1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN ĐẶNG LÊ TUYẾT TRINH
MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM TRONG SỰ VẬN ĐỘNG
CỦA TRUYỆN NGẮN VIỆT NAM HIỆN ĐẠI
QUA TRUYỆN NGẮN ĐỖ CHU VÀ NGUYỄN HUY THIỆP
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Lý luận văn học Hà Nội - 2012 2
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
Trước hết tôi xin chân thành cảm ơn thầy giáo Nguyễn Văn Nam đã tận
tình hướng dẫn, góp ý và động viên tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn
tốt nghiệp này.
Xin chân thành cảm ơn quý thầy cô trong Khoa Văn học - Trường Đại
học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Khoa Sau Đại học - Đại học Quốc gia Hà
Nội đã giảng dạy và nhiệt tình giúp đỡ tôi trong suốt thời gian khóa học.
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến thầy cô, đến các anh chị đồng nghiệp
của tôi tại Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội - nơi tôi công tác trong suốt
thời gian tham gia khóa học, đã ủng hộ, giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi hoàn
thành khóa học.
Những lời cảm ơn sau cùng, tôi xin dành cho bố mẹ, chồng và các em
trong gia đình đã hết lòng quan tâm, động viên và tạo điều kiện tốt nhất để tôi
hoàn thành luận văn này.
Đặng Lê Tuyết Trinh
4
LỜI CAM ĐOAN
TRONG DÒNG CHẢY LỊCH SỬ VÀ VĂN HỌC
1.1. Một số vấn đề về truyện ngắn 8
1.2. Truyện ngắn Đỗ Chu trong dòng chảy lịch sử và văn học trước Đổi mới 11
1.2.1. Vài nét về tác giả Đỗ Chu 11
1.2.2. Dòng chảy lịch sử và văn học trước Đổi mới và vị thế truyện ngắn
Đỗ Chu 12
1.2.2.1. Giai đoạn trước năm 1975 12
1.2.2.2. Giai đoạn sau năm 1975 15
1.3. Truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp trong dòng chảy lịch sử và văn học
đương đại 16
1.3.1. Vài nét về tác giả Nguyễn Huy Thiệp 16
1.3.2. Dòng chảy lịch sử - văn học sau Đổi mới và vị thế truyện ngắn
Nguyễn Huy Thiệp 17
Chương 2: MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM VẬN ĐỘNG VỀ NỘI DUNG
CỦA TRUYỆN NGẮN VIỆT NAM HIỆN ĐẠI
QUA TRUYỆN NGẮN ĐỖ CHU VÀ NGUYỄN HUY THIỆP
2.1. Sự tiếp cận, chiếm lĩnh hiện thực cuộc sống 23
2.1.1. Sự chiếm lĩnh hiện thực khách quan của Đỗ Chu 24
2.1.2. Sự chiếm lĩnh hiện thực đời sống của Nguyễn Huy Thiệp 28
2.2. Từ quan niệm về con người đến những kiểu nhân vật đặc trưng 34
2.2.1. Quan niệm nghệ thuật về con người và những kiểu nhân vật
trong truyện ngắn Đỗ Chu 35
6
2.2.1.1. Nhân vật đời thường với những vẻ đẹp thời đại, hòa mình vào
đời sống cộng đồng 36
2.2.1.2. Kiểu nhân vật có biểu hiện tiêu cực 40
2.2.2. Quan niệm nghệ thuật về con người và những kiểu nhân vật
trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp 43
2.2.2.1. Nhân vật đời thường phản ánh đúng bản chất xã hội hiện đại 45
Xét đến cùng thì bất cứ nền văn học nào cũng hình thành trên cơ sở
hiện thực nhất định, bất kì nhà văn nào cũng được thoát thai từ một môi
trường sống nào đó và bất cứ tác phẩm nào cũng soi chiếu một vấn đề nào đó
trong cuộc sống. Khi hiện thực đời sống có những biến đổi thì nhà văn sẽ là
người “thư ký trung thành” song hành và phản ánh hiện thực cuộc sống. Sau
năm 1975, đặc biệt là từ 1986, đời sống đặt ra yêu cầu bức thiết là phải đổi
mới toàn diện, sâu sắc. Văn học - một trong những hình thái ý thức xã hội tất
yếu cũng làm mới mình để đáp ứng yêu cầu này. Đổi mới như một nhu cầu tất
yếu của văn chương để phù hợp với đời sống xã hội.
Truyện ngắn, đó là một “kỳ quan nghệ thuật” nhỏ bé nhưng có sức
chấn động phi thường, là một trong những thể loại quan trọng của văn học
tất yếu cũng không nằm ngoài dòng chảy vận động ấy. Với đặc thù là một
thể loại nhỏ gọn và cơ động, truyện ngắn bắt nhịp rất nhanh với những biến
chuyển của đời sống. Tuy không phải là thể loại chủ chốt của nền văn học,
nhưng với thế mạnh riêng của một loại hình tự sự, truyện ngắn nhanh nhạy
len lỏi vào mọi ngóc ngách của xã hội, phản chiếu được toàn cảnh cuộc sống
trong từng mảnh ghép nhỏ. Trong quá trình đổi mới văn học đã gặt hái được
nhiều thành tựu nổi bật thì truyện ngắn là một trong những thể loại đi đầu.
Nhà phê bình Lã Nguyên từng nói: “So sánh là con đường tốt nhất để
khám phá chân lý. Muốn phân biệt mới - cũ, chắc chắn phải so sánh các giai
đoạn văn học trước và sau 1975” [37]. Đúng vậy, tư duy đổi mới văn học là
cả một hành trình với nhiều “vấp váp và trả giá” (Nguyên Ngọc), cùng sự
đóng góp âm thầm nhưng “quả quyết” của nhiều thế hệ nhà văn. Chúng tôi
muốn soi chiếu rõ hơn sự vận động này của truyện ngắn từ hai hiện tượng của
hai giai đoạn văn chương trước và sau năm 1975. Chọn hai hiện tượng văn
học Đỗ Chu và Nguyễn Huy Thiệp bởi đó thực sự là hai phong cách dường
8
như đối lập nhau và cũng là hai cá tính văn học điển hình cho hai thời kỳ văn
học. Đặc biệt truyện ngắn Đỗ Chu còn hiện diện ở cả hai chặng đường trước
năm 1987, “Những chuyện kể bất tận của thung lũng Hua Tát”, tác phẩm
đầu tay của Nguyễn Huy Thiệp được khởi đăng, song - tác phẩm này chưa
gây được tiếng vang trong dư luận. Phải đến khi “Tướng về hưu” trình làng
trên báo Văn nghệ số 24 ra ngày 20 tháng 6 năm 1987, và đặc biệt từ sau khi
chùm truyện “Kiếm sắc – Vàng lửa – Phẩm tiết ” liên tiếp ra mắt bạn đọc từ
tháng 4 năm 1988, dư luận về tác phẩm của ông mới trở nên sôi nổi, tạo thành
hai xu hướng: khẳng định và phủ định, trong đó xu hướng khẳng định giữ vai
trò chủ đạo.
Chỉ tính riêng trong giới phê bình văn học, không kể đến những bài
báo liên quan đến ông, có lẽ Nguyễn Huy Thiệp là hiện tượng gây tranh cãi
nhiều nhất trong suốt hai mươi năm qua. Nhà phê bình Phạm Xuân Nguyên
còn chủ sự cả tập Đi tìm Nguyễn Huy Thiệp, với rất nhiều ý kiến phê bình của
nhiều tên tuổi uy tín như Hoàng Ngọc Hiến, Đỗ Đức Hiểu, Greg Lockhart,
Lại Nguyên Ân… hay những nhà văn, nhà thơ đứng đối chiều như Trần Đăng
Khoa, Nguyễn Khoa Điềm, Hữu Thỉnh
2.3. Tình hình nghiên cứu truyện ngắn Việt Nam sau Đổi mới
Không khó để các nhà nghiên cứu văn học nhận ra sự biến đổi sâu sắc
và rõ rệt của truyện ngắn Việt Nam thời kỳ đổi mới. Các nhà phê bình đã
dành khá nhiều bút lực để đánh giá, nghiên cứu về thời kỳ phát triển này của
truyện ngắn. Các tác giả Vũ Tuấn Anh, Nguyễn Thị Bình, Nguyễn Thị Huệ
khẳng định, văn học đương đại phát triển theo xu hướng dân chủ hóa, có ý
nghĩa bổ sung, hoàn thiện những quan niệm hiện thực về con người cho văn
học giai đoạn trước. Đặc biệt các công trình, bài viết nhìn chung đều đánh giá
cao đóng góp của truyện ngắn trong việc phản ánh hiện thực đời sống xã hội.
Những đổi mới về nội dung tất yếu dẫn đến sự thay đổi về hình thức thể loại
10
truyện ngắn. Nhà phê bình Bùi Việt Thắng nhận xét: Về khía cạnh thi pháp,
truyện ngắn 1986 - 2000 đã trở nên phong phú về hình thức, phong cách và
bút pháp. Ngoài ra còn có nhiều bài viết phần lớn đều nêu lên những suy nghĩ,
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phần nội dung chính của luận văn gồm 3
chương:
- Chương 1: Truyện ngắn Đỗ Chu và Nguyễn Huy Thiệp trong dòng chảy lịch
sử và văn học
- Chương 2: Một số đặc điểm vận động về nội dung của truyện ngắn Việt Nam
hiện đại qua truyện ngắn Đỗ Chu và Nguyễn Huy Thiệp
- Chương 3: Một số đặc điểm vận động về nghệ thuật của truyện ngắn Việt Nam
hiện đại qua truyện ngắn Đỗ Chu và Nguyễn Huy Thiệp
12
NỘI DUNG
Chương 1
TRUYỆN NGẮN ĐỖ CHU VÀ NGUYỄN HUY THIỆP
TRONG DÒNG CHẢY LỊCH SỬ VÀ VĂN HỌC
Chúng tôi trình bày chương này như là sự giải thích một phần cho câu
hỏi tại sao chúng tôi lại chọn hai hiện tượng văn học Đỗ Chu và Nguyễn
Huy Thiệp để vẽ lại đồ thị vận động của truyện ngắn Việt Nam trước và sau
Đổi mới. Có thể nhận thấy hai nhà văn này là hai cây bút tiêu biểu, điển hình
cho hai giai đoạn văn học trước và sau Đổi mới. Từ cái nhìn so sánh, đối
chiếu hai thế giới nghệ thuật của hai nhà văn này, chúng ta có thể nhận thức
được tương đối chính xác diện mạo phát triển của truyện ngắn trong hai thời
kỳ văn học trên.
1.1. Một số vấn đề về truyện ngắn
Mặc dù thuật ngữ truyện ngắn ra đời muộn (khoảng cuối thế kỷ XIX)
nhưng bản thân truyện ngắn đã xuất hiện và tồn tại ngay từ buổi bình minh
của nhân loại, khi con người mới biết sáng tác văn chương. Trải qua hàng
ngàn năm, với bao biến cố thăng trầm trong tiến trình phát triển văn học và
số phận con người; (4) có sức chứa lớn.
Raymond Carver – một trong những bậc thầy truyện ngắn thế giới ghi
nhận: ngày nay “tác phẩm hay nhất, tác phẩm hấp dẫn và thỏa mãn nhất về
nhiều mặt, thậm chí có lẽ tác phẩm có cơ hội lớn nhất để trường tồn, chính là
tác phẩm được viết dưới dạng truyện ngắn”. Truyện ngắn với lợi thế nhỏ gọn
đang bùng nổ với tốc độ chóng mặt. Người đọc quen và thích đọc truyện
ngắn trong vài chục phút hoặc trong một vài giờ. Hơn nữa, sau nhiều năm
14
chiếm lĩnh văn đàn, thơ, kịch, tiểu thuyết dường như đang vắt kiệt về khả
năng hồi sinh và đổi mới thể loại. Trong khi đó truyện ngắn còn là mảnh đất
tương đối trống, điều này tạo điều kiện hết sức thuận lợi để các cây bút trẻ
khẳng định tài năng. Ở Việt Nam, truyện ngắn cũng vì thế mà nở rộ và đạt
được những thành tựu nổi bật.
Lịch sử phát triển của nền văn học hiện đại và đương đại Việt Nam gắn
liền với truyện ngắn. Là thể loại năng động, bộ xương cấu thành thể loại của
truyện ngắn luôn thay đổi do tác động của điều kiện lịch sử, văn hoá, xã hội.
Thế kỷ XX truyện ngắn Việt Nam phát triển liên tục và vượt trội lên trên tất
cả các thể loại, bắt đầu từ những năm hai mươi với sự đóng góp của Nguyễn
Bá Học, Phạm Huy Tốn, Hồ Biểu Chánh,… Đến những năm 1930 – 1945,
truyện ngắn phát triển vượt bậc với tên tuổi của Nguyễn Công Hoan, Thạch
Lam, Nam Cao, Kim Lân, Tô Hoài, Bùi Hiển, Vũ Bằng… Từ sau Cách mạng
tháng Tám, truyện ngắn có chững lại nhưng vẫn chảy liên tục với tên tuổi:
Trần Đăng, Vũ Tú Nam, Nguyên Ngọc, Nguyễn Khải, Nguyễn Quang Sáng,
Vũ Thị Thường, Lê Minh, Nguyễn Minh Châu… Trước 1975, do tác động
của điều kiện hoàn cảnh chiến tranh và yêu cầu của Đảng về một nền văn
nghệ cổ vũ, động viên cho hai cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc, văn học
nói chung, truyện ngắn nói riêng mang đặc trưng “ký hoá” và “sử thi hoá” rõ
nét. Trong điều kiện hoàn cảnh mới của đất nước sau 1975, thể loại nhạy cảm
này chắc chắn có những thay đổi quan trọng. Giới nghiên cứu cũng như giới
chiến” và “kháng chiến”. Nối tiếp những thành công từ các truyện đầu tay đó,
các tuyển tập truyện ngắn của Đỗ Chu đã ra đời. Với hơn 40 năm cầm bút, Đỗ
Chu đã miệt mài viết và thử sức với rất nhiều thể loại văn học như tiểu thuyết,
tùy bút, ký sự… nhưng bạn đọc nhớ tới ông nhiều hơn cả vẫn là với truyện
ngắn. Đỗ Chu đã vinh dự được nhận giải Nhà nước về văn học - nghệ
16
thuật năm 2001, giải thưởng Hội Nhà văn năm 2003 với tác phẩm Một loài
chim trên sóng, nhận giải văn học ASEAN năm 2004. Giải thưởng quốc tế
này thêm một lần nữa khẳng định đóng góp của Đỗ Chu đối với văn học
dân tộc đồng thời tôn vinh vị thế của văn học Việt Nam trên bản đồ văn
học khu vực. Hai tập truyện ngắn Chuyện màu hạ và Lão Mai gồm 35
truyện ngắn xuất sắc được chính nhà văn tuyển chọn và được Nhà xuất bản
Văn học in tháng 11/2010.
1.2.2. Dòng chảy lịch sử và văn học trước Đổi mới và vị thế
truyện ngắn Đỗ Chu
Con đường văn nghiệp của Đỗ Chu trải qua hai giai đoạn: trước và sau
năm 1975. Hai giai đoạn này đã chứng kiến những đổi mới nghệ thuật và tư
duy của nhà văn.
1.2.2.1 Giai đoạn trước năm 1975
Sau Cách mạng tháng Tám, đất nước ta phải tiếp tục trải qua ba mươi
năm chiến tranh giải phóng dân tộc. Lúc này vận mệnh đất nước được đặt lên
hàng đầu. Nhiệm vụ hàng đầu của cách mạng Việt Nam (trong đó có văn học
nghệ thuật) là phục vụ công cuộc kháng chiến kiến quốc, cổ vũ lòng yêu nước
và khơi dậy tinh thần chiến đấu, bảo vệ Tổ quốc. Văn học được xem như một
mặt trận và nghệ sỹ là chiến sỹ trên mặt trận ấy. Các nhà văn bị cuốn vào
không khí chính trị sôi nổi và hào hứng chuốt nhọn vũ khí văn chương để
phục vụ cho cách mạng. Trước hết đó là văn học phục vụ chính trị. Những
vấn đề chính trị trở thành nội dung trực tiếp của tác phẩm và nhà văn có nghĩa
vụ tuyên truyền những quan điểm chính trị, những nhiệm vụ của công tác
hướng trước hết vào việc ghi chép những thành tích, những chiến công,
những hành động tốt đẹp của con người trong lao động, chiến đấu, tức là
hướng ngòi bút của mình tới cuộc sống mới và con người mới. Đó là một
18
nguyên tắc sáng tác cơ bản, quan trọng của phương pháp sáng tác hiện thực
xã hội chủ nghĩa. Cơ sở xuất phát của phương pháp sáng tác này là quan niệm
về bản chất của hiện thực trong xã hội Việt Nam, ở đó cái tốt, người tốt chiếm
ưu thế, chủ nghĩa anh hùng là nét cơ bản của hiện thực, văn học chỉ cần phản
ánh hiện thực, ghi chép trung thực đời sống cũng đã đủ, cũng đã có ý nghĩa to
lớn. Nếu âm hưởng chính của chủ nghĩa hiện thực phê phán là sự phủ định thì
âm hưởng chủ đạo của phương pháp hiện thực xã hội chủ nghĩa chính là nhiệt
tình khẳng định, ca ngợi, là tiếng reo vui không ngớt về cuộc đời đổi mới.
Cảm hứng lạc quan, anh hùng phải là cảm hứng cơ bản của tác phẩm. Nguyên
lý sáng tác của các tác phẩm giai đoạn này là “phản ánh hiện thực trong xu
thế phát triển cách mạng của nó”. Nhà văn phải miêu tả cuộc sống sao cho
người đọc thấy yêu mến chế độ, tin tưởng vào thắng lợi của cách mạng, tin
tưởng vào tương lai của chủ nghĩa xã hội. Cái bi là một phạm trù được xem
như không tồn tại trong thời đại chiến thắng của chủ nghĩa xã hội, trong xã
hội mới, vì vậy cảm hứng bi không có lý do để tồn tại trong văn học cách
mạng giai đoạn này, mỗi biểu hiện của nỗi buồn, đau thương đều được coi là
dễ làm nảy sinh những tình cảm tiểu tư sản, tiêu cực, vì vậy nó phải được thay
thế bằng cảm hứng anh hùng. Truyện ngắn giai đoạn này nói chung và truyện
ngắn Đỗ Chu nói riêng cũng nằm trong quy luật sáng tác hiện thực xã hội chủ
nghĩa như vậy.
Hiện thực được phản ánh trong văn học 1945 - 1975 gắn bó chặt chẽ
với cuộc kháng chiến trường kỳ của dân tộc, âm vang hào khí thời đại. Đó là
một hiện thực vận động xuôi chiều và nhìn chung rất lạc quan (trừ một số bài
thơ chống Pháp có nói đến cái bi tráng). Lúc này, văn học là vũ khí đấu tranh
làm nhiệm vụ chiến đấu, hướng tới mục tiêu tất cả cho chiến thắng. Đặc biệt
giai đoạn văn học trên. Những truyện ngắn tiếp theo như Mê lộ, Mảnh vườn
xưa hoang vắng, Người của muôn năm trước, Họa mi hót, Một loài chim trên
20
sóng… lại là minh chứng cho sự đổi mới về cả tư tưởng và hình thức nghệ
thuật của truyện ngắn Việt Nam sau năm 1986. Lão Mai là tập hợp những
sáng tác của một nhà văn đã có nhiều trải nghiệm cuộc sống và trải nghiệm
văn hóa, để nhìn rõ thêm cuộc đời bằng con mắt minh triết phương Ðông,
chín chắn và tỉnh táo. Những tâm sự đa chiều của nhiều tầng lớp, nhiều phía
được ông rọi chiếu, chứ không bó hẹp ở phạm vi người lính, kể cả những
người do thời cuộc chính trị mà phiêu lạc. Chính vì thế Lão Mai làm rõ hơn
một Ðỗ Chu so với tập 1 – Chuyện mùa hạ: thuần Việt, sâu sắc, đằm thắm và
thâm trầm.
1.3. Truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp trong dòng chảy lịch sử
và văn học đương đại
1.3.1. Vài nét về tác giả Nguyễn Huy Thiệp
Nguyễn Huy Thiệp viết văn khá muộn, tác phẩm đầu tiên của anh ra
mắt bạn đọc khi đã 37 tuổi (Nguyễn Huy Thiệp sinh năm 1950). Con đường
đến với văn học của Nguyễn Huy Thiệp đầy bươn trải, sóng gió nhưng cũng
không thiếu hoa hồng. Ông viết rất nhiều thể loại khác nhau: truyện ngắn,
kịch bản sân khấu, kịch bản điện ảnh, tiểu luận văn chương và tiểu thuyết
mini nhưng để lại ấn tượng đặc biệt với người đọc là truyện ngắn. Nguyễn
Huy Thiệp đột ngột xuất hiện chùm truyện Những ngọn gió Hua Tát được
đăng trên báo văn nghệ (1987). Tiếp đó truyện Tướng về hưu đã gây chấn
động dư luận xã hội… Dần dần từng bước, bằng tài năng của mình, Nguyễn
Huy Thiệp đã chọc thủng được bức màn vốn dửng dưng, nằm trong trạng thái
tĩnh của công chúng. Nhắc tới anh, người ta nhớ Tướng về hưu gây xôn xao
văn đàn trong một thời gian dài, bởi một cách viết rạch ròi, lạnh lùng đến trần
trụi; nhớ Muối của rừng tưởng như không đâu, tẻ nhạt mà hóa ra lại đượm
nhiều ý vị thâm trầm, kín đáo và sâu sắc; nhớ Một thoáng Xuân Hương với
22
xã hội chủ nghĩa. Sau 1975, hoạt động dịch, giới thiệu nền văn học đương đại
Âu - Mỹ diễn ra sôi nổi. Các tác phẩm đoạt giả Nôben, các tác phẩm thuộc
nhiều trường phái nghệ thuật khác nhau như tượng trưng, siêu thực, hiện sinh,
hiện đại, hậu hiện đại được dịch và công bố rộng rãi. Ngay cả một số tác
phẩm văn học các nước xã hội chủ nghĩa từng bị cấm như thơ Akhơmatôva,
tiểu thuyết của Paxtécnác cũng được bày bán. Mảng văn học dịch này có tác
động không nhỏ tới quá trình đổi mới văn học ở Việt Nam. “Nó làm thay đổi
thị hiếu nghệ thuật của thanh niên. Nhiều nhà văn từng sáng tác trong thời kì
chiến tranh nhận ra rằng nếu tiếp tục sáng tác như cũ họ sẽ tự đánh mất độc
giả. Nghĩa là văn học dịch đã làm cho các nhà văn Việt Nam thấy cần phải đổi
mới cách viết”.
Nghị quyết 05 của Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng, trong
khi yêu cầu cụ thể hoá đường lối đổi mới trong lĩnh vực văn hoá văn nghệ:
“Đổi mới và nâng cao trình độ lãnh đạo, quản lí văn học nghệ thuật và văn
hoá, phát huy khả năng sáng tạo, đưa văn học nghệ thuật và văn hoá phát triển
lên một bước mới” đã thúc đẩy việc đổi mới tư duy và dân chủ hoá xã hội. Về
văn học – nghệ thuật, văn học nói chung và văn xuôi nói riêng dần tách chia
thành hai tuyến. Đổi mới vừa là cơ hội vừa là thử thách đối với mỗi nhà văn.
Trong bối cảnh xã hội được dân chủ hoá, đời sống văn học dần mang một sắc
diện mới trong quan niệm và cách đánh giá. Sự đa dạng về nhu cầu và thị hiếu
của người đọc được tôn trọng, thị trường văn học được hình thành theo đúng
quy luật vừa rộng rãi vừa khắc nghiệt của cung - cầu. Lịch sử xã hội luôn tác
động và chi phối đến văn học. Đó là một quy luật. Văn học Việt Nam sau năm
1975 cũng không nằm ngoài quy luật đó.
Là bộ phận nhạy cảm nhất của xã hội, văn học nghệ thuật hưởng ứng
hết sức mạnh mẽ đường lối đổi mới và thực thi ngay tư tưởng đổi mới trong
sáng tác, trong tác phẩm của các nhà văn, nhà thơ, nhà viết kịch, nhà lý luận
những tìm tòi sáng tạo của mình khi viết về các vấn đề phức tạp của cuộc
sống, mạnh dạn đưa ra những kiến giải của mình trước những tình huống,
những sự kiện và tính cách được miêu tả trong tác phẩm. Ở đây, đặt vấn đề
nhận thức lại mối quan hệ giữa văn nghệ và chính trị không phải là yêu cầu
tách rời văn nghệ với chính trị, như một số người đã nghĩ. Nhận thức này chỉ
giúp nhà văn hiểu rõ hơn đặc trưng của văn học cũng như vị trí và sứ mạng
riêng của mình đối với cuộc sống, khuyến cáo họ không chỉ nên minh họa các
khẩu hiệu, cổ vũ cho các phong trào, giúp vào việc thực hiện các chủ trương,
chính sách của nhà nước, mà phải miêu tả số phận của con người, mang đến
cho con người cái đẹp, tình yêu cuộc sống cũng như sự từng trải, làm phong
phú thêm kinh nghiệm sống của mỗi cá nhân, đồng thời phải nghiên cứu
những vấn đề của xã hội đang diễn ra hay đã lùi vào quá khứ, từ đó rút ra
những bài học, những tư tưởng mang tính khái quát, không chỉ quan trọng về
triết học, đạo đức, nhân sinh mà còn có thể mang ý nghĩa chính trị lớn lao.
Từ sau 1975, đất nước hoàn toàn thống nhất nhưng cũng là thời kỳ đầy
khó khăn và thử thách đối với dân tộc Việt Nam. Trong 10 năm đầu sau ngày
thống nhất đất nước (1975 - 1985), Việt Nam tập trung vào nhiệm vụ khôi
phục kinh tế, hàn gắn vết thương chiến tranh, thống nhất nước nhà về mặt
Nhà nước, cải tạo và phát triển kinh tế với những mong muốn tiến nhanh,
tiến mạnh tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội. Nhưng do hậu quả nặng nề của
cuộc chiến tranh, lại chịu sự bao vây, cấm vận của các thế lực thù địch, cộng
với sự chủ quan duy ý chí của chúng ta, nên đất nước Việt Nam lâm vào tình
trạng khủng hoảng kinh tế - xã hội sâu sắc. Kinh tế chậm phát triển, đời sống
nhân dân gặp nhiều khó khăn, chiến tranh biên giới xảy ra, các thế lực thù
địch bao vây, cô lập Việt Nam, niềm tin của nhân dân giảm sút Từ năm
1986, với tinh thần “nhìn thẳng vào sự thật”, Đảng Cộng sản Việt Nam đã đổi
25
mới tư duy, tiến hành công cuộc đổi mới toàn diện đất nước. Sự đổi mới này
đã mở ra chân trời mới cho văn học dân tộc.