MỞ ĐÀU
1. Lí do chọn đề tài
Lựa chọn đề tài Sự vận động của thơ tình Việt Nam qua hai thế hệ nhà thơ
nữ (từ Xuân Quỳnh, Phan Thị Thanh Nhàn tới Vi Thùy Linh, Phan Huyền Thư)
cho Luận văn của mình, chúng tôi xuất phát từ những lí do sau:
Thứ nhất, thơ tình là mảng đề tài hấp dẫn đối với các nhà thơ ở mọi thời đại.
Bởi tình yêu là một thứ tình cảm thiêng liêng, cao đẹp và là nguồn đề tài bất tận của
thi ca. Hơn nữa, ở các nhà thơ nữ, với trái tim và tâm hồn nhạy cảm riêng mang đặc
trưng phái tính lại có cách cảm nhận và thế hiện tình yêu trong thơ rất đặc biệt.
Có thể nói, đề tài tình yêu ở thời kì nào cũng có, nó xuất hiện dưới nhiều cách
thức biếu hiện khác nhau và ở mức độ khác nhau. Từ xa xưa, đã có rất nhiều bài ca
dao, dân ca cất lên tiếng nói của tình yêu đôi lứa và điều này được tiếp nối trong
dòng văn học trung đại. Phải cho đến thế kỉ XX, thơ tình mới được phát triển một
cách thực sự sâu rộng với những tên tuổi như Tản Đà, Xuân Diệu, Nguyễn Bính,
Hàn Mặc Tử, Sau đó là hàng loạt các nhà thơ trẻ xuất hiện, trong đó chiếm số
lượng không nhỏ là các cây bút nữ như Xuân Quỳnh, Ý Nhi, Phan Thị Thanh Nhàn,
Lâm Thị Mĩ Dạ, Anh Thơ, Vân Đài đã đem đến cho thơ ca nhiều tiếng nói trẻ
trung, sôi nối, đầy ắp những triết lý nhân sinh quan về con người, cuộc sống. Đặc
biệt, từ năm 1986, khi đất nước đã có nhiều đổi mới trên mọi bình diện thì đã ảnh
hưởng trực tiếp đến tư tưởng tình cảm và tư duy sáng tạo nghệ thuật của các văn
nghệ sĩ nói chung và các nhà thơ nữ nói riêng. Ở mảng thơ tình, sự xuất hiện của
các nhà thơ nữ đương đại như Phan Huyền Thư, Ly Hoàng Ly, Vi Thùy Linh, đã
nhanh chóng thu hút được sự chú ý của công chúng cũng như giới nghiên cứu, phê
bình bởi những tìm tòi táo bạo theo hướng hiện đại, đi sâu vào vấn đề bản thể con
người.
Như vậy, cùng với tiến trình lịch sử văn học dân tộc không ngừng tiếp diễn,
thơ ca nói chung và thơ tình nói riêng trong những thời kì khác nhau mang những
1
đặc điểm khác nhau. Xu hướng vận động của thơ tình (đặc biệt là thơ tình của các
tác giả nữ trong văn học Việt Nam hiện đại) cần được nhìn nhận và đánh giá một
cách khách quan, biện chứng trên cả hai bình diện: những mặt tiến bộ, đổi mới, phát
quan trọng vào khát vọng yêu, khát vọng hạnh phúc muôn đời của phụ nữ. Đặng
Tương Như có lần phát biểu: “Đọc thơ tình Phan Thị Thanh Nhàn thấy hiện lên một
phụ nữ yêu hết mình với một tình yêu không đòi hỏi đền đáp, bao giờ cũng lặng lẽ
hiến dâng, một tình yêu luôn giày vò, khắc khoải nhưng không bao giờ phản kháng
và oán trách”.
Thứ ba, thuộc vào thế hệ trẻ cầm bút, Vi Thùy Linh khi xuất hiện đã nhãrih
chóng trở thành một hiện tượng trong nên thi Cã Việt Nam đương đặi. Lớn lên vào
buổi những thi liệu đã quá già mà người đến với thơ bằng tấm lòng tươi trẻ hãy còn
thưa vắng, có lẽ vì thế Vi Thùy Linh không vin dựa vào truyền thống, không sống,
không viết “theo kiểu bầy đàn”. Chị không thể làm thay đổi cái bản thể đích thực
của mình để trở thành một người rụt rè trước những cái đã thành “phong tục”. Vi
Thùy Linh “dám mới”, thậm chí sốt sắng cải tạo tinh thần của thi ca. Dường như chị
không viết cái gì khác mình. Chị sống bằng chính con người thật của mình trên
trang giấy.
Người đọc thấy ở Vi Thùy Linh có cái “động” của một người thuộc thế hệ 8X,
mới mẻ và hiện đại. Trong tất cả các sáng tác của chị, chúng ta nhận thấy có rất
nhiều sự cố gắng nỗ lực để cách tân thơ ca trên mọi phương diện.
Tuy nhiên sự đối mới ấy đôi khi vẫn còn chưa thích nghi được ở cách cảm, cách
nghĩ của một số người. Nó mang đến nhiếu ý kiến trái chiều, gây nhiều tranh cãi
trong giới nghiên cún cũng như sự tiếp nhận của bạn đọc.
Thứ nữa là Phan Huyền Thư (1972), một nhà thơ nữ đương đại cũng “đình
đám” không kém và được xem là một gương mặt thơ nổi loạn và phá cách.
3
Sinh ra trong một gia đình làm nghệ thuật, mẹ là nghệ sĩ ưu tú Thanh Hoa, bố
là nhạc sỹ Phan Lạc Hoa, Phan Huyền Thư phần nào được thừa hưởng gen nghệ
thuật của những người sinh thành. Phan Huyền Thư được ví như “người nối dài sự
sống cho chữ” bởi theo chị “chữ cũng là thực thể sống, nó cũng trẻ, cũng già, cũng
ốm đau, xấu xí bệnh hoạn, điên rồ và cũng có lúc lăn đùng ra chết. Viết những điều
vô nghĩa là tạo ra một nghĩa địa chữ tôi muốn sự sinh nhiều hơn sự tử. Vì thế tôi
muốn đi tìm giá trị mới cho chữ”. Có lần chị phát biểu: ““Thi sĩ là một danh phận
đối mới, cách tân theo hướng tích cực; song bên cạnh đó, có những phương diện
“thoái lui”, đi quá giới hạn của những chuẩn mực thẩm mĩ, đạo đức xã hội và tâm lí
tiếp nhận của phần đông người Việt Nam ta.
Nhưng cần nhấn mạnh rằng, khi lựa chọn mảng thơ tình của Xuân Quỳnh,
Phan Thị Thanh Nhàn và Vi Thùy Linh, Phan Huyền Thư làm đối tượng khảo sát,
nghiên cứu, chúng tôi không có chủ đích coi đó là hai “cái mốc” trong sự vận động
của thơ tình các tác giả nữ trong văn học Việt Nam hiện đại. Chúng tôi lựa chọn
sáng tác của bốn nhà thơ này bởi chúng tiêu biếu cho “hai dòng phong cách, xu
hướng lớn” của việc sáng tác thơ tình ở hai thời kì: trước và sau Đổi mới.
2. Lịch sử nghiên cún vấn đề
Bên cạnh việc điểm lại những bài viết, những công trình nghiên cứu về thơ
Xuân Quỳnh, chúng tôi tạm chia lịch sử nghiên cứu về thơ Xuân Quỳnh thành hai
giai đoạn: trước và sau 1988
- Giai đoạn trước 1988:
Từ bỏ ánh hào quang trên sân khấu, cô diễn viên Xuân Quỳnh hầu như không
có một quá trình tu dưỡng về nghề thơ, không có gì hết ngoài trái tim biết yêu.
Nhưng chính trái tim ấy đã nói lên thành thơ và chị trở thành nhà thơ nữ lớn nhất
thế kỉ này của Việt Nam chỉ bằng trái tim chân thành và vô giá ấy.
5
Hon hai mươi năm cầm bút, thời gian không dài nhưng Xuân Quỳnh đã để lại
một số lượng tác phẩm không nhỏ (Khoảng 10 tập thơ và một số truyện viết cho
thiếu nhi). Từ tập thơ đầu tay “Chồi biếc” đến “Hoa cỏ may” là một chặng đường
thơ không ngừng nghỉ, luôn biết vươn lên trong hành trình khẳng định mình.
Tháng 6 năm 1987, trong cuộc gặp mặt các nhà thơ Á- Phi ở Liên Xô, Xuân
Quỳnh phát biểu: “Người ta làm thơ đầu tiên là để tự thể hiện, là một hành động
khắng định, rồi là một hành động khai sinh, đáp ứng như cầu sáng tạo, nhu cầu nối
liền mình với đồng loại, với các sự vật, vũ trụ và thời gian”. Xuân Quỳnh nói
“người ta” nhưng đế khắng định mình. Với chị làm thơ trước hết là để “tự thể hiện”.
Và thực sự trong cả cuộc đời cầm bút đầy ý nghĩa của mình, Xuân Quỳnh đã đem
đến cái bản ngã của người đàn bà táo bạo và mãnh liệt trong tình yêu để tạo nên dấu
nét, cởi mở hon thì thơ chị thực sự trở thành đối tượng thu hút sự chú ý đặc biệt của
giới phê bình, nghiên cún văn học. Sau khi tuyến thơ “Sân ga chiều em đi” ra mắt
bạn đọc, Vương Trí Nhàn trong “Bước đầu đến với văn học” đã đề cập đến vấn đề
thi pháp trong thơ Xuân Quỳnh. Ở góc độ này, tác giả đã phát hiện khá sâu sắc về
con người Xuân Quỳnh. Ngay từ “Chồi biếc”, mặc dù còn rất trẻ cả về tuổi đời lẫn
tuổi thơ, nhưng Xuân Quỳnh đã có ý thức rất sâu về thời gian. Theo năm tháng, ý
thức đó càng ngày càng rõ rệt, hằn lên trở thành cảm giác về sự biến đổi. Phát hiện
này của Vương Trí Nhàn ở thời điếm ấy rất quan trọng, sẽ mở ra một hướng tiếp cận
mới trong việc chiếm lĩnh thế giới nghệ thuật thơ Xuân Quỳnh.
Ớ giai đoạn trước 1988, so với các bạn cùng trang lứa, Xuân Quỳnh là cây bút
được chú ý nhiều nhất. Độc giả cũng như các nhà nghiên cứu thấy ở Xuân Quỳnh
có nhũng vần thơ mang nét tươi trẻ, hồn nhiên, biết đi tù' cái riêng đến cái chung để
từ cái chung lại trở về với cái của riêng mình.
Giai đoạn sau 1988
Ngày định mệnh 29/8/1988 đã kết thúc một cách nghiệt ngã cuộc đời và chặng
đường thơ hơn hai mươi năm của Xuân Quỳnh. Người ta chợt nhận ra răng một sợi
7
dây vô hình mãi bên vững gătt kêt cuộc đời chị với những gì chị để lại trong thơ.
Năm 1989, Nhà xuất bản Tác phấm mới cho ra đời cuốn “Thơ Xuân Quỳnh”.
Cuốn sách đã tập hợp một số bài viết về Xuân Quỳnh và chọn in một số bài thơ tiêu
biếu trong gia tài thơ chị để lại. Cuốn sách được làm trong sự tiếc thương, trân trọng
đối với một tài năng đang độ chín.
Sau cuốn sách là hàng loạt những công trình nghiên cứu về cuộc đời, chặng
đường thơ Xuân Quỳnh. Bên cạnh các công trình mang tính học thuật nghiên cún về
phong cách, đánh giá những thành tựu đóng góp cho thơ ca; những bài báo, tạp chí
đi sâu tìm hiểu về những tác phẩm cụ thể tiêu biểu; các cuốn sách tuyển chọn, tập
hợp các bài viết của các nhà nghiên cứu, bạn đọc yêu thơ còn thấy có các tập hồi kí,
các bài thơ viết về chị như một sự tưởng niệm, tri ân sâu sắc về Xuân Quỳnh.
Năm 1993, Nhà xuất bản Khoa học Xã hội xuất bản cuốn hồi ký của Đông Mai
- chị ruột của Xuân Quỳnh với nhan đề “Xuân Quỳnh - một nửa cuộc đời tôi”. Tập
huyền bí. Trái tim nồng nhiệt của một phụ nữ suốt đời khao khát tình yêu rất biết
nâng niu quý trọng niềm hạnh phúc đã có thật trong đời” [28, tr.35]. Đây là một
phát hiện rất xác đáng về con người Xuân Quỳnh trong thơ.
Đoàn Thị Đặng Hương với bài viết tuy ngắn gọn nhưng đã dựng được bức
phác thảo chân dung “Người đàn bà yêu và làm thơ” [28]. Với sự đồng cảm của tâm
hồn phụ nữ, người viết dường như nghe thấy trong những câu thơ của Xuân Quỳnh
hằn lên nỗi đau của một người đã sống hết mình, làm việc hết mình, yêu hết mình,
một niềm khát khao, một sự vật lộn với số phận để hiến dâng cho cuộc đời, cho
nghệ thuật. Cùng với những nhận xét sắc sảo, mang tính khái quát cao, tác giả còn
cho rằng Xuân Quỳnh là một trong tiếng thơ rất sớm của một người con gái, một
người đàn bà đã “chủ động yêu và đòi quyền được yêu” [28, tr.64].
9
Lại Nguyên Ân, Vương Trí Nhàn, Nguyễn Trọng Hoàn, mỗi người một cách
tiếp cận nhưng đều gặp nhau trong nhận xét: thơ tình yêu Xuân Quỳnh là niềm khao
khát yêu đương, khắc khoải kiếm tìm.
Như vậy, điểm lại tình hình nghiên cứu thơ Xuân Quỳnh ở trên, chúng ta thấy
ở mỗi công trình bài viết đều có một hướng khai thác khác nhau song đều có chung
một điểm đó là đề tài tình yêu, hạnh phúc đời thường, khát vọng tình yêu và giọng
điệu thơ nữ tính. Từ đó ta có thế khắng định rằng thơ Xuân Quỳnh có bản sắc riêng,
giọng điệu riêng được bắt nguồn từ một tài năng với một tâm hồn tinh tế, nhạy cảm.
Đối với Phan Thị Thanh Nhàn, lâu nay việc nghiên cứu về thơ của chị còn rất
hạn chế, dường như chưa có công trình nghiên cứu nào mang tính chất chuyên biệt
mà mới chỉ dừng lại ở những loại bài phân tích về từng bài thơ và loại bài tìm hiểu,
nghiên cứu về cả tập thơ, giai đoạn thơ.
Tập thơ đầu “Tháng giêng hai” của chị ra đời, in chung với Thúy Bắc năm
1969 đã nhận được cảm tình yêu mến của bạn đọc nhưng chưa có tiếng nói đánh giá
từ những người làm công tác nghiên cứu, phê bình.
Đen khi ba bài thơ Hương thầm, Xóm đê, Bản mới được giải nhì cuộc thi thơ
của báo Văn nghệ năm 1969-1970, thì Phan Thị Thanh Nhàn mới tạo được tình cảm
trong giới văn nghệ sỹ và để lại ấn tượng tốt đẹp trong lòng đông đảo độc giả. Nhà
Phan Thị Thanh Nhàn viết khá nhiều về thơ tình, theo năm tháng, những bài
thơ tình của chị có sự chuyên biến, từ nhẹ nhàng, ý nhị, tươi tắn chuyến sang giàu
tính trải nghiệm, suy tư, trăn trở nhưng độ lượng hơn. Nhưng dù thế nào, những bài
thơ của chị vẫn rất chân thành, gần gũi và vì thế chiếm được chỗ đứng trong lòng
bạn đọc.
Vi Thùy Linh “một hiện tượng của thơ ca Việt Nam hiện đại” và cũng là một
hiện tượng gây nhiều tranh cãi của văn học Việt Nam đương đại. Khi những bài thơ
đầu tay của chị ra đời và được đăng tải đã nhận được những luồng dư luận rất khác
nhau, thậm chí trái chiều nhau gay gắt, “người khen thì cổ vũ hết lời mà người chê
thì cũng bầm dập đến điều”. Việc tìm hiểu về thơ Vi Thùy Linh mới chỉ dừng lại ở
1
1
mức độ các bài viết mang tính nhận định, đánh giá chung về một số phương diện
trong sáng tác của chị (như vấn đề bản năng, chất libido, ) được đăng tải trên các
báo, tạp chí và các trang mạng.
Khi đọc KhẢt của Vi Thùy Linh, nhà thơ - nhạc sỹ Nguyễn Trọng Tạo đã cảm
nhận ở cô “cái tôi” đầy cá tính và sống động: “Một thiếu nữ đa tình?
Một phận ki ép đa đoan? Một tâm hồn dám sống? Là tất cả mà không là gì cả.
Mạnh mẽ, thành thật và tận hiển cho tình yêu, nghệ thuật. Thơ phóng sinh ỳ tưởng
ra ngoài gông cùm của thành kiến truyền kiếp, đập cánh quyết ỉiệt vào hiện đại.
Thơ phá tung cánh cửa vờ vĩnh che chắn trái tim trụy lạc, trưng cầu ảnh sáng. Đó
là Vi Thùy Lỉnh với tuyên ngôn “Không bao giờ hóa trang đế nhập vai người khác
”. Còn Nguyễn Việt Chiến khi đọc tập thơ này đã viết bài “Thơ Vi Thùy Linh cơn
cuồng lưu từ những mê - lộ - chữ” và nhận thây “V/ Thùy Lỉnh có một đời song
nong cháy đam mê và nhiều nỗi đau Trong những bài thơ định mệnh của mình, Vi
Thừy Lỉnh như là một người dệt tâm gai nhẫn nại đan dệt những cảm xúc của mình
với nỗi đau vô hình trong tay - ngôn - ngữ luôn bị trầy xước, rớm máu bởi những
nôi đau vổ hình trong thỉ ca và hữu hình trong tình yêu, đời sống con người ”.
Nhà phê bình văn học Phạm Xuân Nguyên khi đọc tập “Đồng tứ' thấy Linh là
“Người “tận lực tham ố tuổi trẻ ” để sống thơ” (Tạp chí Văn học số 9, 2005) “Vân
họ cũng có những cải cũ đế mà đoi thành mới. Nhiều thi sĩ thành danh đã dũng
cảm đập vỡ mình ra, rồi nhào lặn lại thành một gương mặt khấc, với một vẻ đẹp
hoàn toàn khác. Vỉ Thủy Lỉnh đâu phải thế. Chị sinh ra đã có gương mặt riêng,
tiếng nói riêng. Chị không có nợ nần gì với quá khứ, cũng ít tiếp nhận những giá trị
của quá khứ. Và trong tâm khảm tôi tin, Vi Thùy Linh cũng chang có ỷ thức quyết
tâm làm người tiên phong đoi mới thơ ca. Đoi với chị hình như đó là một việc rất
xa lạ. Chị chỉ song đúng như những gì mình có. Nghĩ theo cách của riêng mình. Roi
cất lên tiếng nói cũng của chính mình. Tât cả đêu hồn nhiên và giản dị Thơ Vỉ
1
3
Thủy Linh là thê. Ngon ngang và rậm rạp trong những suy nghĩ trăn trở của ngày
hôm nay Phải nói Vỉ Thùy Linh là người dũng cảm, tự tin. Thơ chị có nội lực. Chị
vin vào nội lực ấy mà đúng dậy trên hai chân của mình và sáng bằng nước mắt.
Đọc thơ chị, ta luôn có cảm giác rợn ngợp như đang đứng trước một ngọn núi lửa
mới tuôn trào với một sức mạnh không thế ngăn cản noi. Lan trong ngon ngang đất
dỏ, nham thạch là không ít những thỏi quặng quý”.
Với Phan Huyền Thư, cũng giống như Vi Thùy Linh, việc tìm hiểu về thơ chị
cũng chỉ dừng lại ở những bài viết theo nhận định, đánh giá chung hoặc những bài
phỏng vấn trên các báo và tạp chí, internet. Thế hệ của Phan Huyền Thư được đánh
giá là thế hệ trẻ hôm nay phân thân với cái tôi đầy mãnh liệt. Thơ Phan Huyền Thư,
nhất là mảng thơ tình yêu rất táo bạo, mạnh mẽ. Tìm hiếu về thơ chị, thấy rõ ở mỗi
thời đại có giọng thơ của mình. Cũng bởi, bản chất của thơ là không đứng lại. “Thơ
là nghệ thuật của từ, lịch sử thơ ca là lịch sử ngôn từ”(Zhirmunski). Vì vậy, chị
được ví như nhà thơ đang lao động trên cánh đồng chữ, đó là lao động căng thẳng,
hứng thú và sáng tạo. Khi mười một tuối, chị đã thích làm thơ lục bát, khi mười bốn
tuối thì làm thơ sonnet, đến mười bảy tuổi lại kiên quyết ra tay với thơ bậc thang
đang “mốt”, khi biết yêu thực sự thì lại mê thơ Đường luật, bây giờ thì thích thơ tự
do. Trong một bài phỏng vấn, chị cũng tâm sự; “Không làm thơ tôi mới bị mất cân
bằng bởi có quá nhiều điều mình muốn nói mà không nói ra được, quá nhiều điều
muốn làm mà không được phép làm. Vì thế tôi làm thơ là tôi được là mình mà
đại, vấn đề tính dục và việc thể hiện những khát khao nhục cảm một cách hăm hở,
khồng Iigần ngại trong thư của Vi Thùy Linh, Phan Huyền Thư. Bên cạnh việc ghi
nhận những tín hiệu mới, tích cực trong việc đối mới, cách tân thơ của họ, không
ít tác giả đã chỉ ra những điểm cực đoan trong nghệ thuật biểu hiện của Vi Thùy
Linh, Phan Huyền Thư.
Qua quá trình tổng hợp, thống kê và phân tích tư liệu, chúng tôi nhận thấy,
việc khảo sát mảng thơ tình của Xuân Quỳnh, Phan Thị Thanh Nhàn và Vi Thùy
Linh, Phan Huyền Thư - hai thế hệ tác giả với hai phong cách thơ hoàn toàn khác
biệt, tiêu biểu cho hai giai đoạn khác nhau của thơ ca Việt Nam hiện đại - trong
tương quan so sánh một cách có hệ thống cũng chưa được tiến hành một cách cụ
thể.
1
5
3. Mục đích nghiên cún
Thực hiện Luận văn này, chúng tôi hướng tới các mục đích cơ bản sau đây:
Thứ nhất, thấy được những điểm tương đồng, gặp gỡ trong cách thức cảm nhận,
thể hiện và viết về tình yêu của hai thế hệ - tiêu biểu cho “hai dòng
phong cách, hai xu hướng lớn” trong việc sáng tác thơ tình thời kỳ trước và sau Đổi
mới.
Thứ hai, thấy được sự khác biệt giữa thơ tình ở thế hệ trưởng thành trong thời
kì kháng chiến chống Mỹ và thế hệ các nhà thơ trẻ đương đại. Mục đích của luận
văn là tìm ra những phương diện kế thừa, phát triển cũng như những mặt hạn chế,
thoái lui của thơ tình các nhà thơ thuộc thế hệ nhà thơ trẻ đương đại nói chung so
với thơ tình của các cây bút thuộc thế hệ thời kháng chiến chống Mĩ nói chung.
Thứ ba, qua sự tìm hiểu, phân tích, so sánh đó để hình dung được một cách
khách quan hơn về xu hướng vận động, “diễn biến” của thơ ca Việt Nam hiện đại
nói chung và của thơ tình các tác giả nữ nói riêng.
4. Nhiệm yụ nghiên cún
4.1. Khám phá cái “tôi” trong thơ tình vận động từ nhuần nhị truyền thống
đến phá cách cố điển.
Lỉnh (Nxb Thanh niên, 2000).
Đồng tử (Nxb Văn nghệ, 2005).
Vili ìn love (Nxb Văn nghệ, 2008).
Phim đôi - Tình tự chậm (Nxb Thanh niên, 2010).
Thơ Phan Huyền Thư:
Nằm nghiêng (Nxb Hội Nhà văn, 2002).
Rỗng ngực (Nxb Văn học, 2005).
Ngoài ra, chúng tôi còn khảo sát, có sự liên hệ, đối chiếu với các sáng tác
của một số nhà thơ nữ khác như Lâm Thị Mĩ Dạ, Ý Nhi, Đoàn Thị Lam Luyến,
1
7
Dư Thị Hoàn, Ly Hoàng Ly,
6. Phương pháp nghiên cún
Chúng tôi đã sử dụng một số phương pháp nghiên cứu chính như sau:
- Phương pháp so sánh'. Được áp dụng ở nhiều cấp độ như: so sánh các tác
phẩm của cùng một tác giả ở các thời kì sáng tác khác nhau, so sánh các bài
thơ tình của Vi Thùy Linh, Phan Huyền Thư với các bài thơ tình của Xuân
Quỳnh, Phan Thị Thanh Nhàn, so sánh các sáng tác của Xuân Quỳnh, Phan
Thị Thanh Nhàn, Vi Thùy Linh, Phan Huyền Thư với sáng tác của các nhà
thơ cùng thế hệ,
- Phương pháp loại hình: Ket hợp cả hai phương thức cơ bản:
+ Phân loại các hiện tượng (hình ảnh, hình tượng, cách thức biếu hiện cái “tôi”
trữ tình, giọng điệu, trong thơ tình của Xuân Quỳnh, Phan Thị Thanh Nhàn và Vi
Thùy Linh, Phan Huyền Thư) trên cơ sở của việc chứng minh các nhóm hiện tượng
giống nhau theo một tiêu chuấn nào đó.
+ Chứng minh cho sự tồn tại của một loại hình văn học nhất định, biện hộ cho
sự tồn tại và hiệu quả thẩm mĩ của nó trong các sáng tác thơ ca về đề tài tình yêu
của bốn tác giả nữ (nhìn rộng ra là của các tác giả nữ thuộc thế hệ Xuân Quỳnh,
Phan Thị Thanh Nhàn và của các nhà thơ trẻ đương đại cùng thế hệ với Vi Thùy
Linh, Phan Huyền Thư).
chủ quan. Trong thơ, cái “tôi” trữ tình có một vị trí và ý nghĩa vô cùng quan
trọng, cái “tôi” trữ tình là hình thức tự ý thức của tác phấm trữ tình. Theo Lê Lưu
Oanh, trong cuốn “Cd/ tôi trữ tình trong thơ - Qua một số hình tượng thơ trữ tình
Việt Nam 1975-1990” đưa ra khái niệm: Theo nghĩa hẹp, cái “tôi” trữ tình là hình
tượng cái tôi, cá nhân cụ thể, cái tôi - tác giả - tiểu sử với những nét rất riêng tư;
là loại nhân vật trữ tình đặc biệt khi tác giả miêu tả, kế chuyện, biếu hiện về chính
mình. Theo nghĩa rộng, cái “tôi” trữ tình là nội dung, đối tượng, phẩm chất của
trữ tình. Còn theo Vũ Tuấn Anh, trong cuốn “Sự vận động của cái tôi trữ tình và
tiến trình thơ ca ” cũng chỉ ra: Cái “tôi” trữ tình đó là sự thể hiện một cách nhận
thức và cảm xúc đối với thế giới và con người thông qua lăng kính cá nhân của
chủ thể và thông qua việc tổ chức các phương tiện của thơ trữ tình, tạo ra một thế
giới tinh thần riêng biệt, độc đáo, mang tính thẩm mỹ nhằm truyền đạt năng
lượng tinh thần ấy đến với người đọc.
Có thể nói rằng “cái tôi trữ tình chính là sự tự ý thức của cái tôi được biếu
hiện trong nghệ thuật và bằng nghệ thuật, cái tôi của hành vi sáng tạo, là quan
niệm về cái tôi được biểu hiện thông qua các phương tiện trữ tình”.
Và như vậy, cái tôi trữ tình không đồng nhất và trùng khớp với cái tôi nhà
thơ mà là sự thể hiện toàn bộ đời sống tinh thần và tư duy sáng tạo nghệ thuật của
nhà thơ. Nó là kết quả của sự chọn lọc, kết tinh và thăng hoa những suy tư, cảm
xúc và trải nghiệm của cái tôi nhà thơ. Đặc biệt, ở thơ tình cái “tôi” chủ thể giữ
vai trò quan trọng, là chìa khóa tối cần thiết để người đọc giải mã những quan
niệm, khát vọng tình yêu cùng những bài học triết lý nhân sinh mà các nhà thơ
gửi gắm trong đó.
1.1.1. Thiên tính nữ nghiêng hắn về hy sinh, dâng hiến, vị tha trong tình
yêu
Với Xuân Quỳnh, những sáng tác viết về đề tài tình yêu là những sáng tác
thành công nhất của chị, nhà thơ bộc lộ tâm trạng thật trong mỗi bước vui buồn
của cuộc sống. Đó cũng là nơi Xuân Quỳnh nói lên được niềm vui, nỗi khổ của
chính mình trong cuộc hành trình kiếm tìm hạnh phúc. Tiếng nói ấy không chỉ là
lời bộc bạch cho bản thân tác giả mà đó còn là lời giãi bày thay cho nhũng ai
trữ tình táo bạo mãnh liệt mà không vấp váp vội vàng. Nồng nàn, đắm say, tha
thiết yêu và được yêu là thế, nhưng ở Xuân Quỳnh, tình yêu luôn đồng nghĩa vói
tấm lòng vị tha, sẵn sàng hi sinh và dâng hiến. Tình yêu với Xuân Quỳnh không
chỉ có những phút giây đắm say mà chị còn hướng đến “bao bọc người yêu trong
cái tình thương lớn mà một người đàn bà mạnh mẽ nhất, nhân hậu nhất mới có
thể có được” (Nguyễn Hòa Bình). Người đọc không khỏi chạnh lòng, xúc động
trước những câu thơ chân thành, sâu lắng của chị:
Ước chi làm chiếc nón che anh
Đêm gió lạnh em xin làm ngọn lửa
Ảo ướt ai phơi, balô ai xếp hộ
Mong sao trời ngừng mưa ỉ
{Không đề - Xuân Quỳnh)
Còn với Phan Thị Thanh Nhàn, cái tôi trữ tình cũng đắm say, khát khao yêu
thương, hạnh phúc không kém, thậm chí cũng luôn sẵn sàng hi sinh vì tình yêu.
Mang trong mình một trái tim đầy nhiệt huyết, yêu thương, một tấm lòng nhân
hậu, bao dung, tràn đầy nữ tính, Phan Thị Thanh Nhàn viết về tình yêu với rất
nhiều cung bậc khác nhau.
Anh ơiỉ Neu ví được cao xa như thế
Em cũng chang là trời đất gì đâu
Nhung anh có có biết không ? trời đất
Sẽ chang là gì nếu thiếu nhau.
(Trời và đất - Phan Thị Thanh Nhàn)
Số phận đã không cho chị cuộc sống bình yên. Cái thuở “hương thầm” chị
có một gia đình hạnh phúc. Chồng chị là cán bộ nghiên cứu, nhưng lại yêu văn
chương. Anh chị đã quen nhau từ lóp bồi dưỡng viết văn ở Quảng Bá. Đọc thơ
nhau, làm bạn với nhau rồi yêu nhau. Kỷ niệm ngọt ngào của tình yêu khiến chị
có những lời thơ trong trẻo. Vậy mà đã 30 năm có lẻ, chị phải một mình nuôi con.
Người chồng yêu thương ra đi khi chị còn quá trẻ, một mình vật lộn với cuộc
sống trong thời bao cấp để nuôi con khôn lớn. Nhiều lúc chị cũng thèm muốn,
khát khao:
điệu Thảo nguyên
Gió liếm vào gảy đêm một mùi cỏ thơm Của
sương âm thầm làm giọt Em là con ngựa đau
chang khiến tàu thèm bỏ cỏ Bờm roi tung vó ức
chăng đầy.
(Ngựa đêm - Phan Huyền Thư)
Phan Huyền Thư luôn khát khao biếu hiện cái tôi trước cuộc đời, cái tôi
bản thể mang tính khác biệt, chị luôn muốn tạo sự độc đáo riêng biệt trong lối tư
duy, diễn đạt và hình ảnh. Chính vì thế mà trong thơ tình của mình chị luôn lấy
những hình ảnh độc đáo và khác lạ. Hình ảnh giường”, “khăn tắm”, “áo lót”,
“ngực lép”, “bồn tắm” được nhà thơ sử dụng rất đắt. Với trái tim nhạy cảm của
một nhà thơ, chị được nhận xét là một người đa tình. Chị cũng đã yêu hết mình,
cháy hết mình với những dòng thơ tình khát khao, dâng hiến:
Mỗi sáng
Anh đi lại trong ý nghĩ của em
Mỗi sáng
Anh dao động ý nghĩ em
(Thất vọng tạm thời - Phan Huyền Thư)
Tình yêu đã chiếm lĩnh mọi suy nghĩ của “em”, càng khát khao đến tình
yêu, cái tôi trữ tình càng muốn thể hiện rằng ở thời điểm nào mình cũng nghĩ về
“anh”, nghĩ về tình yêu mà mình đang khát khao chờ đợi và sẵn sàng dâng hiến.
Cả hãi thê hệ nhà thơ nữ đẵ mượn cây bút đê làm nồi bật được tâm trạng
khát khao yêu, mong chờ được yêu, sẵn sàng hi sinh, dâng hiến cho tình yêu. Đây
chính là nét đẹp trong mỗi con người nhung quan trọng hơn nó chính là sức mạnh
để cho những người phụ nữ như Xuân Quỳnh, Phan Thị Thanh Nhàn và Vi Thùy
Linh, Phan Huyền Thư dám sống, dám yêu và có những vần thơ nồng nàn, khát
khao như thế.
1.1.2. Cái “tôi” trữ tình táo bạo mạnh mẽ trong tình yêu Trong xã hội
phong kiến với nhiều hủ tục, luật lệ hà khắc, người phụ nữ phải sống theo
những chuẩn mực, lễ giáo “tam tòng tứ đức”, không được phép thể hiện