1
MỤC LỤC
I: Lí luận của luận điểm
Để nghiên cứu vấn đề “Tại sao Hồ Chí Minh chủ trương cơ cấu kinh tế
hàng hóa nhiều thành phần trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội”
1: Chúng ta cần xuất phát từ quan điểm của chủ nghĩa Mac- Lênin về mối
quan hệ biện chứng giữa quan hệ sản xuất và lưc lượng sản xuất:
1.1: Khái niệm về lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất
Lực lượng sản xuất là khái niệm dùng để chỉ việc con người chinh phục
giới tự nhiên bằng tất cả sức mạnh hiện thực của mình trong quá trình thực hiện
sự sản xuất xã hội, là cái nói lên năng lực của con người trong quá trình sản xuất
tạo ra của cải xã hội .
Lực lượng sản xuất được tạo thành do sư kết hợp giữa lao động với tư liệu
sản xuất mà trước hết là với công cụ lao động, cũng như khoa học .
Quan hệ sản xuất là quan hệ giữa người với người trong sản xuất và tái
sản xuất, bao gồm : các quan hệ sở hửu đối với tư liệu sản xuất, các quan hệ
trong tổ chức quản lý và sản xuất, các quan hệ trong phân phối sản phẩm sản
xuất .
1.2: Quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất
Quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất phụ thuộc và tác động lẫn nhau
một cách biện chứng và biểu hiện thành một trong những quy luật cơ bản nhất
của sự vận động của đời sống xã hội .
Sự biến đổi của sản xuất luôn luôn theo chiều tiến bộ, và xét cho cũng bắt
đầu từ sự biến đổivà phát triển của lực lượng sản xuất, trước hết là công cụ lao
động . Cùng với sự phát triển của lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất cũng
hình thành và biến đổi cho phù hợp với trình độ của lực lượng sản xuất . Đương
nhiên, khi trình độ của lực lượng sản xuất phát triển thì tính chất của sản
xuấtcũng phát triển theo .
2
Trình độ của lượng sản xuất là khái niệm nói lên khả năng của con người
thực hiện quá trình biến đổi và thích nghi với giới tự nhiên nhằm bảo đảm cho
Như vậy, lượng sản xuất quyết định sự hình thành và phát triển của quan
hệ sản xuất, một khi lượng sản xuất đã biến đổi thì sớm hay muộn thì quan hệ
3
sản xuất cũng phải biến đổi cho phù hợp với trình độ của lực lượng sản xuất
mới.
Tuy vậy, quan hệ sản xuất cũng thể hiện tính độc lập tương đối với lượng
sản xuất . Quan hệ sản xuất tác động trở lại lực lượng sản xuất, quy định mục
đích xã hội của sản xuất, tác động đến khuynh hướng phát triển của công nghệ .
Tren cơ sở đó hình thành một hệ thống những yếu tố thúc đẩy hoặc kìm hãm sự
phát triển của một lực lượng sản xuất . Khi quan hệ sản xuất phù hợp, phát triển
hợp lý và đồng bộ với lực lượng sản xuất thì sẽ thúc đẩy sự phát triển của lực
lượng sản xuất, trong trường hợp ngược lại, quan hệ sản xuất sẽ kìm hãm lực
lượng sản xuất phát triển . Nếu quan hệ sản xuất lạc hậu hơn hoặc “tiên tiến”
hơn một cách giả tạo cũng sẽ làm cho lực lượng sản xuất không phát triển . Khi
mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất đã trở nên gay gắt, đòi
hỏi phải giải quyết, song con người không phát hiện được, hay khi đã phát hiện
được mà không giải quyết, hoặc giải quyết một cách sai lầm …thì không thể
phát triển được lực lượng sản xuất, thậm chí còn phá hoại lực lượng sản xuất .
Quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ của lực lượng
sản xuất là quy luật phổ biến tác động tới toàn bộ quá trình phát triển của lịch sử
loài người từ xã hội công xã nguyên thuỷ đến xã hội cộng sản tương lai và là
quy luật cơ bản nhất trong hệ thống các quy luật xã hội .
2: Quan điểm của Đảng kế thừa tư tưởng của chủ nghĩa Mac- Lênin nhận
thức đúng đắn về trình độ của lực lượng sản xuất, tìm ra điểm kết nối hợp lý
giữa trình độ và xu hướng phát triển, là cơ sở để định hướng xây dựng quan
hệ sản xuất phù hợp với trình độ lực lượng sản xuất
Đảng ta kế thừa tư tưởng của chủ nghĩa Mac- Lênin nhận thức đúng đắn
về trình độ của lực lượng sản xuất, tìm ra điểm kết nối hợp lý giữa trình độ và
xu hướng phát triển, là cơ sở để định hướng xây dựng quan hệ sản xuất phù hợp
với trình độ lực lượng sản xuất
chủ nghĩa xã hội mang màu sắc Trung Quốc và đã đạt được thành công đáng kể.
1: Cải cách kinh tế của Trung Quốc
Kể từ năm 1978, tại hội nghị Trung ương 3 khóa XI của Đảng cộng sản
Trung Quốc (12/1978) chính quyền Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa đã quyết
định cải cách nền kinh tế từ một nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung theo mô
hình Liên Xô sang một nền kinh tế theo định hướng thị trường trong khi vẫn duy
trì thể chế chính trị do Đảng Cộng sản Trung Quốc lãnh đạo. Chế độ này được
gọi bằng tên "Chủ nghĩa Xã hội mang màu sắc Trung Quốc", là một loại kinh tế
hỗn hợp. Đây là cuộc cải cách lớn, toàn diện về kinh tế, từ tư duy lý luận đến
hoạt động thực tiễn, từ quan hệ sở hữu tài sản tới cơ chế quản lý kinh tế, từ điều
hành nền sản xuất tới phân phối thu nhập...
Để thực hiện công cuộc cải cách này, Trung Quốc đã thực hiện cải cách
một cách toàn diện nông nghiệp, công nghiệp,…
5
1.1: Cải cách trong nông nghiệp
Trong nông nghiệp, bằng việc chuyển đổi từ chế độ hợp tác xã sang chế
độ khoán đến từng hộ gia đình. Cụ thể của việc vải cách trong nông nghiệp có
thể thấy qua quá trình sau: Trước cải cách nông nghiệp ở Trung Quốc, khoán
sản phẩm được coi là vi phạm nguyên tắc công hữu thiêng liêng, đi theo chủ
nghĩa tư bản. Nông dân không tự sản xuất được lương thực cho mình từ đó nảy
sinh ba dựa: “Lương thực dựa vào đi mua, sản xuất dựa vào vay vốn, đời sống
dựa vào cứu tế”. Chính quan điểm cứng nhắc và quan lieu này đã đưa nền nông
nghiệp Trung Quốc đi tới sự suy yếu cũng như không còn phù hợp với tình hình
lúc bấy giờ. Vì vậy, cần có những thay đổi về quan điểm sao cho phù hợp với
tình hình Trung Quốc lúc này. Năm 1982, Trung Quốc thực hiện khoán sản
lượng hoặc khoán toàn bộ đến hộ nông dân. Việc giải phóng năng lực sản xuất
cho hàng trăm triệu hộ nông dân đã mang lại bước nhảy vọt trong kinh tế nông
thôn.
1.2: Cải cách trong công nghiệp
Trong công nghiệp, trước cải cách, hoạt động kinh doanh của các xí
- Đã đột phá vào quan niệm cho rằng chế độ công hữu của CNXH phải
thuần nhất, xây dựng nên lý luận coi công hữu là chủ thể, nhiều loại sở hữu cùng
phát triển.
- Đã đột phá vào lý luận coi phân phối theo lao động là phương thức duy
nhất; xây dựng nên lý luận coi phân phối theo lao động là chủ thể, nhiều loại
phương thức phân phối đồng thời cùng tồn tại.
Lý luận về giai đoạn đầu của CNXH và lý luận mang đặc sắc Trung Quốc
- Đã đột phá vào quan niệm cho rằng CNXH chỉ có tính chung, tính phổ
biến, xây dựng nên lý luận các nước XHCN đều có tính đặc thù, có thể đi con
đường đặc sắc của mình.
- Đã đột phá vào quan niệm cho rằng CNXH chỉ có học tập Liên Xô, chỉ
có thể sao chép, chuyển dịch theo, xây dựng nên lý luận CNXH phải học tập,
tiếp thu mọi thành quả văn minh của loài người để sử dụng cho mình.
- Đã đột phá vào quan niệm "quá độ nghèo", "quá độ nhanh", xây dựng
nên lý luận CNXH của Trung Quốc vẫn nằm trong giai đoạn đầu của CNXH, cải
cách và phát triển phải xuất phát từ tình hình của giai đoạn đầu.
Lý luận về chế độ sở hữu và hình thức thực hiện của chế độ sở hữu.
- Đã phá bỏ quan niệm truyền thống sợ "tư nhân", sợ "tư bản chủ nghĩa",
hạn chế sự phát triển của kinh tế phi công hữu, xây dựng nên lý luận có thể
mạnh dạn lợi dụng mọi hình thức sở hữu phù hợp với điều "3 có lợi", mọi
7
phương thức kinh doanh và hình thức tổ chức phản ánh quy luật của nền sản
xuất xã hội hoá.
- Đã phá bỏ quan niệm coi kinh tế quốc hữu là hình thức cao cấp của chế
độ công hữu, kinh tế tập thể là hình thức thấp nhất của chế độ công hữu, hình
thức thấp nhất phải quá độ sang hình thức cao cấp; xây dựng nên lý luận cho
rằng kinh tế quốc hữu và kinh tế tập thể không phân biệt cao hay thấp, phải cùng
phát triển trong cạnh tranh bình đẳng.
- Đã phá bỏ quan niệm cho rằng kinh tế quốc hữu càng lớn càng công hữu
càng tốt, là đặc trưng của nền kinh tế XHCN; xây dựng nên lý luận cho rằng vai
hợp vốn, là một hình thức có hiệu quả của việc cải cách chế độ đối với các xí
nghiệp nhỏ quốc hữu.
Lý luận về phân phối theo lao động và phân phối theo các yếu tố sản xuất
- Đã đột phá vào quan điểm truyền thống cho rằng phân phối theo lao
động là đặc điểm của CNXH, phân phối theo vốn là đặc điểm của CNTB. Đã
xác định lý luận kết hợp với nhau giữa phân phối theo lao động và phân phối
theo yếu tố sản xuất, kiên trì ưu tiên hiệu quả, chú ý công bằng, có lợi cho việc
sắp xếp tối ưu các nguồn lực, thúc đẩy kinh tế phát triển, giữ vững xã hội ổn
định.
- Đã đột phá vào quan niệm bình quân chủ nghĩa, xây dựng nên lý luận
cho phép và khuyến khích một số người, một số vùng thông qua lao động thành
thực, kinh doanh hợp pháp được giàu lên trước.
- Đã đột phá vào quan niệm cho rằng phân phối theo vốn, kỹ thuật thuộc
về thu nhập phi pháp, làm rõ lý luận đồng thời quán triệt nguyên tắc phân phối
theo lao động, thực hiện làm nhiều hưởng nhiều, làm ít hưởng ít, không làm
không hưởng, cần cho phép và khuyến khích việc phân phối lợi ích thu được
theo sự tham gia của các yếu tố sản xuất như vốn, kỹ thuật.
Lý luận về công nhân viên chức nghỉ việc (hạ cương) và tái việc làm
- Đột phá vào quan niệm truyền thống cho rằng thất nghiệp là đặc trưng
của CNTB, việc làm đầy đủ là đặc trưng của CNXH; xây dựng nên lý luận cho
rằng trong các nước XHCN theo đà đi sâu cải cách doanh nghiệp, tiến bộ kỹ
thuật và điều chỉnh cơ cấu kinh tế, nhân viên lưu động và công nhân viên chức
(CNVC) nghỉ việc là điều không thể tránh khỏi.
- Làm sáng tỏ quan điểm cho rằng nhân viên lưu động và CNVC nghỉ
việc là căn bệnh xuất hiện khi cải cách doanh nghiệp; xây dựng nên lý luận cho
rằng nhân viên lưu động và CNVC nghỉ việc sẽ đưa lại những khó khăn tạm thời
ch một bộ phận CNVC, nhưng căn bản mà nói, điều đó có lợi cho cải cách
doanh nghiệp, tiến bộ kỹ thuật, điều chỉnh cơ cấu kinh tế và phát triển kinh tế,
phù hợp với lợi ích lâu dài của giai cấp công nhân.
- Đã đột phá vào quan niệm cho rằng CNVC doanh nghiệp Nhà nước nghỉ