Sở tồn tại & sự vận động của cơ cấu kinh tế nhiều thành phần trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở Việt Nam - Pdf 12

A_ Đặt vấn đề
Đất nớc ta sau khi bớc qua hai cuộc chiến tranh khốc liệt cũng là lúc
hoàn thành cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân , nhận biết rõ về tình
hình Đảng và Nhà nớc ta chủ trơng bớc vào thời kỳ quá độ lên CNXH .Một
trong những nhiệm vụ quan trọng của thời kỳ này chính là thực hiện nhất
quán ,lâu dài chính sách phát triển nền kinh tế nhiều thành phần nhằm mục
tiêu hàng đầu là giải phóng sức lao động , động viên tối đa mọi nguồn lực
bên trong và bên ngoài cho Công nghiệp hoá_Hiện đại hoá nâng cao hiệu
quả kinh tế va xã hội, cải thiện đời sống nhân dân.
Tuy nhiên trong quá trình thực hiện nhiệm vụ của thời kỳ quá độ nớc
ta đã gặp phải một số khó khăn nh : chúng ta xuất phát từ một nền kinh tế
lạc hậu ,cơ sở vật chất yếu kém .. Bên cạnh đó thực tiễn vẫn còn tồn tại một
số vấn đề đòi hỏi phaỉ tiếp tục đúc kết hệ thống lý luận ,đổi mới t duy ,vì
vậy em lựa chọn đề tài Cơ sở tồn tại và sự vận động của cơ cấu kinh tế
nhiều thành phần trong thời kỳ quá độ lên Chủ Nghĩa Xã Hội ở Việt
Nam. Để có cơ sở khoa học để tiếp cận và có đợc những nhận thức đúng
về nhiệm vụ trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở nớc ta.
1
B_ Nội Dung
1.Những luận điểm của Chủ nghĩa Mac-
Lênin và quan điểm của Đảng ta về vấn đề
tồn tại nền kinh tế nhiều thành phần trong
thời kỳ quá độ lên CNXH ở Việt Nam.
1.1.Nền kinh tế nhiều thành phần trong thời kỳ quá độ
lên CNXH ở Việt Nam là một tất yếu khách quan.
1.1.1.Quan niệm về thành phần kinh tế
Thành phần kinh tế là khu vực kinh tế, kiểu quan hệ kinh tế dợc đặc
trng bởi hình thức sở hữu nhất định về t liệu sản xuất.Bởi vậy thành phần
kinh tế tồn tại ở những hình thức tổ chức kinh tế nhất định , trong đó, căn
cứ vào quan hệ sản xuất (mà hạt nhân la quan hệ sở hữu)nào thống trị để
xác định từng thành phần kinh tế cụ thể.

2
làm thơng nghiệp , dich vụ và kinh tế tự nhiên. Để phát triển kinh tế hàng
hoá nhiều thành phần theo định hớng xã hội chủ nghĩa , các thành phần
kinh tế không thể xoá bỏ hay chuyển đổi một cach chủ quan duy ý chí
mà phải căn cứ vào trình độ phát triển của từng ngành nghề mà từng bớc
hình thành quan hệ sản xuất mới từ thấp tới cao với sự đa dạng về hình thức
sở hữu .
Ba là trong quá trình cách mạng xã hội chủ nghĩa sẽ dần dần
xuất hiện những thành phần kinh tế mới nh kinh tế nhà nớc , kinh tế tập
thể,kinh tế t bản nhà nớc.
Từ khi tiến hành đổi mới nớc ta không chỉ thừa nhận sự tồn tại khách
quan nhiều thành phần kinh tế mà còn phải thực hiện nhất quán chính sách
cơ cấu kinh tế nhiều thành phần theo định hớng xã hội chủ nghĩa.
1.2.Luận điểm của chủ nghĩa Mac-Lênin về vấn đề tồn
tại nhiều thành phần kinh tế
Lịch sử nhân loai đã chứng minh rằng sản xuất nhỏ tất yếu sẽ tiến
lên sản xuất lớn hiện đại. Xét về hình thái tổ chức sản xuất và trao đổi sản
phẩm thì chủ nghĩa t bản ngày nay đã đạt tới đỉnh cao của nền kinh tế thị
trờng . Song về bản chất kinh tế xã hội thì nó vẫn là một chế độ ngời
bóc lột ngời tinh vi nhất trong lịch sử nhân loai và sớm muộn tát yếu sẽ bị
xã hội loài ngời xoá bỏ thay thế bằng một xã hội tiến bộ và văn minh hơn
đó là xã hội xã hội chủ nghĩa.
Ơ thời đại ngày nay nền kinh tế hàng hoá phát triển hay còn gọi là
kinh tế thị trờng theo mục tiêu dân giàu nớc mạnh xã hội công bằng văn
minh,moi ngời đều đợc hởng hạnh phúc dang là xu thế khách quan và
mong muốn phát triển của nhân loại nói chung, cũng nh các nớc lạc hậu
đang ở thời kì phát triển nói riêng . Sở dĩ nó trở thành xu thế khách quan
bởi các lẽ sau đây :
Một là,nền kinh tế thị trờng tuy có những mặt tiêu cực và hạn chế
,song xét về u thế hiệu quả kinh tế đem lại cho xã hội thì có nhiều u điểm

phát triển kinh tế t bản chủ nghĩa thì chính sách ấy là một sự dại dột và tự
sát đối với đảng nao muốn áp dụng nó .Dại dột vì về phơng diện kinh tế
chính sách đấy là không thể nào thực hiên đựơc;tự sát,vì những đảng nào
định thi hành một chính sach mh thế nhất định sẽ bị phá sảnnên chinh sách
cuối cùng có thể áp dụng đợc và duy nhất hợp lí là không tìm cách ngăn cấm
và chặn đứng sự phát triển của chủ nghiã t bản mà tìm cách hớng nó vào chủ
nghĩa t bản nhà nứoc vì từ chủ nghĩa t bản tiểu t sản đi đến chủ nghĩa t bản
nhà nớc vơí qui mô lớn cũng nh đi đến chủ nghĩa xã hội đều trải qua cùng
một con đờng .
Nh vậy ,định hớng lên chủ nghĩa xã hội ,bỏ qua chế độ t bản chủ
nghĩa không có nghĩa là đối lập chủ nghĩa xã hội với chủ nghĩa t bản ,bỏ
qua tất cả những gì đã có trong chủ nghĩa t bản mà là sử dụng chủ nghĩa t
bản để xây dựng cơ sở vật chất kĩ thuât cho chủ nghĩa xã hội, là hớng
kinh tế tiểu t sản và kinh tế t bản chủ nghĩa vào con đờng của chủ nghĩa t
bản nhà nớc để đi lên chủ nghia xã hội.Bởi vì chủ nghĩa t bản là xấu so với
chủ nghĩa xã hội. Chủ nghĩa t bản lại là tốt so với thời trung cổ ,với nền tiểu
sản xuất, với chủ nghĩa quan liêu do tình trạng phân tán của những ngòi
tiểu sản xuất tạo nên . Vì chúng ta cha có điều kiện để chuyển trực tiếp từ
nền tiểu sản xuất lên chủ nghĩa xã hội ,bởi vậy trong một mức độ nào đó
chủ nghĩa t bản là không thể tránh khỏi ,nó là sản vật tự nhiên của nền tiểu
sản xuất và trao đổi.Bởi vậy chúng ta phải lợi dụng chủ nghĩa t bản (nhất là
bằng cách hớng nó vào con đờng chủ nghĩa t bản nhà nớc) làm mắt xích
trung gian giũa nền tiểu sản xuất và chủ nghĩa xã hội ,làm phuơng tiện, con
đờng, phơng pháp ,phơng thức để tăng lực lợng sản xuất lên .Đây chính là
giai đoạn lịch sử mà chủ nghĩa Mác-Lênin gọi là thời kì quá độ mà thực
chất của thời kì nay là nhà nớc của giai cấp vô sản và nhân dan lao động tự
đảm đơng nhiệm vụ lịch sử phát triển sức sản xuất và những quan hệ xã hội
tơng ứng với những điều kiên vật chất ấy làm cơ sở hiện thực cho chủ nghĩa
4
xã hội một nhiệm vụ mà đáng lẽ giai cấp t sản phải đảm đong nếu nh đất

thể ngời lao động . Phân phối theo lao động và hiệu quả của sản xuất
kinh doanh không chỉ khơi dậy động lực lợi ích mà còn tạo ra nhu cầu khơi
dậy đông lực lợi ích .Đây là hai yếu tố hết sức quan trọng quyết định sự
tăng trởng kinh tế .
Chúng ta đang tồn tại trong điều kiện quốc tế mới ,thời đai mới
thời đại lực lợng sản xuất quốc tế hoá. Đại hội Đảng VI cũng khắc phục sự
hạn chế của t duy khép kín ,đóng kín với với thế giới bên ngoài trớc đây ,
chuyển sang t duy mở-mở cửa ra thế giới ,hội nhập với cộng động nhân
loại . Sự chuyển biến cơ bản này vừa xuất phát từ đặc điểm thời đại và tình
hình đất nớc, vừa có tác dụng hội tụ sức mạnh thời đại với sức mạnh Việt
Nam .
Đờng lối phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần ở thời kì
quá độ theo định huớng xã hội chủ nghĩa ,vận hành theo cơ chế thị trờng có
5
sự quản lí của nhà nớc là một định hớng chiến lợc cực kì quan trọng mang
tính khách quan và có khả năng thắng lợi ở nớc ta ,bởi vì:
Một là,chỉ có phát triển nền kinh tế nhiều thành phần mới phù hợp
với thực trạng của lực lợng sản xuất cha đồng đều ở Việt Nam .
Hai là, nó phù hợp với xu thế phát triển khách quan của thời đại
ngày nay thời đại các nớc đều hớng về phát triển kinh tế thị trờng có sự
quản lí vĩ mô của nhà nớc .Sự phù hợp này sẽ giúp nớc ta có thêm thế và
lực để phát triển kinh tế nhanh hơn.
Ba là, phù hợp với mong muốn thiết tha của nhân dân ta là đợc đem
hết tài năng, sức lực để lao động làm giaù cho đất nớc và cho bản thân
mình.
Bốn là ,nó cho phép có điều kiện thuận lợi để khai thác có hiệu quả
nhất các tiềm năng hiện có và đang còn tiềm ẩn trong nớc , có thể tranh thủ
tốt nhất sự giúp đỡ,hợp tác từ bên ngoài nhằm phát triển nền kinh tế nuớc
ta hớng vào mục tiêu tăng trởng nhanh và hiện đại hoá . Chỉ có nhiều thành
phần kinh tế , chúng ta mới có khả năng huy động mọi tiềm năng về vốn

khắc phục sai lầm mà một thời chúng ta đã đồng nhất KTNN với khái niệm
doanh nghiệp Nhà nớc .Và một khi số doanh nghiệp Nhà nớc có những tiêu
cực , làm ăn thua lỗ so với kinh tế t nhân,làm nảy sinh sự hoài nghi lý luận
về vai trò chủ đạo của thành phần kinh tế này.
Nh vậy KTNN là một khái niệm rộng , trong đó doanh nghiệp nhà n-
ớc là một bộ phận rất quan trọng,là chỗ dựa để KTNN có điều kiện gi vai
trò chủ đạo.
2.1.2.Vai trò của KTNN
Kinh tế nhà nớc gữi vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân, là
nhân tố mở đờng cho sự phát triển kinh tế, là lực lợng vật chất quanh trọng
và công cụ để nhà nớc định hớng và điều tiết vĩ mô nền kinh tế.
Các doanh nghiệp nhà nớc, bộ phân quan trọng nhất của nền kinh tế
phải giữ vị trí then chốt, phải đi đầu trong việc ứng dụng khoa học công
nghệ, nêu gơng về năng xuất, chất lợng, hiệu quả kinh tế xã hội và chấp
hành pháp luật.
Để làm nh vậy phải hoàn thành việc củng cố, sắp xếp, điều chỉnh cơ
cấu, đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp hiện có,
đồng thời phát triển thêm doanh nghiệp nhà nớc đầu t 100% vốn hoặc có cổ
phần chi phối ở một ngành, lĩnh vực then chốt và địa bàn quan trọng.
Việc sắp xếp lại các doanh nghiệp nhà nớc đợc thực hiện theo
những hớng sau:
- Xây dựng một số tập đoàn kinh tế mạnh trên cơ sở các tông công
ty nhà nớc, có sự tham gia của các thành phần kinh tế. Khẩn trơng cải thiện
tình hình tài chính và lao động của các doanh nghiệp nhà nớc, củng cố và
hiện đại hoá một bớc các tổng công ty nhà nớc.
- Thục hiên tôt chủ trơng cổ phần hoá và đa dạng hóa sở hữu đối
với những doanh nghiệp mà nhà nớc không cần nắm giữ 100%.
- Giao bán, khoán, cho thuê các doanh nghiệp loại nhỏ mà nhà n -
ớc không cần nắm giữ.
- Sáp nhập, giải thể, cho phá sản những doanh nghiệp hoạt động

Đóng góp cho tổng thu ngân sách 22.28 23.37 23.71
Tỷ trong đóng góp của khu vực kinh tế nhà nớc trong nền kinh tế
(đơn vị tính %)
2.1.3.2.Hạn chế.
Tuyvậy vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nớc hiện nay cha thực sự xuất
phát từ thực lực vợt trội của khu vực này so với các thành phần kinh tế khá
và so vói các doanh nghiệp trên thế giới. đạc điểm này thể hiện rõ ở một số
điểm sau :
Thứ nhất ,năng lực cạnh tranh của khu vực doanh nghiệp nhà nớc
thấp kém ,nhiều doanh nghiệp hoạt động không hiệu quả. Nợ của khu vực
doanh nghiệp nhà nớc quá lớn ,nợ quá hạn ,nợ khó đòi cha có dấu hiệu
thuyên giảm (chiếm tới 74,8% trong số nợ quá hạn của ngân hàng thơng
mại quốc doanh).so với các doanh nghiệp trên thế giới ,doanh nghiệp nhà
nớc Việt Nam có qui mô nhỏ bé ,công nghệ lạc hậu ,tạo gía tri gia tăng
thấp ,sản xuất ra những hàng hoá và dịch vụ ít có khả năg canh tranh trên
thi trờng thế giới .
Thứ hai , so với các thành phần kinh tế khác ,doanh nghiệp nhà nớc
đợc nhận nhiều sự hỗ trợ và hởng những đặc quyền mà các doanh nghiệp
khác không thể có đợc. Doanh nghiệp nhà nớc đợc vay vốn không cần thế
chấp ;đựoc giao đất mà không phải thuế đất ,đợc giao thực hiện các dự án
lớn của nhà nớc mà nắm chác sẽ thu lãi lớn tong 4 năm 97-00, ngân sách
nhà nớc đã đầu t gần8200 tỷ đồng cho doanhnghiệp nhà nớc, miễn giảm
8
thuế 1351 tỷ đồng , xoá nợ 1086 tỷ đồng,giãn nợ 540 tỷ đồng ,giảm trích
khấu hao 200 tỷ đồng. Hiện nay , nhà nớc vẫn đang tiép tục cấp thêm bổ
sung vốn cho các doanh nghiệp nhà nớc ,để trong 5 năm 2001-2005,cơ bản
tạo đủ vốn cho doanh nghiệp.
Thứ ba, bên cạnh sự yếu kém của doanh nghiệp nhà nớc,hiệu quả
hoạt động của hệ thống ngân hàng nhà nớc và các dịch vụ khác, kể cả dịch
vụ công ích ,vẫn còn thấp. Hệ thống ngân hàng cha đảm bảo cung cấp

KTNN,kinh tế tập thể sẽ đảm bảo cho nền kinh tế nớc ta giữ đúng định h-
ớng XHCN.
Bên cạnh đó kinh tế tập thể cũng tạo điều kiện để xây dựng cơ sở vật
chất , góp phần đẩy mạnh quá trình công nghiệp hoá nông thôn.Kinh tế tập
thể trong công nghiệp đóng góp một phần đáng kể trong giá trị tổng sản l-
ợng của toàn ngành công nghiệp có năm đạt tới 40%.
2.2.3.Thực trạng phát triển.
9


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status