Cơ sở lý luận và thực tiễn tồn tại nền kinh tế nhiều thành phần trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam - Pdf 29

trường đại học kinh tế quốc dân
khoa mác - lênin
******************
tiểu luận chuyên đề 2
môn kinh tế chính trị
Đề tài : Cơ sở lý luận và thực tiễn tồn tại
nền kinh tế nhiều thành phần trong thời kỳ
quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam và
nhận thức mới về vai trò chủ đạo của thành
phần kinh tế nhà nướcNgười thực hiện : Đinh Thị Thuỷ
Lớp : CH 12 - chuyên ngành kinh tế chính trị
Người hướng dẫn : GS.TS Phạm Quang Phan
H n i 3/2005à ộ
Học thuyết Mác khẳng định: Lịch sử xã hội loài người là lịch sử phát
triển và thay thế nhau của các hình thái kinh tế xã hội, các phương thức sản
xuất: Cộng sản nguyên thuỷ, chiếm hữu nô lệ, phong kiến, tư bản chủ nghiã và
cộng sản chủ nghĩa. Đây là một quá trình lịch sử tự nhiên và loài người nhất
định sẽ tiến tới xã hội cộng sản chủ nghĩa.
Xã hội cộng sản chủ nghĩa mà loài người hướng tới là xã hội phát triển
cao nhất, tiến bộ nhất trong lịch sử nhân loại, cao hơn hẳn chủ nghĩa tư bản về
mọi phương diện: kinh tế, văn hoá, xã hội. Quá trình hình thành và phát triển
của xã hội cộng sản chủ nghĩa qua hai giai đoạn: giai đoạn đâù là chủ nghĩa xã
hội, giai đoạn sau là chủ nghĩa cộng sản hoàn chỉnh.
Vì chủ nghĩa cộng sản không phải trong một thời gian ngắn hình thành
hoàn chỉnh được mà cần có một quá trình lịch sử lâu dài, khó khăn và phức tạp
mới tạo dựng được, Mác gọi đó là thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa cộng sản. Thực
chất thời kỳ quá độ là quá trình cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới: xây
dựng nền tảng, cơ sở cho một xã hội mới về kinh tế, văn hoá và xã hội. Và đặc

tương ứng với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất nhất định đã ra đời
nhưng chưa phát triển đạt tới vai trò thống trị trong nền kinh tế hoặc đang bị
thủ tiêu dần. Như vậy, mỗi thành phần kinh tế được xây dựng trên cơ sở một
hình thức sở hữu về tư liệu sản xuất và một lực lượng sản xuất nhất định.
Trong thời kỳ quá độ ở nước ta, nền kinh tế có nhiều loại hình sở hữu
về tư liệu sản xuất: sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể và sở hữu tư nhân. Mỗi
loại hình sở hữu lại có nhiều hình thức khác nhau. Các hình thức sở hữu luôn
gắn bó chặt chẽ với nhau, có sự tác động qua lại, đan xen vào nhau, bổ sung
cho nhau, tạo nên sự đa dạng các hình thức kinh tế và sản xuất kinh doanh. Vì
vậy trong TKQĐ có nhiều thành phần kinh tế.
Thứ hai: Theo yêu cầu của quy luật: quan hệ sản xuất phải phù hợp với
tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất nên trong thời kỳ quá độ, qúa
trình xây dựng quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa phải trên cơ sở phát triển
của lực lượng sản xuất.
Nước ta do đặc điểm lịch sử là: đi lên chủ nghĩa xã hội từ một nước
thuộc địa, nửa phong kiến, không qua chế độ tư bản chủ nghĩa, trải qua chiến
tranh lâu dài và ác liệt, tàn phá mọi nguồn lực tiềm năng của đất nước, trình
độ của lực lượng sản xuất thấp kém, không đồng đều giữa các ngành, các
vùng và các doanh nghiệp. Chính sự phát triển không đều đó quyết định quan
hệ sản xuất, trước hết về hình thức, quy mô và quan hệ sở hữu phù hợp với
nó, nghĩa là những quan hệ sản xuất khác nhau. Tương ứng với nó sẽ có nhiều
thành phần kinh tế.
Thứ ba: Do tính chất khó khăn, phức tạp, lâu dài của công cuộc cải
biến quan hệ sản xuất cũ; xây dựng, củng cố và hoàn thiện quan hệ sản xuất
mới đòi hỏi.
Thật vậy, khi giai cấp công nhân và nhân dân lao động giành được
chính quyền, đã tiếp quản nền kinh tế chủ yếu dựa trên chế độ tư hữu về tư
liệu sản xuất. Có hai loại tư hữu: Tư hữu lớn các nhà máy, hầm mỏ, đồn điền,
doanh nghiệp ... của các chủ tư bản trong và ngoài nước- đó là kinh tế tư bản
chủ nghĩa và tư hữu nhỏ của nông dân cá thể, thợ thủ công cá thể, những

Thứ sáu: Do đòi hỏi của quá trình toàn cầu hoá kinh tế, chúng ta phải
tham gia vào phân công lao động và hợp tác quốc tế, phải có chính sách mở
cửa nền kinh tế, phải thiết lập và mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế trên mọi
lĩnh vực nhất là về kinh tế để kết hợp sức mạnh trong nước với ngoài nước,
sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại.
Với yêu cầu trên, Đảng ta có phương châm: Việt Nam sẵn sàng là bạn,
là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hoà bình,
độc lập và phát triển. Chúng ta đã thực hiện đa phương hoá quan hệ kinh tế,
đa dạng hoá các hình thức quan hệ quốc tế, thông qua hợp tác và đầu tư nước
ngoài đã liên doanh, liên kết với kinh tế tư bản ngoài nước nên xuất hiện
thành phần kinh tế mới: kinh tế tư bản nhà nước, và khu vực có vốn đầu tư
nước ngoài.
2 - Cơ sở thực tiễn
Như lý luận đã khẳng định ở trên, sự tồn tại kinh tế nhiều thành phần là
đặc trưng kinh tế của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, là tất yếu khách
quan. Nhưng trong thực tiễn, do nhận thức sai lầm, ý chí chủ quan, nóng vội,
đốt cháy giai đoạn, chúng ta đã chủ trương sớm xoá bỏ nền kinh tế nhiều
thành phần bằng làn sóng quốc doanh hoá, tập thể hoá. Chúng ta đã vội vàng
xoá bỏ một số thành phần kinh tế: kinh tế tư bản tư nhân, cá thể, tiểu chủ dẫn
đến hậu quả tiêu cực cho nền kinh tế: làm mất động lực kinh tế, các tiềm năng
của đất nước không được khai thác hiệu quả, lực lượng sản xuất xã hội bị lãng
phí một cách nghiêm trọng, kìm hãm sự phát triển kinh tế hàng hoá, đời sống
nhân dân gặp nhiều khó khăn...
Chủ trương trên là trái với quy luật khách quan, trái với lý luận của chủ
nghĩa Mác-Lênin: “Không một hình thái xã hội nào diệt vong trước khi tất cả
những lực lượng sản xuất mà hình thái xã hội đó tạo địa bàn đầy đủ cho phát
triển, vẫn chưa phát triển và những quan hệ sản xuất mới cao hơn, cũng
không bao giờ xuất hiện trước khi những điều kiện tồn tại vật chất của những
quan hệ đó chưa chín muồi trong lòng bản thân xã hội cũ”.
Để sửa chữa và khắc phục những sai lầm trong quá khứ, chúng ta phải


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status