đổi mới hoạt động của công đoàn việt Nam trong xu thế hội nhập quốc tế - Pdf 26

Website: Email : Tel : 0918.775.368
Lời mở đầu
Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế đã tác động mạnh mẽ đến vị trí của công
đoàn trong đời sống kinh tế chính trị xã hội ở Việt Nam. Cơ chế thị trờng
với sức mạnh của nó đang có những ảnh hởng nhiều mặt đến hoạt động của công
đoàn. Do nhiều nguyên nhân, công đoàn còn nhiều lúng túng về mô hình tổ chức
và phơng pháp hoạt động. Vì vậy, có nhiều ngời cho rằng hiện nay công đoàn
đang mất dần ảnh hởng trong đời sống xã hội, đặc biệt là đối với ngời lao động.
Trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, nhiều loại hình doanh nghiệp đang xuất
hiện và ngày càng phát triển. Đó là mảnh đất cho công đoàn hoạt động, nhng
đồng thời cũng đòi hỏi công đoàn phải đổi mới nội dung, phơng pháp hoạt động
cho phù hợp với xu thế mới, phát huy tích cực vai trò của mình trong xã hội.
Nghiên cứu về hoạt động của công đoàn trong giai đoạn hiện nay là việc
làm thiết thực và có nhiều ý nghĩa, đặc biệt là trong năm 2006 Việt Nam đã trở
thành thành viên thứ 150 của tổ chức thơng mại thế giới WTO. Xuất phát từ lý do
đó, em đã chọn đề tài Đổi mới hoạt động của công đoàn Việt Nam trong xu thế
hội nhập quốc tế là đề tài cho Khoá luận tốt nghiệp của mình.
Mục đích và nhiệm vụ của đề tài là tập trung nghiên cứu hoạt động của công
đoàn hiện nay. Trên cơ sở tìm hiểu thực trạng hoạt động của tổ chức công đoàn Việt
Nam, rút ra nhận xét và đa ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng
cao hiệu quả hoạt động của công đoàn trong xu thế hội nhập quốc tế.
Đề tài đợc nghiên cứu trên cơ sở phơng pháp luận của chủ nghĩa Mac-Lênin
và các quan điểm của Đảng, t tởng của Hồ Chí Minh. Các phơng pháp chủ yếu đợc
sử dụng trong đề tài là phân tích, tổng hợp, quy nạp.
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, Khoá luận đợc chia là 3 chơng:
- Chơng I. Một số vấn đề cơ bản về công đoàn Việt Nam hiện nay.
- Chơng II. Thực trạng hoạt động của tổ chức công đoàn Việt Nam.
- Chơng II. Hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả hoạt động của tổ
chức công đoàn.
Mặc dù đã có nhiều cố gắng nhng do kiến thức và kinh nghiệm còn hạn chế,
lại là lần đầu làm quen với công tác nghiên cứu khoa học trong khi đó đề tài đề cập

tr3}
Nh vậy, công đoàn Việt Nam là thành viên của hệ thống chính trị, là trung
tâm tập hợp, đoàn kết, giáo dục, rèn luyện, xây dựng đội ngũ giai cấp công nhân,
lao động. Công đoàn là chỗ dựa vững chắc của Đảng, là sợi dây nối liền Đảng với
quần chúng.
3
Với vị trí là tổ chức chính trị - xã hội của giai cấp công nhân, của ngời lao
động, công đoàn luôn cố gắng tập hợp toàn bộ quần chúng, công nhân, viên chức
lao động.
Công đoàn là tổ chức xã hội đợc hình thành do nhu cầu của đông đảo ngời
lao động. Công đoàn thu hút sự tham gia đông đảo của công nhân viên chức, ngời
lao động không phân biệt giới tính, dân tộc, thành phần xã hội, tín ngỡng, tôn
giáo.
Công đoàn là một tổ chức xã hội có tính chất nghiệp đoàn. Tính chất này
biểu hiện ở thành phần tham gia và mục đích tồn tại của công đoàn. Các thành
viên công đoàn thuộc về lực lợng lao động, đã hoặc đang làm một công việc nhất
định. Do đó, công đoàn có thể coi là tổ chức nghề nghiệp rộng lớn nhất, thu hút sự
tham gia đông đảo nhất của mọi tầng lớp lao động trong xã hội.
Mặt khác, công đoàn còn là một tổ chức chính trị - xã hội có vị trí quan
trọng trong xã hội, có ảnh hởng to lớn đến đông đảo quần chúng nhân dân lao
động. Công đoàn là tổ chức đại diện cho ngời lao động, tham gia bảo vệ quyền lợi
ích hợp pháp cho họ và tham gia quản lý kinh tế xã hội.
Công đoàn còn là ngời tuyên truyền chính sách, pháp luật của Đảng, nhà n-
ớc đến với quần chúng, ngời lao động. Công đoàn có trách nhiệm xây dựng Đảng,
bồi dỡng công nhân u tú kết nạp Đảng. Có thể nói, công đoàn là cộng sự đắc lực
của nhà nớc bởi những hoạt động của công đoàn đã thực sự góp phần xây dựng
chính quyền nhà nớc, vì mục đích tồn tại của nhà nớc, vì lợi ích của giai cấp công
nhân.
Sự thừa nhận của xã hội, của Nhà nớc trên các phơng diện khác nhau đã
khẳng định vị trí của công đoàn, đồng thời tạo ra điều kiện pháp lý xã hội cho hoạt

trong giai đoạn hiện nay.
Trong lĩnh vực xã hội: Nền kinh tế thị trờng đã làm thay đổi bộ mặt nớc
nhà song cũng đem lại không ít những tiêu cực, ảnh hởng đến tâm lý, đời sống của
ngời lao động. Vì vậy, công đoàn phải góp phần xây dựng giai cấp công nhân, bảo
đảm sự thống nhất của giai cấp công nhân Việt Nam, không ngừng nâng cao trình
độ giác ngộ chính trị, tính tổ chức kỷ luật, trình độ văn hoá, khoa học kỹ thuật để
giai cấp công nhân thực sự đóng vai trò quan trọng trong quá trình phát triển đất n-
ớc. Công đoàn phải tuyên truyền giáo dục ngời lao động chống tiêu cực và tệ nạn
5
xã hội, xây dựng phát triển nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, nâng
cao trình độ văn hoá, chuyên môn, nghiệp vụ, kỹ thuật và tính sáng tạo cho ngời
lao động.
Công đoàn góp phần củng cố liên minh công - nông và trí thức xây dựng
khối đoàn kết toàn dân. Đây là cơ sở xã hội vững chắc, tăng cờng sức mạnh của
nhà nớc.
Trong lĩnh vực văn hoá t tởng. Nền kinh tế thị trờng có nhiều u điểm, tích
cực song nền kinh tế này còn là mảnh đất làm nảy sinh những tiêu cực xã hội.
Hơn lúc nào hết, công đoàn cần phát huy vai trò của mình trong việc giáo dục
công nhân, viên chức, ngời lao động nâng cao lập trờng giai cấp, phát huy những
giá trị cao đẹp, truyền thống văn hoá dân tộc và tiếp thu những thành tựu tiên tiến
của văn minh nhân loại. Đó là yếu tố quan trọng làm cho vai trò của công đoàn
ngày càng mở rộng phát triển. Ngày nay, tổ chức công đoàn đang, đã và sẽ thu hút
đợc đông đảo lực lợng ngời lao động. Công đoàn còn có vai trò thúc đẩy ngời lao
động tích cực sáng tạo để trở thành bộ phận quan trọng của nền kinh tế đất nớc.
2. Chức năng, nhiệm vụ của tổ chức công đoàn
2.1. Chức năng của tổ chức công đoàn
Chức năng của tổ chức công đoàn đợc xác định bởi tính chất, vị trí, vai trò
của tổ chức công đoàn. Cụ thể là các chức năng cơ bản sau đây:
Chức năng đại diện và bảo vệ các quyền, lợi ích của công nhân, ngời lao
động. Trong nền kinh tế thị trờng, quan hệ chủ - thợ ngày càng phức tạp, tình

rộng thị trờng sản xuất kinh doanh, giải quyết việc làm cho ngời lao động. Kiểm
tra, giám sát hoạt động của nhà nớc chống nạn tham nhũng, quan liêu.
Chức năng tổ chức giáo dục, vận động công nhân và ngời lao động: Một
trong những chức năng tiếp theo của công đoàn là tuyên truyền, giáo dục ngời lao
động vững tin vào đờng lối, chính sách của Đảng, vào thắng lợi của sự nghiệp đổi
mới, luôn luôn tỉnh táo, cảnh giác, đấu tranh với mọi khuynh hớng sai lầm.
Nội dung chức năng giáo dục của công đoàn ngày nay càng đợc mở rộng,
toàn diện hơn, nhất là giáo dục pháp luật, giáo dục thẩm mỹ, giáo dục truyền
thống đạo đức cho ngời lao động.
Tóm lại, chức năng của công đoàn là một hệ thống đồng bộ bao gồm nhiều
chức năng khác nhau. Trong đó, chức năng đại diện bảo vệ các quyền lợi ích hợp
7
pháp của công nhân và ngời lao động là chức năng quan trọng nhất, thể hiện mục
tiêu hoạt động của tổ chức công đoàn; chức năng đại diện ngời lao động tham gia
quản lý kinh tế xã hội, quản lý nhà nớc mang có ý nghĩa nh là một phơng tiện để
biến các chức năng của công đoàn thành hiện thực; chức năng tổ chức giáo dục,
vận động công nhân, ngời lao động có vai trò hỗ trợ tích cực để công đoàn đạt đợc
những mục tiêu đề ra.
2.2. Nhiệm vụ của công đoàn
Nhiệm vụ của công đoàn là toàn bộ mục tiêu mà công đoàn cần đạt tới, là
những vấn đề đặt ra mà công đoàn cần giải quyết trong từng thời kỳ cụ thể. Thực
hiện nhiệm vụ công đoàn là đảm bảo cho việc thực hiện tốt chức năng của công
đoàn trong một giai đoạn nhất định, phù hợp với tình hình kinh tế - xã hội của giai
đoạn đó. Trong giai đoạn hiện nay, nhằm đảm bảo cho các chức năng của công
đoàn đợc thực hiện tốt góp phần xây dựng một xã hội công bằng, dân chủ, văn
minh, công đoàn có các nhiệm vụ chủ yếu sau:
- Đại diện cho ngời lao động tham gia với cơ quan nhà nớc xây dựng và
thực hiện các chơng trình kinh tế - xã hội, các chính sách, cơ chế quản lý kinh tế,
các chủ trơng chính sách liên quan đến quyền lợi và trách nhiệm của ngời lao
động.

phơng hớng, chủ trơng, nội dung, chơng trình hoạt động của công đoàn nhằm thực
hiện nghị quyết đại hội công đoàn toàn quốc và nghị quyết của ĐCSVN, chỉ đạo
công tác tổng kết thực hiện và nghiên cứu lý luận công đoàn.
Liên đoàn lao động tỉnh, thành phố có đối tợng chỉ đạo trực tiếp là các liên
đoàn lao động quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, các công đoàn cơ sở và
nghiệp đoàn đóng trên địa bàn không phân biệt cấp quản lý và thành phần kinh tế.
Chỉ đạo trực tiếp công đoàn tổng công ty (thuộc tỉnh); công đoàn khu công nghiệp,
khu chế xuất, các công đoàn ngành địa phơng, công đoàn cơ sở trung ơng (những
công đoàn cơ sở không có công đoàn ngành trung ơng). Liên đoàn lao động tỉnh,
thành phố quyết định thành lập các công đoàn và nghiệp đoàn thuộc địa phơng
quản lý, thảo luận với công đoàn ngành trung ơng trớc khi quyết định thành lập
hoặc giải thể các công đoàn ngành địa phơng. Chỉ đạo các cấp công đoàn ở địa ph-
ơng tổ chức đại hội, quyết định công nhận ban chấp hành và uỷ ban kiểm tra công
đoàn ngành địa phơng, các công đoàn trực thuộc địa phơng quản lý. Hớng dẫn
công tác phát triển đoàn viên, xây dựng công đoàn cơ sở và nghiệp đoàn vững
9
mạnh, công nhận và đề nghị TLĐLĐVN khen thởng những công đoàn cơ sở và
nghiệp đoàn vững mạnh. Ngoài ra, liên đoàn lao động tỉnh còn quản lý các cán bộ
công đoàn chuyên trách liên đoàn lao động tỉnh, thành phố, công đoàn ngành địa
phơng, liên đoàn lao động quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, công đoàn cơ
sở, thực hiện quy hoạch kế hoạch đào tạo bồi dỡng cán bộ, thực hiện chế độ chính
với cán bộ thuộc diện quản lý.
Công đoàn ngành trung ơng có đối tợng chỉ đạo là công đoàn tổng công ty,
công đoàn trong các cơ quan bộ, công đoàn trong các ban của Đảng, đoàn thể
trung ơng và các công đoàn cơ sở trực thuộc. Công đoàn ngành trung ơng có trách
nhiệm phối hợp với liên đoàn lao động tỉnh, thành phố chỉ đạo hớng dẫn công
đoàn ngành, địa phơng các nội dung thuộc ngành, nghề. Đối tợng chỉ đạo, nhiệm
vụ của công đoàn ngành trung ơng đợc quy định cụ thể trong điều lệ của công
đoàn Việt Nam và trong các nghị quyết đợc ban hành ở các nhiệm kỳ đại hội công
đoàn Việt Nam.

mọi thời kỳ. Ngay từ những ngày đầu thành lập, Công đoàn Việt Nam đã đặt hoạt
động của mình dới sự lãnh đạo của Đảng. Điều lệ công đoàn Việt Nam năm 2003
đã ghi rõ: Dới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam, kể từ ngày thành lập
đến nay, công đoàn Việt Nam đã tổ chức, vận động công nhân, viên chức lao
động đi đầu trong sự nghiệp đấu tranh vì độc lập, tự do của tổ quốc, vì hạnh
phúc của ngời lao động.{7, tr3}
Hoạt động công đoàn đặt dới sự lãnh đạo của Đảng là một tất yếu khách
quan và đây cũng là nguyên tắc hoạt động ở mọi cấp công đoàn. Nếu phủ nhận
nguyên tắc này là phủ nhận công đoàn về bản chất cách mạng. Nguyên tắc này
còn đóng vai trò thúc đẩy hiệu quả của hoạt động công đoàn và làm cho tổ chức
công đoàn ngày càng vững mạnh, có vị trí vững chắc trong hệ thống chính trị - xã
hội.
Đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng trong hoạt động tức là đảm bảo hoạt động
công đoàn luôn theo đúng chủ trơng, đờng lối, chính sách, công tác tổ chức cán bộ
của Đảng. Đồng thời, công đoàn còn vận dụng chủ trơng, đờng lối, chính sách của
Đảng vào chơng trình hoạt động của mình và thờng xuyên tranh thủ sự lãnh đạo
của Đảng thông qua việc thông báo tình hình và kết quả hoạt động.
11
Các cấp công đoàn cần kiện toàn bộ máy tổ chức của mình, cơ cấu ban chấp
hành công đoàn cần có ngời là đảng viên có uy tín, có năng lực công tác. Cần có
cán bộ công đoàn là đảng viên u tú tham gia cấp uỷ. Nh vậy, tổ chức công đoàn
mới nâng cao hiệu quả công tác và luôn đi đúng đờng lối của Đảng, thực hiện tốt
các chức năng của mình, đồng thời làm tốt vai trò là sợi dây nối liền Đảng với
quần chúng.
Trong điều kiện hiện nay, khi nền kinh tế vận hành theo hớng mở rộng liên
kết, hợp tác liên doanh với nớc ngoài, tổ chức và hoạt động công đoàn ở các cơ sở
liên doanh đã mang màu sắc mới. Song, không thể tách rời sự lãnh đạo của Đảng,
mà ngợc lại cần tăng cờng hơn nữa sự lãnh đạo cuả Đảng đối với tổ chức công đoàn.
Tuy nhiên, trong khi vận dụng nguyên tắc này không nên máy móc mà cần có sự
sáng tạo để đảm bảo sự thành công trong hoạt động công đoàn.

Đảm bảo tính tự nguyện của quần chúng trong hoạt động công đoàn có
nghĩa là không nên gò ép đoàn viên tham gia hoạt động. Vấn đề này trở thành
nguyên tắc hoạt động của công đoàn vì công đoàn là tổ chức do viên chức và ngời
lao động tự nguyện tham gia và hoạt động vì lợi ích của chính họ. Nếu phủ nhận
nguyên tắc này là phủ nhận vấn đề hết sức cơ bản thuộc về bản chất của tổ chức
công đoàn. Trong hoạt động công đoàn, tính tự nguyện của quần chúng là động
lực thực sự để khơi dậy lòng nhiệt tình tham gia hoạt động của đoàn viên. Để phát
huy đợc tính tự nguyện của quần chúng, ngời cán bộ công đoàn cần có lòng tin
thực sự ở mỗi ngời lao động. Trớc khi làm việc gì dù lớn hay nhỏ, cũng cần phải
có sự giải thích hay giáo dục, thuyết phục làm cho mỗi đoàn viên hiểu ý nghĩa và
trách nhiệm trong mỗi công việc mà họ có nghĩa vụ hoàn thành.
Trong hoạt động công đoàn hiện nay, nguyên tắc này càng đợc đề cao. Bởi
lẽ, xã hội càng phát triển thì trình độ nhận thức của ngời lao động ngày càng đợc
nâng lên. Một khi họ đã nhận thức đợc vấn đề thì họ sẽ tự nguyện, tự giác tham
gia các hoạt động do công đoàn tổ chức. Muốn vậy, những hoạt động của công
đoàn phải có nội dung sát thực với những vấn đề mà quần chúng quan tâm, hình
thức thể hiện phong phú và đa dạng, lôi cuốn quần chúng tham gia.
Tuy nhiên, khi thực hiện nguyên tắc này ngời cán bộ công đoàn cần nhận
thức rõ việc đảm bảo tính tự nguyện của quần chúng không có nghĩa hoàn toàn
chiều theo ý quần chúng. ý muốn của quần chúng chỉ phù hợp khi dựa trên quyền
lợi của tập thể, cộng đồng, xã hội. Vì thế, bên cạnh việc đảm bảo nguyên tắc này
13
công đoàn cần gắn với việc nâng cao trình độ t tởng, văn hoá, nghiệp vụ cho đoàn
viên và ngời lao động, đồng thời cần chống t tởng nóng vội, mệnh lệnh gò ép quần
chúng trong hoạt động công đoàn.
4.4. Nguyên tắc tập trung dân chủ
Trong hoạt động công đoàn, tập trung dân chủ là một trong những nguyên
tắc cơ bản của công đoàn Việt Nam đảm bảo sự thống nhất giữa ý chí và hành
động chống lại sự tập trung quan liêu và dân chủ vô tổ chức. Phủ nhận
nguyên tắc này trong tổ chức và hoạt động sẽ phủ nhận về mặt bản chất cách mạng

Công tác tuyên truyền, giáo dục đợc đẩy mạnh ở tất cả các cấp của tổ chức công
đoàn. Các hoạt động xã hội diễn ra sôi nổi, rộng khắp với nhiều hình thức phong
phú, đa dạng thu hút đợc sự chú ý của ngời lao động.
Trong công tác nghiên cứu tham gia góp ý, xây dựng các văn bản luật và d-
ới luật. Trong những năm qua, TLĐLĐVN trên cơ sở ý kiến của đoàn viên ở các
cấp công đoàn, đã nghiên cứu và tham gia góp ý xây dựng hàng loạt các dự án luật
có liên quan đến lĩnh vực lao động-xã hội. Gần đây nhất, trong năm 2006, công
đoàn đã tham gia nhiều ý kiến trong dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của
Bộ luật lao động, trong quá trình xây dựng và ban hành Luật bảo hiểm xã hội,
Luật dạy nghề, Luật đa ngời lao động đi làm việc ở nớc ngoài theo hợp đồng, Luật
bình đẳng giới, Pháp lệnh dân chủ cơ sở... Đồng thời, công đoàn cũng lấy ý kiến
sửa đổi Luật công đoàn cho phù hợp với sự phát triển của đất nớc.
Công tác t vấn pháp luật và trợ giúp pháp lý của 10 trung tâm, 31 văn phòng
và 87 tổ t vấn pháp luật của công đoàn các cấp đã góp phần đa chính sách pháp
luật của nhà nớc vào đời sống ngời lao động, nâng cao sự hiểu biết và thực hiện tốt
việc bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho ngời lao động.
Dới sự chỉ đạo của công đoàn, việc thực hiện pháp luật ở khu vực doanh
nghiệp nhà nớc đã có nhiều chuyển biến tích cực. Năm 2006 đã có 93% doanh
nghiệp nhà nớc mở hội nghị công nhân viên chức và 97% cơ quan mở hội nghị cán
bộ, công chức, tỷ lệ doanh nghiệp có thỏa ớc lao động tập thể ở doanh nghiệp nhà
nớc là 96%, doanh nghiệp ngoài quốc doanh là 26%, doanh nghiệp có vốn đầu t n-
ớc ngoài là 46%. Tỉ lệ ngời lao động có hợp đồng lao động ở doanh nghiệp nhà n-
ớc là 96% (64% hợp đồng lao động không xác định thời hạn), doanh nghiệp ngoài
quốc doanh là 84% (21% là hợp đồng không xác định thời hạn), doanh nghiệp có
vốn đầu t nớc ngoài là 85% (15% là hợp đồng không xác định thời hạn).{6,
tr20,21}
16
Công đoàn còn đề nghị với Quốc Hội giảm tuổi nghỉ hu cho những ngời lao
động (phần lớn là lao động nữ) trong các ngành cao su, dệt may, chế biến thuỷ sản
vì phải làm việc trong điều kiện nặng nhọc, độc hại, bị mắc bệnh do tác động của

phần hoá, hoạt động về môi trờng, an toàn vệ sinh lao động, tổng kết 10 năm
phong trào xanh, sạch, đẹp và thi đua lao động sáng tạo trong giai cấp công
nhân lao động.
Năm 2006, công đoàn đã tranh thủ trao đổi kinh nghiệm với công đoàn các
nớc và nhận đợc sự giúp đỡ về tài chính, kĩ thuật của công đoàn các nớc trong Tổ
chức Lao động quốc tế (ILO), của các tổ chức phi chính phủ (NGO). Hàng trăm l-
ợt cán bộ tham gia tập huấn về các chủ đề nh lao động, công đoàn, cơ chế ba bên.
Đồng thời, TLĐLĐVN và Liên hiệp quốc tế các công đoàn tự do (ICFTU)
phối hợp tổ chức thành công hội nghị mạng lới lao động khu vực châu á Thái
Bình Dơng lần thứ 12 trớc thềm hội nghị thợng đỉnh APEC. Hội nghị đã thu hút đ-
ợc 40 đại biểu từ các nớc APEC đại diện cho trung tâm công đoàn toàn quốc các
nền kinh tế APEC nhằm hớng tới một công đoàn APEC phát triển bền vững và
đảm bảo các quyền của ngời lao động, khuyến khích các nhà lãnh đạo APEC
thông qua các biện pháp cụ thể thúc đẩy sự tham gia của công đoàn trong APEC
và thành lập diễn đàn APEC.
Những kết quả trên đã chứng tỏ sự đổi mới của tổ chức công đoàn cũng nh
vai trò của công đoàn trong các lĩnh vực đời sống xã hội. Công đoàn đã góp phần
tích cực vào sự phát triển kinh tế xã hội của đất nớc, nâng cao vị thế trong xu thế
hội nhập, bảo vệ đợc quyền, lợi ích hợp pháp của ngời lao động.
2. Những hạn chế trong hoạt động công đoàn thể hiện trong một số lĩnh vực
cơ bản
Bên cạnh những kết quả đáng ghi nhận trên, hoạt động của công đoàn vẫn
còn nhiều tồn tại, yếu kém thể hiện trong các lĩnh vực cụ thể sau:
2.1. Hạn chế của công đoàn trong lĩnh vực học nghề và việc làm
Đợc học nghề và có việc làm là quyền của mỗi ngời đã đợc Nhà nớc quy
định trong Luật Hiến pháp và đợc cụ thể hoá tại điều 5 Bộ luật lao động Mọi ng-
ời đều có quyền làm việc, tự do chọn việc làm và nghề nghiệp, học nghề và nâng
18
cao trình độ nghề nghiệp, không bị phân biệt về giới tính, dân tộc, thành phần
xã hội, tín ngỡng tôn giáo . {9, tr5}

cho ngời lao động trở thành một gánh nặng cho sự phát triển kỹ thuật của đất n-
ớc. Theo số liệu của Bộ lao động thơng binh xã hội, hiện nay có khoảng 6,08% lao
động không đợc bố trí việc làm, khoảng 100.000 lao động còn trong danh sách của
doanh nghiệp nhng đang nghỉ chờ việc hoặc tự tìm việc làm mới (chủ yếu là lao
động trên các công trình xây dựng). Khả năng thu hút và tạo việc làm của Việt
Nam hiện nay chỉ đạt khoảng 6,3 triệu ngời trong đó số ngời cần việc làm lên tới
18 triệu ngời. Số lao động dôi d ngày càng tăng năm 2000 là 100.000 ngời, năm
2003 là 150.000 ngời trong các doanh nghiệp Nhà nớc. [22]
Sở dĩ có tình trạng mất cân đối giữa việc làm và học nghề xuất phát từ
những quy định của Nhà nớc. Các quy định của pháp luật chỉ quy định chung
chung nhiệm vụ, quyền hạn của công đoàn trong lĩnh việc làm, học nghề mà
không có một văn bản cụ thể, một chơng trình cho công đoàn trong từng cấp học,
từng ngành nghề. Nghị định 39/2003/NĐ-CP ban hành ngày 18/04/2003 quy định
chi tiết và hớng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật lao động về việc làm chủ yếu
giao cho Bộ lao động thơng binh xã hội. Trong khi đó, công đoàn với vai trò là tổ
chức đại diện cho ngời lao động thì chỉ đợc quyền tham gia giải quyết việc làm tại
các doanh nghiệp, đơn vị hữu quan mà không có vai trò trong việc tham gia hoạch
định chính sách việc làm nh Bộ lao động thơng binh xã hội.
Mặt khác, hoạt động của công đoàn trong các doanh nghiệp còn hạn chế.
Công đoàn cơ sở không có điều kiện, cũng nh không có đủ khả năng đào tạo nghề
và giải quyết việc làm cho ngời lao động. Công đoàn cơ sở cũng không có kinh phí
để tổ chức dạy nghề cho ngời lao động, đoàn phí công đoàn quá ít ỏi, đơn vị sử
dụng lao động không muốn tổ chức cho ngời lao động học nghề vì sợ tốn kém thời
gian, tiền bạc, ảnh hởng đến năng suất lao động, chủ sử dụng lao động sợ khi ngời
lao động đợc nâng cao tay nghề sẽ chuyển sang đơn vị khác. Cán bộ công đoàn
không biết cách thuyết phục ngời sử dụng lao động tổ chức cho ngời lao động đợc
nâng cao trình độ, tay nghề. Mọi quyết định về việc làm, học nghề cho ngời lao
động đều do chủ sử dụng lên phơng án, quy định chi tiết.ý kiến của công đoàn
cũng chỉ mang tính hình thức. ở nhiều doanh nghiệp, cán bộ công đoàn còn không
dám đề xuất ý kiến để giải quyết việc làm, bố trí việc làm cho ngời lao động vì sợ

Tuy nhiên trên thực tế, trong quá trình đàm phán, ký kết thoả ớc tập thể, kỹ
năng của cán bộ công đoàn còn hạn chế. Cán bộ công đoàn cơ sở cha hiểu biết
21
chính sách pháp luật nhất là luật lao động. Kỹ năng đàm phán, thơng lợng của cán
bộ công đoàn còn kém, cha đáp ứng đợc nhu cầu đặt ra. Trong quá trình chuẩn bị
cho một cuộc thơng lợng, phần đông cán bộ công đoàn cơ sở cha biết cách thu
thập và xử lý thông tin, xác định mục tiêu, nội dung cần thoả thuận trong thoả ớc,
lúng túng trong việc lấy ý kiến tập thể lao động và thành lập ban đại diện lao
động. Nhiều cán bộ công đoàn không biết cách tổ chức lấy ý kiến, thuyết phục tập
thể ngời lao động nhất là những ngời còn phân vân, cha có chính kiến. Cán bộ
công đoàn tại các doanh nghiệp vừa thiếu, vừa yếu nên sức thuyết phục của họ
với chủ sử dụng lao động còn hạn chế. Trớc khi thơng lợng rất ít trờng hợp cán bộ
công đoàn tìm hiểu đặc điểm tâm lý, t tởng, quan điểm của đối tác (ngời sử dụng
lao động) và các trờng hợp xảy ra trong quá trình đàm phán. Vì vậy, khi đàm phán
cán bộ công đoàn thờng lúng túng trong việc đa ra những yêu cầu có lợi cho ngời
lao động và xử lý các bế tắc về nội dung thơng lợng. Do vậy, phần lớn thoả ớc lao
động tập thể đợc ký kết chủ yếu rập khuôn theo Bộ luật lao động, không đem lại
kết quả có lợi hơn cho ngời lao động. Việc ký kết thoả ớc chỉ tăng về số lợng mà
chất lợng không cao. Nhiều doanh nghiệp ký kết thoả ớc chỉ nhằm mục đích tránh
sự rắc rối của cơ quan cấp trên trong quá trình kiểm tra chứ không xuất phát từ
việc bảo đảm quyền lợi cho ngời lao động.
2.3. Hạn chế của công đoàn trong lĩnh vực tiền lơng
Tiền lơng là vấn đề có liên quan trực tiếp đến quyền lợi của ngời lao động.
Đây là nguồn sống chính của họ và gia đình họ. Căn cứ vào nhu cầu tiêu dùng tối
thiểu của ngời lao động, chỉ số sinh hoạt, cung cầu lao động, Chính phủ quy định
mức lơng tối thiểu và điều chỉnh theo từng thời kỳ sau khi lấy ý kiến của
TLĐLĐVN và Bộ, ngành có liên quan. Hiện nay, mức lơng tối thiểu của công
nhân viên chức Nhà nớc là 450.000đ/tháng. Đối với doanh nghiệp có vốn đầu t n-
ớc ngoài (FDI) từ ngày 01/01/2007 lơng cho ngời lao động đợc nâng lên gồm ba
mức 710.000 đồng, 790.000 đồng, 870.000 đồng [28]

phối tiền lơng và thu nhập trong doanh nghiệp. Cán bộ công đoàn ở nhiều đơn vị
không có khả năng kiểm tra, giám sát số lợng, đơn giá tiền lơng của các phòng,
ban, đội sản xuất, không thực hiện đề xuất tăng lơng, nâng lơng với ngời sử dụng
23
lao động. Nhiều trờng hợp hội đồng xét nâng lơng của doanh nghiệp hàng năm
không có mặt của đại diện Ban chấp hành công đoàn.
Sở dĩ hoạt động của công đoàn trong lĩnh vực tiền lơng còn nhiều yếu kém
bởi cán bộ công đoàn cơ sở cũng là ngời làm công ăn lơng nên họ không dám
đứng lên bảo vệ lợi ích của ngời lao động vì sợ ảnh hởng đến bản thân mình. Mặt
khác, hoạt động công đoàn trong các doanh nghiệp cha thực sự mạnh, không có
phơng pháp thuyết phục ngời sử dụng lao động để đòi tăng lơng cho công nhân.
Khi có vi phạm của ngời sử dụng lao động trong lĩnh vực tiền lơng, cán bộ công
đoàn cũng không báo cáo lên công đoàn, cấp trên. Do kiến thức pháp luật còn hạn
chế, kỹ năng hoạt động còn yếu kém nên công đoàn không thực sự đóng vai trò
ngời bảo vệ giới thợ trong lĩnh vực tiền lơng.
2.4. Hạn chế của công đoàn trong việc đóng và trả bảo hiểm xã hội cho ngời
lao động
Mục đích của chính sách bảo hiểm xã hội là từng bớc mở rộng và nâng cao
việc đảm bảo vật chất, góp phần ổn định đời sống cho ngời lao động và gia đình
họ trong các trờng hợp ngời lao động bị ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh
nghề nghiệp, bị mất việc làm, chết, gặp rủi ro hoặc khó khăn khác. Cùng với Bộ
lao động thơng binh và xã hội, TLĐLĐVN thực hiện chức năng tham gia quản lý,
xây dựng chính sách, quản lý quỹ bảo hiểm xã hội, kiểm tra, giám sát quỹ đó.
Hoạt động của công đoàn cơ sở trong lĩnh vực bảo hiểm xã hội hết sức phong
phú và đa dạng. Cán bộ công đoàn phải tổ chức, tuyên truyền, giải thích cho ngời
lao động hiểu đợc lợi ích của việc tham gia bảo hiểm xã hội, nắm vững tâm t,
nguyện vọng của ngời lao động, phản ánh những bất cập trong chính sách bảo hiểm
xã hội ở cơ sở để tham gia và kiến nghị với công đoàn cấp trên và các cơ quan liên
quan xem xét, bổ sung chế độ chính sách bảo hiểm xã hội. Công đoàn còn giúp ng-
ời lao động ký hợp đồng lao động và đa nội dung bảo hiểm xã hội vào trong hợp

dám kiến nghị đề xuất với ngời sử dụng lao động. Vì vậy, nhiều trờng hợp ngời lao
động bị mất việc làm, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, bị chết, bản thân họ
cũng nh gia đình họ không đợc hởng các chính sách bảo hiểm dẫn đến tình trạng
kiện cáo kéo dài hàng năm trời.
2.5. Hạn chế của công đoàn trong lĩnh vực an toàn, vệ sinh lao động
Thời giờ làm việc đợc quy định: mỗi ngày làm không quá 8 tiếng, tuần
không quá 48 giờ (đối với các cơ sở kinh doanh), tuần không quá 40 giờ (đối với
25

Trích đoạn Những yêu cầu đặt ra với công đoàn Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế Đổi mới phơng thức hoạt động của công đoàn Công tác cán bộ
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status