêm mạc, các mạch quản, thần kinh bị
phá huỷ, tạo điều kiện thuận lợi cho các vi sinh vật phát triển và xâm nhập
vào cơ thể.
Đề cập đến quá trình sinh bệnh học của bệnh cầu trùng, Kolapxki N.
A. và cs (1980) [31], Ajayi J. A. (2004) [33] đều thống nhất rằng: trong
màng niêm mạc ruột, cầu trùng phát triển mạnh bằng phương thức sinh sản
vô tính và làm cho hàng loạt tế bào biểu mô bị phá huỷ. Người ta xác định
15
rằng, một con vật mắc bệnh cầu trùng thải ra môi trường bên ngoài hàng
ngày từ 9 triệu đến 980 triệu Oocyst. Điều đó tương ứng với, trong cơ thể
con vật ốm, hàng ngày có trên 500 triệu tế bào biểu mô ruột bị phá huỷ.
Không những chỉ các tế bào bị cầu trùng ký sinh, mà hình như cả những tế
bào bên cạnh, những mao quản và mạch quản bị phá huỷ. Sự phá huỷ hàng
loạt tế bào của ký chủ làm cho tính toàn vẹn của vách ruột bị tổn thương.
Những vùng ruột bị huỷ hoại làm cho nhiều đoạn ruột không tham gia được
vào quá trình tiêu hoá, làm cho con vật thiếu dinh dưỡng dai dẳng, dẫn đến
sự phù nề các cơ quan và mô bào. Quá trình bệnh thường thể hiện máu
loãng, mạch đập chậm. Sự sinh sản mạnh của cầu trùng trong niêm mạc
ruột và sự phá huỷ các tế bào biểu mô ruột, dẫn tới hậu quả là, trên các
vùng tế bào bị chết, hệ vi khuẩn gây mủ sinh sản, làm nặng thêm quá trình
viêm ruột, gây rối loạn chức năng hấp thụ và nhu động của ruột, dẫn đến
con vật ỉa chảy.
Theo Kolapxki N. A. và cs, 1980 [31], tác động quá trình gây bệnh
Ở thể á cấp tính, trạng thái mệt mỏi biểu hiện ít hơn, bê nghé hay nằm
hơn, ăn ít, nhai lại yếu, phân loãng có chất nhày. Tới ngày thứ 7, thứ 8 bê
nghé bắt đầu ỉa chảy nhưng không có máu. Con vật gầy, bệnh tiến triển dai
dẳng và kéo dài.
Thể mãn tính, thấy ở những bê nghé tuổi lớn hơn và thường ở trâu bò
trưởng thành. Ở các cơ sở chăn nuôi kém, thể bệnh này xảy ra thường xuyên.
Gia súc gầy yếu, ỉa chảy lặp đi lặp lại có tính chất chu kỳ, phân nhiều nước có
lẫn bọt khí, chất nhày và thường có máu ẩn. Con vật kém ăn, màng niêm mạc
tái nhợt. Bê nghé sinh trưởng và phát dục kém, thậm chí giảm khối lượng cơ
thể. Thể mãn tính của bệnh cầu trùng kéo dài làm cho cơ thể bê nghé yếu, tạo
điều kiện thuận lợi cho các bệnh truyền nhiễm phát sinh.
2.1.3.3. Bệnh tích của bệnh cầu trùng
Xác gầy rộc. Các màng niêm mạc đều trắng nhợt, vùng chân sau và
đuôi, lông dính đầy phân bẩn, hậu môn mở, niêm mạc hậu môn phù, ứ máu
và thường xuất huyết.
17
Xoang bụng chứa đầy dịch màu vàng rơm. Các mạch máu màng treo
ruột căng phồng. Hạch bạch huyết màng treo ruột tăng sinh, cắt ra thấy
màu xám, mọng nước. Màng niêm mạc tá tràng và ruột non bị phù, sung
huyết có những chấm hay vệt xuất huyết, trong xoang ruột già, có nhiều
đám màu xám lẫn máu. Niêm mạc ruột già thủy thũng, có nhiều đám hoặc
nhiều điểm hay vạch xuất huyết, có thể có nhiều chỗ xuất huyết khác nhau.
Niêm mạc manh tràng và đặc biệt là trực tràng dày lên, thâm nhiễm, dễ bóc và
có nhiều điểm sung huyết; các hạch bạch huyết tăng sinh bằng đầu ngón tay,
nhô ra thành từng cục u lồi màu xám. Đôi khi màng niêm mạc manh tràng và
trực tràng có những vết loét, phủ đầy bã đậu. Chất chứa trong phần ruột này
màu nâu tối hay màu đỏ máu.
sẫm, trong đó bao giờ cũng thấy rất nhiều Oocyst cầu trùng.
2.1.4.2. Chẩn đoán thí nghiệm
Sử dụng phương pháp phù nổi Fullerborn
- Nguyên lý: Lợi dụng tỷ trọng của dung dịch bão hòa lớn hơn tỷ
trọng của Oocyst cầu trùng để Oocyst nổi trên bề mặt dung dịch
- Cách tiến hành: Lấy 5-10g phân tươi cho vào cốc thủy tinh, dung
đũa thủy tinh nghiền nát, vừa nghiền vừa đổ 50-60ml dung dịch nước muối
bão hòa vào, sau đó lọc qua lưới lọc để lại cặn bã thô, lấy nước lọc cho vào
lọ nhỏ sao cho đầy lên đến miệng, đặt phiến kính lên miệng lọ sao cho tiếp
xúc với phần nước đã lọc, để yên 15 phút rồi nhẹ nhàng lấy phiến kính ra
soi trên kính hiển vi.
2.1.5. Phòng trị bệnh cầu trùng cho bê nghé
2.1.5.1. Điều trị
Lê Văn Năm (2004) [18], đã giới thiệu 11 nhóm thuốc và hoá chất có
khả năng điều trị bệnh cầu trùng, bao gồm các thuốc sau:
- Nhóm hợp chất chứa Nitrofura
- Nhóm Pyrinidin
- Nhóm Arsen
19
- Nhóm Nitrocarbanil.
- Nhóm Dinitrobenzamid.
- Nhóm Chinolin và các dẫn xuất: gồm có Buquinolat (Antagonal),
Decoquinat, Nequinat (Methyl benzoquat).
- Nhóm Pyrimidim và các dẫn xuất: Rigecoccin (Clopydol, Coyden,
Methyclopydol, Methylchlorpyndol...). Khi Rigecoccin kết hợp với
Chlortetracyclin thì tác động tốt hơn nhiều.
- Nhóm Guanidin và dẫn xuất: đại diện là Robenidin (Robensiden).