Đặc điểm lịch sử phát triển của dân tộc Việt Nam - Pdf 26

1
PHẦN 1: MỞ ĐẦU
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Ngay từ buổi đầu dựng nước, cộng đồng dân tộc Việt Nam đã là
quốc gia đa tộc người. Trong quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc,
Việt Nam lại đón nhận thêm nhiều tộc người khác đến sinh sống cũng
như ghi nhận sự đóng góp của họ đối với sự phát triển đất nước. Lịch
sử của dân tộc càng dài bao nhiêu thì sự đóng góp ấy càng lớn bấy
nhiêu, được thể hiện trên nhiều khía cạnh, nhiều nội dung.
Từ ngày ra đời cho đến nay, Đảng ta luôn coi vấn đề dân tộc có
tầm quan trọng chiến lược đối với sự nghiệp cách mạng nước ta.
Chính sách dân tộc của Đảng là sự vận dụng đúng đắn, sáng tạo chủ
nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh vào hoàn cảnh cụ thể
Việt Nam. Cốt lõi đó không bao giờ đổi thay. Tuy nhiên tùy theo
nhiệm vụ cách mạng qua các thời kì mà chính sách dân tộc của Đảng
có những sự phát triển mới, nhất là giai đoạn công nghiệp hóa – hiện
đại hóa hiện nay. Chính vì vậy, việc hiểu rõ và nắm vững “ Đặc điểm
lịch sử phát triển của dân tộc Việt Nam” là điều cần thiết.
II. LỊCH SỬ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Vấn đề dân tộc, tộc người không phải là vấn đề mới. Nhiều cuộc
tranh luận, hội thảo khoa học đã diễn ra nhằm giải quyết vấn đề này
cũng như xác định vị trí của các tộc người trong quá trình dựng nước
và giữ nước. Thực hiện đề tài “Đặc điểm lịch sử phát triển của dân tộc
Việt Nam” tác giả tham khảo chủ yếu những tài liệu sau:
1. Đặng Nghiêm Vạn (1993), Quan hệ giữa các tộc người trong
một quốc gia dân tộc, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
Sách gồm 3 phần chính, nội dung lý giải một cách khoa học hàng
loạt các khái niệm cơ bản và mối quan hệ giữa các khái niệm: tộc
người, dân tộc, quốc gia Từ đó tác giả phân tích quá trình hình
thành, phát triển, đặc điểm của dân tộc Việt Nam. Đó là quá trình lâu
dài trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước, đó là đặc điểm đa dạng,

phức tạp xung quanh định nghĩa về dân tộc, tộc người và những nét
lớn về tình hình, đặc điểm cộng đồng quốc gia dân tộc Việt Nam và 54
tộc người anh em.
4. Phan Hữu Dật ( 2004), Góp phần nghiên cứu dân tộc học
Việt Nam, NXB CTQG, Hà Nội.
Sách gồm 765 trang, là tập hợp trên 20 trong tổng số 45 công
trình nghiên cứu của tác giả đã được công bố trong sách báo, tạp chí ở
trung ương và địa phương trong 5 năm từ 1998-2003. Nội dung cuốn
sách tập trung vào 3 vấn đề:
HVTH: Nguyễn Quốc Toàn – LSTG - K18
3
- Một số vấn đề tổng quan về dân tộc học.
- Một số vấn đề về dân tộc học Việt Nam
- Dân tộc học và chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta.
Tác giả đã nêu một cách toàn diện những vấn đề cơ bản về dân
tộc học trên cơ sở những thành tựu nghiên cứu và những nhận thức
mới, đặc biệt quan tâm về cộng đồng các dân tộc Việt Nam, văn hóa
và phát triển (ví dụ tác giả đã nghiên cứu đặc điểm tình hình các dân
tộc Tây Nguyên và những vấn đề đặt ra về chính sách phát triển). Khi
đề cập đến văn hóa và phát triển, tác giả cũng góp phần bàn về mối
quan hệ giữa kinh tế - sinh thái - văn hóa nhân văn, những yêu cầu
đưa tiến bộ khoa học kĩ thuật vào cuộc sống của đồng bào các dân tộc
thiểu số.
5. Đặng Nghiêm Vạn ( 2001), Dân tộc văn hóa tôn giáo, NXB
Khoa học xã hội, Hà Nội.
Là tác phẩm tập hợp một số trong hơn 200 công trình nghiên
cứu của tác giả thuộc ba lĩnh vực Dân tộc, Văn hóa, Tôn giáo. Sách
dày 1043 trang bàn về những vấn đề chung mang tính lý luận như dân
tộc, tộc người, văn hóa, tôn giáo; bên cạnh đó còn có những bài có
tính phát hiện, giới thiệu về một miền như Tây Nguyên hay về một tộc

phương pháp nghiên cứu sau:
+ Phương pháp tiếp cận hệ thống: cần phải coi toàn bộ quá trình
vận động phát triển của cộng đồng dân tộc Việt Nam là một hệ thống
liên hoàn, bao gồm các yếu tố hợp thành và có mối liên hệ hữu cơ.
Phương pháp tiếp cận hệ thống là cơ sở để trình bày các vấn đề trong
tiểu luận.
+ Phương pháp phân tích và suy nghĩ gián tiếp: Phân tích tổng
thể các điều kiện khách quan và chủ quan khiến cho sự giao lưu vận
động văn hoá trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam diễn ra sớm về
mặt thời gian, rộng về mặt phạm vi và chặt chẽ về mức độ.
+ Phương pháp liên ngành: Tác giả đặc biệt chú trọng phương
pháp này trong quá trình thực hiện bài viết.
Là một đề tài lịch sử, quan điểm khi nghiên cứu là tuân thủ
phương pháp lịch sử và phương pháp lôgic. Ngoài việc phân tích, so
sánh mối liên hệ giữa các sự kiện lịch sử, đề tài cố gắng trình bày các
luận điểm trên cơ sở bám sát sự kiện lịch sử, chân thực lịch sử, trình
bày lịch sử đúng với những gì như nó đã từng tồn tại.
HVTH: Nguyễn Quốc Toàn – LSTG - K18
5
PHẦN 2: NỘI DUNG
I. QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA DÂN
TỘC VIỆT NAM
1. Định nghĩa khái niệm
- Dân tộc hay quốc gia dân tộc (nation) là một cộng đồng chính
trị xã hội, được chỉ đạo bởi nhà nước, thiết lập trên một lãnh thổ nhất
định, có một tên gọi, một ngôn ngữ hành chính, một sinh hoạt kinh tế
chung, với những biểu tượng văn hóa chung tạo nên một tính cách dân
tộc.
Dân tộc được hình thành ban đầu là do sự tập hợp nhiều bộ lạc,
liên minh bộ lạc, sau này là của nhiều tộc người hoặc của nhiều bộ

(Philippin), cư dân Rục, Măng Coong (Việt Nam). Bởi vì đây là
những từ chỉ có thể dùng cho các cộng đồng người ở thời kì cách đây
hàng vạn năm, thời cộng sản nguyên thủy sống bằng săn bắn, hái
lượm, công cụ bằng đá. Còn những cư dân có trình độ phát triển kinh
tế - xã hội thấp kém vì lí do nào đo nhưng họ vẫn có tư duy phát triển,
một lối sống khác với tổ tiên.
+ “Bầy người ”, “bộ tộc”… không nên dùng để chỉ các tộc
người sống dưới chế độ chiếm nô, phong kiến, phương thức sản xuất
châu Á vì nó mang tính chất miệt thị, không đúng với khoa học.
Tương tự các thuật ngữ “nhân dân”, “nhóm tộc người” nên được tránh
dùng trong các sách báo khoa học vì quá mơ hồ.
+ Thuật ngữ “sắc tộc’, “sắc dân” là những từ không có trong từ
điển tiếng Hán, là sáng tạo của chế độ Mỹ - Diệm hay Mĩ - Thiệu,
nhằm chỉ các tộc người không phải Việt, Hoa và Khơme. Một số học
giả phương Tây dùng thuật ngữ này với ý nghĩa miệt thị, nhằm phân
biệt cư dân da đen và da màu.
+ Những thuật ngữ khác như: “dân tộc thiểu số”, “dân tộc ít
người”, “dân tộc dân số ít”, “dân tộc đa số” là dựa trên sự so sánh tỉ lệ
dân số của từng dân tộc trong một nước để gọi.
2. Quá trình hình thành và phát triển của dân tộc Việt Nam
2.1. Thời thượng cổ
Dựa trên những di chỉ khảo cổ học
1
được tìm thấy có niên đại
trong một thời kì ở các khu vực khác nhau đã chứng minh tính đa
dạng, thống nhất của cư dân Việt Nam. Điều đó cho thấy Việt Nam
sớm là nơi tụ cư của nhiều thành phần cư dân, thuộc các bộ lạc khác
nhau nhưng cùng chung một nguyện vọng xây dựng cuộc sống văn
1
Những di chỉ,di tích được trình bày chi tiết trong Đại cương Lịch sử Việt Nam, tập 1,

không bị đồng hóa mà còn tiếp thu có chọn lọc yếu tố văn hóa bên
ngoài để làm phong phú thêm văn hóa truyền thống.
2.3. Thời phong kiến
Bước vào thời kì độc lập, tự chủ, ý thức cộng đồng dân tộc
được thử thách và không ngừng được củng cố. Trong 5 thế kỉ đầu,
nhân dân từ miền núi đến miền xuôi phải liên tục chiến đấu và giành
được những chiến công hiển hách: chiến thắng quân Nam Hán trên
HVTH: Nguyễn Quốc Toàn – LSTG - K18
8
sông Bạch Đằng của Ngô Quyền, chiến thắng quân Tống của Lê Hoàn
và Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo kiệt xuất với 3 lần đại thắng quân
Nguyên-Mông, Lê Lợi đã làm khiếp vía quân Minh mà phải rút lui.
Bên cạnh những nhân vật điển hình là người Việt, trong mỗi cuộc
kháng chiến đều có đại biểu ưu tú của các tộc người miền núi như
Tông Đản, Thân Cảnh Phúc, Hoàng Kim Mãn…(thời Lý), Hà Bổng,
Hà Đặc, Hà Chương, Nguyễn Thế Lộc…(thời Trần), Ma Luân, Bế
Khắc Triệu, Phạm Cuông (thời Lê). Một trong những nguyên nhân
làm nên thắng lợi là nhờ vào sự đoàn kết, nhất trí giữa các tộc người.
Ngoài ý thức là thành viên của một tộc người, mọi người còn thấy
trong mình chảy dòng máu chung, có một trách nhiệm chung: dòng
máu Việt Nam và ý thức của người dân trước cảnh đất nước đang lâm
nguy.
Song song với việc đấu tranh để bảo vệ Tổ quốc, nhân dân ta
không ngừng đẩy mạnh sản xuất, phát triển kinh tế, khuyến khích văn
hóa. Đến đời vua Lê Thánh Tông, đất nước đạt được cảnh thái bình,
ấm no. Trong thời gian này, các dân tộc thiểu số tránh loạn lạc, nghèo
khổ đã kéo sang nước ta “an cư lạc nghiệp” ngày càng đông, chủ yếu
là tộc người Thái, Nùng, Dao, Hoa… Sự hòa hợp, tôn trọng giữa các
dân tộc được giữ gìn. Quan hệ giữa triều đình với nhân dân, đặc biệt
với các tộc người ở miền núi được chú trọng. Triều đình đã khéo léo

vùng các tộc người miền núi như Lê Duy Mật, Hoàng Công Chất,
Chàng Lía, Quang Trung, Nông Văn Vân. Tinh thần yêu nước, ý thức
dân tộc phát triển thêm một bước.
Cũng trong giai đoạn lịch sử này, Tổ quốc Việt Nam đón nhận
thêm nhiều dân tộc đến từ các nước láng giềng, làm phong phú thêm
thành phần dân tộc. Đó là dân tộc Nùng, Giáy, Bố Y, Sán Dìu, Hà
Nhì, Sán Chay, đặc biệt là người Hoa, các cư dân Tạng - Miến (đến từ
đất nước Trung Hoa); là tộc người Môn - Khơme ở vùng Quảng Bình,
Quảng Trị, Thừa Thiên-Huế, Quảng Nam, Kon Tum (đến từ Lào,
Campuchia). Họ là những người bị bóc lột thậm tệ hoặc sống trong
cảnh loạn lạc triền miên, hay bị thất bại trong các cuộc đấu tranh
chống triều đình phong kiến ở trong nước. Khi đến vùng đất mới, họ
đã tự nguyện gia nhập vào cộng đồng dân tộc Việt Nam như một
thành viên trong đại gia đình dân tộc Việt Nam, tham gia vào các cuộc
đấu tranh quyết liệt vì quyền sống và nghĩa vụ bảo vệ Tổ quốc.
2.4. Thời cận – hiện đại
Bước vào thế kỉ XIX, nhà Nguyễn đã thống nhất đất nước
nhưng lại duy trì chế độ cai trị độc đoán, tập trung quyền lực vào tay
vua, quyền lợi của nhân dân không được quan tâm. Loạn lạc, chiến
tranh không ngừng xảy ra. Chỉ trong 17 năm cầm quyền của Gia Long
HVTH: Nguyễn Quốc Toàn – LSTG - K18
10
đã có 50 cuộc khởi nghĩa lớn nhỏ. Dân mất niềm tin, triều đình hèn
nhát, xung đột lương giáo, các tộc người bất phục đã dẫn đến sự hủy
hoại của khối đoàn kết dân tộc, của sức mạnh toàn dân. Hậu quả là
Việt Nam trở thành thuộc địa của thực dân Pháp vào cuối thế kỉ XIX.
Để cai trị nước ta, Pháp dùng âm mưu thâm độc “chia để trị”
nhằm phá vỡ sự thống nhất của dân tộc, thực hiện chính sách chia rẽ
miền núi với miền xuôi, tộc người đa số với thiểu số, giữa các dân tộc
người thiểu số với nhau, chia rẽ lương giáo. Thế nhưng thực dân Pháp

1.1. Các dân tộc nước ta sinh sống trong những hệ sinh thái khác
nhau
Trên khắp lãnh thổ Việt Nam dường như nơi nào cũng có dấu
vết của sự sống của các dân tộc. Do yếu tố lịch sử và phương thức sản
xuất khác nhau nên các dân tộc không có lãnh thổ tộc người rõ rệt,
sống xen kẽ với nhau, tuy vậy mỗi dân tộc đều có vùng quần tụ đông
đảo của mình. Nếu trước đây, người Việt ít có mặt ở miền núi thì ngày
nay có mặt ở khắp mọi nơi, đông nhất là đồng bằng sông Hồng và
đồng bằng sông Cửu Long. Có rất nhiều dân tộc sống ở rừng núi,
trung du, dọc biên gới như các dân tộc miền núi phía Bắc, dọc sườn
núi phía Tây các tỉnh Bắc Trung Bộ hay các dân tộc Trường Sơn-Tây
Nguyên-Đông Nam Bộ. Người Tày và Nùng ở các tỉnh Việt Bắc,
người Thái ở Tây Bắc và miền núi khu 4 cũ, người Mường ở Hòa
Bình, người Mèo ở một số vùng cao các tỉnh Hà Tuyên, Hoàng Liên
Sơn, Sơn La, Lai Châu. Một số dân tộc với số dân không đông chỉ
sống tập trung tại một số làng, xã: người Sila ở bàn SeoHay, người La
Hủ ở hai xã Pa Ủ và Pa Về Sủ huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu, người
La Chí ở xã Bản Phùng, huyện Xín Mần, tỉnh Hà Tuyên, người Tu Dí
ở huyện Mường Khương tỉnh Hoàng Liên Sơn.
2
Tiến dần vào phía Nam trên quần đảo Ngọc Linh - nóc nhà của
miền Nam Trung Bộ và Nam Bộ là nơi cư trú của nhiều dân tộc:
người Giẻ Triêng ở phía Bắc và phía Tây huyện Đắc lây (Gia Lai-Kon
Tum) và Phước Sơn (Quảng Nam-Đà Năng); người Xơ Đăng ở phía
Đông và Nam huyện Đắc Tô và Công Plông (Gia Lai-Kon Tum);
người Hrê cư trú ở gần người Xơ Đăng tại phía Tây tỉnh Nghĩa Bình.
Lùi xuống phía Nam Kon Tum, miền trung gian giữa miền núi
cao nguyên Ngọc Linh ở phía Bắc và vùng cao nguyên đất đỏ Plâycu
ở phía Nam, là nơi sinh sống của người Bana. Dân tộc Giarai quần cư
khá tập trung thành vạt dài, tiếp giáp với người Xơ Đăng ở phía Bắc

dạng trong địa bàn cư trú, sự phong phú trong hoạt động kinh tế - xã
hội và sự phát triển văn hóa của các dân tộc.
1.2. Các dân tộc nước ta có hình thái cư trú đa dạng
Do ví trí địa lí đặc biệt, từ xa xưa trên đất nước ta đã diễn ra
nhiều làn sóng di cư, từ Bắc xuống, từ Nam lên, từ Tây sang, mà chủ
yếu là từ Bắc xuống. Những đợt di cư ấy kéo dài cho đến trước cách
mạng tháng Tám, thậm chí có bộ phận kéo dài sau cách mạng tháng
Tám. Thường đây là những đợt di cư lẻ tẻ, từng đợt. Ngoài ra còn có
những cuộc vận động định canh định cư, vận động đồng bào miền
xuôi lên tham gia xây dựng kinh tế, phát triển văn hóa miền núi trong
HVTH: Nguyễn Quốc Toàn – LSTG - K18
13
những năm qua của Đảng và nhà nước ta. Hàng chục vạn đồng bào
miền xuôi lên miền núi, nhiều thanh niên các dân tộc rời thôn xóm đến
các xí nghiệp, công trường, nông trường làm việc. Như vậy sự gia
tăng về số tộc người và dân số làm cho bản đồ cư trú của các dân tộc
thường xuyên thay đổi, phức tạp, làm cho sự phân bố dân cư vừa
mang tính chất tập trung vừa mang tính chất xen kẽ cao. Điều đó được
biểu hiện trên qui mô toàn quốc và trên từng địa phương.
Người Tày có mặt ở nhiều địa phương nhưng tập trung đông
đảo ở các tỉnh Việt Bắc cũ. Trong đó đông nhất ở Cao Bằng, Lạng
Sơn, Bắc Kạn. Cao nguyên Kon Tum-Gia Lai là nơi quần cư của
người Bana, Xơđăng, Gia Rai, Brâu,…Những địa bàn sinh sống tập
trung của các tộc người nêu trên bắt nguồn từ dấu ấn lãnh thổ từ xa
xưa của họ. Đây là yếu tố quan trọng để có thể tìm về nguồn gốc của
từng dân tộc cũng như đặc điểm sinh hoạt văn hóa - kinh tế của họ.
Bên cạnh việc sống tập trung tại một số địa phương nhất định,
hình thái cư trú của các dân tộc tại Việt Nam còn mang đặc điểm phân
tán, xen kẽ hay còn gọi là “xen kẽ, cài răng lược”.
3

lẫn nhau hơn. Trên cơ sở đó phát triển tinh thần đoàn kết giữa các
cộng đồng tộc người Việt Nam. Tuy nhiên chính cuộc sống xen kẽ
cũng sẽ dễ làm nảy sinh những xích mích trong cuộc sống đời thường,
hoặc do tập quán khác nhau, hoặc do va chạm về lợi ích. Vì vậy nếu
Đảng và nhà nước không kịp thời xử lí sẽ tạo kẽ hở để các thế lực thù
địch phá hoại an ninh chính trị.
2. Quá trình phát triển tộc người của các dân tộc Việt Nam diễn
ra theo nhiều khuynh hướng khác nhau nhưng xu hướng cố kết,
hòa hợp, qui tụ lại trong cộng đồng dân tộc Việt Nam thống nhất
là xu hướng cơ bản nhất, rõ nét nhất
2.1. Xu hướng phân li
Trong quá trình phát triển, thành phần các tộc người trải qua
các giai đoạn phát triển lịch sử càng trở nên phong phú, phức tạp. Do
sự gia tăng về số lượng các thành viên, do nhu cầu kiếm thêm những
vùng đất đai mới để tiến hành sản xuất kinh tế, do trình độ cũng như
khả năng, kinh nghiệm quản lý có hạn… nên từ một khối thống nhất
các dân tộc chia thành nhiều nhóm nhỏ, phân tán đi các nơi. Những
cuộc di cư lớn nhỏ diễn ra trong lịch sử đã không ngừng xảy ra, góp
phần đẩy mạnh quá trình phân ly. Kết quả là sự xuất hiện các nhóm
địa phương mà ranh giới không phải dễ xác định. Người Nùng được
chia làm các nhóm Nùng An, Nùng Phàn Sinh, Nùng Lòi, Nùng
Cháo… Người Thái chia ra Thái Đen, Thái Trắng… Người Dao lại
chia làm các nhóm Đại Bản, Tiểu Bản, Quần Trắng, Quần Chẹt…
Người Mnông ở Tây Nguyên có đến 17 nhóm như Gar, Preh, Nong,
Díp… Người Cơho gồm Srê, Nôp, Kơ Đon…
HVTH: Nguyễn Quốc Toàn – LSTG - K18
15
Sự góp mặt của các tộc người vào thành phần các dân tộc Việt
Nam cũng diễn ra vào những thời điểm, giai đoạn khác nhau. Có dân
tộc được coi là cư dân bản địa, hiện diện trong suốt quá trình dựng

), Tràng Định, Văn Lãng, Bình Gia (Lạng Sơn ), chợ Đồn (Bắc Cạn )
đang có sự giao lưu văn hóa ngày càng nhiều làm cho ranh giới giữa
họ mờ nhạt, sự kết hợp diễn ra một cách mạnh mẽ. Cũng có trường
4
Khổng Diễn (1995), Dân số và dân số tộc người ở Việt Nam, Hà Nội, tr 127.
HVTH: Nguyễn Quốc Toàn – LSTG - K18
16
hợp nhóm người vốn tách ra từ một cộng đồng trong thời kỳ xa xưa,
sau những biến động lịch sử đã đến và định cư ở Việt Nam ở những
địa bàn khác nhau nhưng dần xích lại gần nhau, hòa vào nhau thành
một dân tộc thống nhất. Chúng ta có thể thấy trường hợp người Cơho
hiện nay là sự cố kết của các nhóm Srê, Nôp, Tố La, Kơ Đon hoặc
cộng đồng người Cơ Lao là sự hòa hợp của nhóm Cơ Lao Trắng và
Cơ Lao Xanh.
b. Xu hướng đồng hóa (assimilation) là hiện tượng những
nhóm người khác nhau về ngôn ngữ, văn hóa sống xen kẽ, gần gũi với
các dân tộc khác dần dần hòa vào dân tộc đó và trở thành một nhóm.
Quá trình đồng hóa chia làm hai dạng: đồng hóa tự nhiên và đồng hóa
cưỡng bức. Có thể đồng hóa cả nhóm, một bộ phận hoặc một số ít
người.
Ví dụ một bộ phận của nhóm La Ha, Kháng ở Tây Bắc đã hòa
vào người Thái. Ở Tây Nguyên hiện tượng này xảy ra ở nhiều nhóm.
Nhóm Lạt hoặc một bộ phận của nhóm Chil xuất phát là những nhóm
của tộc người Mnông nhưng vì sống xen kẽ với các nhóm của người
Cơho nên dần chuyển sang là người Cơho. Hoặc trong thành phần cư
dân Tày có nhiều người có nguồn gốc là người Nùng, Giáy, Dao hay
Kinh. Đó là hiện tượng đồng hóa tự nhiên, diễn ra do nhu cầu của
cuộc sống thực tế. Trong quá trình phát triển các tộc người ở miền
Bắc, trước cách mạng tháng Tám mới chỉ là đồng hóa bộ phận chứ
chưa phải đồng hóa toàn bộ. Sự đồng hóa diễn ra theo hai chiều qua

Hoặc trong ngôn ngữ của người Kinh có nhiều yếu tố của các
ngôn ngữ Tày-Thái, Môn-Khơme và Mã Lai. Điều đó phản ánh quan
hệ hòa hợp giữa các tộc người trên lãnh thổ nước ta. Và các tộc người
khi đã hòa hợp với người Kinh thì không mất đi mà đã góp phần xây
dựng nên dân tộc đa số, xây dựng nên truyền thống đoàn kết. Truyền
thống này được thử thách trong lịch sử và trở thành một đặc điểm của
dân tộc Việt Nam. Từ khi nhà nước Văn Lang của các vua Hùng được
xây dựng, dân tộc Việt Nam đã trải qua nhiều cuộc chiến tranh để bảo
vệ nền độc lập, giang sơn. Trong mỗi thời đại đi qua, bên cạnh dấu ấn
của những cá nhân kiệt xuất là tinh thần đồng lòng, đồng sức cùng
nhau chống kẻ thù chung của toàn thể dân tộc Việt Nam. Đời nhà
Trần, các dân tộc miền núi phía Bắc cùng người Kinh chiến đấu chống
giặc Nguyên - Mông. Cuộc khởi nghĩa của Lê Lợi chống ách đô hộ
của nhà Minh, tụ nghĩa ở vùng người Mường (Thanh Hóa) và lập nên
chiến công ở ải Chi Lăng. Rồi bao nhiêu cuộc nổi dậy của các dân tộc
nước ta dưới thời thuộc Pháp. Năm 1901 người Xơ Đăng ở Đắc Tô
nổi dậy, năm 1905 đồng bào Ba Na ở An Khê, Kon Chorah đấu tranh
chống ách thực dân… Cứ thế các dân tộc Việt Nam, không phân biệt
HVTH: Nguyễn Quốc Toàn – LSTG - K18
18
thành phần, miền xuôi hay miền ngược, dưới sự lãnh đạo của Đảng và
Bác Hồ đã làm nên những chiến công vang dội: Việt Bắc, Điên Biên
Phủ, Tây Nguyên, Buôn Ma Thuột… Từ đặc điểm này chủ tịch Hồ
Chí Minh đã đúc kết một chân lý nổi tiếng:
“Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết
Thành công, thành công, đại thành công”
Có một điều đáng chú ý là “trong sự phát triển hiện nay, ở mỗi
tộc người không phải chỉ diễn ra một quá trình phát triển, đơn tuyến
mà nó diễn ra nhiều chiều và đa tuyến”.
5

không chỉ nhằm mục đích bảo vệ mùa màng mà còn là sinh hoạt của
một xã hội thượng võ. Các nghề thủ công kém phát triển. Quan hệ trao
đổi hàng hóa diễn ra khắp các vùng, trong các dân tộc. Đặc biệt trước
đây, ở Tây Nguyên-Trường Sơn có hoạt đông của các thương đoàn.
Tuy hình thức trao đổi có đa dạng nhưng số lượng hàng chưa nhiều,
phạm vi trao đổi chỉ diễn ra trong từng khu vực nhất định, thời gian
nhất định nên chưa xuất hiện tầng lớp thương nhân chuyên nghiệp.
Ở đây tổ chức xã hội duy nhất và đơn giản nhất là làng. Ruộng
tư hữu xuất hiện nhưng các thành viên trong làng luôn đề cao ý thức
về sở hữu tập thể. Tuy theo từng dân tộc, tổ chức gia đình có khác
nhau mà duy trì chế độ mẫu hệ (như Êđê, Giarai, Cơchuru…) hay phụ
hệ (như Bana, Hrê, Co, Xtiêng) hoặc theo song hệ (Xơ Đăng,
Giétriêng). Xã hội chưa có sự phân hóa giai cấp, chỉ tồn tại sự chênh
lệch giàu nghèo. Đã có hiện tượng tích lũy tư bản ban đầu nhưng mới
bằng những tài sản phi sản xuất, những đồ trang sức… Có thể nói các
dân tộc Trường Sơn-Tây Nguyên có trình độ phát triển kinh tế xã hội
thấp nhất.
3.2. Các dân tộc ở vùng biên giới phía Bắc, biên giới Việt –Lào có
trình độ phát triển kinh tế - xã hội thấp. Đây là những tộc người có
dân số ít, sống phân tán ở vùng cao thuộc nhóm ngôn ngữ Môn –
Khơme, Tạng – Miến, Kađai và một bộ phận Việt – Mường ở Quảng
Bình. Ở vùng rẻo cao và rẻo giữa, cư dân chủ yếu làm nương. Do
năng suất nương rẫy thấp kém, bấp bênh, do phải du canh, du cư, cư
dân có cuộc sống nghèo nàn, lạc hậu. Mặt khác do hình thái canh tác
này hủy hoại môi trường sống, dẫn đến thiên tai trực tiếp đe dọa đời
sống của cư dân, tác hại đến cả cư dân thấp ở miền núi và đồng bằng.
Chăn nuôi còn phụ thuộc vào trồng trọt vì điều kiện khí hậu, thời tiết
ẩm thấp, thiếu những cách đồng cỏ lớn. Các dân tộc cũng đã tiến hành
sản xuất một số nghề thủ công nhất định nhằm sản xuất hàng tiêu
dùng, trao đổi. Do đặc điểm hình thái nêu trên, nền kinh tế cổ truyền

vùng 2, sự hợp thành một mường thường do sự quy tụ của nhiều bản
vào một bản lớn, nơi chúa đất và gia đình quý tộc cư trú. Chúa đất
được coi là tượng trưng cho quyền lực của toàn thể bản mường nên tất
cả đất đai, ruộng nương, rừng núi, suối sông và mọi người cư trú trên
đó đều thuộc về chúa đất. Ruộng đất trên danh nghĩa là ruộng công
nhưng chúa đất chiếm hữu phần lớn để làm lương bổng cho bản thân,
gia đình và các chức dịch với danh nghĩa là ruộng chúa, ruộng chức.
Một số ruộng còn lại chia cho người dân trong bản. Người nhận ruộng
phải có trách nhiệm với mường, cụ thể là phải đóng thuế bằng địa tô,
hiện vật, tiền hay lao dịch. Như vậy tuy chưa rõ nét nhưng đã xuất
hiện việc phân chia giai cấp trong xã hội. Giai cấp quý tộc phong kiến
bao gồm chúa đất, các chức dịch thượng đẳng sống chủ yếu ăn bám,
HVTH: Nguyễn Quốc Toàn – LSTG - K18
21
không lao động. Nông dân lao động cũng bị phân hóa. Với đặc điểm
đó các nhà khoa học coi xã hội của nhóm, tộc người nói trên mang
tính chất của một xã hội thuộc “phương thức sản xuất châu Á”.
3.4. Người Chăm và người Khơme cũng có trình độ phát triển tương
đương với các nhóm dân tộc nêu trên. Tuy nhiên nghề thủ công khá
phát triển với nhiều ngành khác nhau, đặc biệt là ngành kiến trúc, điêu
khắc trên đá, nghề dệt.
Xã hội của người Chăm và người Khơme có nhiều đặc điểm
mang tính riêng biệt tộc người. Đó là những xã hội có trình độ phát
triển cao, phân hóa giai cấp khá sâu sắc, gần như xã hội của người
Việt ở đồng bằng sông Cửu Long và cực Nam Trung Bộ. Những đẳng
cấp, tôn giáo hay quý tộc thuộc tầng lớp trên trong xã hội nắm nhiều
ruộng đất và có nhiều của cải. Tầng lớp bình dân, tôi tớ nhiều khi phải
làm tá điền cho địa chủ, nhận ruộng và nộp tô.
Người Khơme cũng như người Chăm cư trú trong các thôn xóm
(plây, phum, sóc). Ảnh hưởng tôn giáo đối với đời sống của người

tố văn hóa độc đáo mang sắc thái riêng.
4.1. Nói đến sắc thái văn hóa là nói đến văn hóa vùng và văn hóa
tộc người.
Khi xem xét văn hóa vùng có thể chia thành:
- Vùng văn hóa Việt Bắc
- Vùng văn hóa Tây Bắc và miền núi Bắc Trung Bộ
- Vùng văn hóa Trường Sơn – Tây Nguyên
- Vùng văn hóa Nam Bộ
Ngoài ra tính đa dạng của văn hóa các dân tộc còn được thể
hiện ở sắc thái văn hóa các tộc người dưới ba cấp độ. Trước hết là sắc
thái văn hóa của các dân tộc gần gũi nhau về ngôn ngữ như Việt –
Mường, Môn – Khơme, Tày – Thái Thứ hai là sắc thái văn hóa của
các nhóm trong nội bộ một dân tộc như trong văn hóa Thái có văn
hóa Thái đen, văn hóa Thái trắng; văn hóa dân tộc Mông thì có:
Trắng, Đen, Xanh, Đỏ, Hoa… Thứ ba là sắc thái văn hóa của từng dân
tộc, ví dụ dân tộc Thái làm ruộng nước ở thung lũng núi, dân tộc Dao
làm nương rẫy ở rẻo giữa, lưng chừng núi…
Văn hóa của mỗi tộc người là tổng thể các yếu tố:
- Tiếng nói
- Văn hóa sàn xuất, văn hóa vất chất, văn hóa tinh thần, văn hoá xã hội
- Lối sống, phong cách sống, cách ứng xử đối với môi trường tự
nhiên, môi trường xã hội, giữa con người với con người, giữa con
người với cộng đồng
- Sắc thái tâm lí, tình cảm, quan niệm về chân thiện mĩ, về vũ trụ,
nhân sinh
- Tập quán trong sinh hoạt đời thường, lễ nghi, tín ngưỡng…
HVTH: Nguyễn Quốc Toàn – LSTG - K18
23
Như vậy khi xem xét văn hóa các dân tộc dưới góc độ vùng, ta
dễ dàng nhận thấy văn hóa các dân tộc có đủ các cảnh quan: châu thổ,

độc đáo trên các tác phẩm điêu khắc, những ngôi chùa của người
Khơme, nhà rông của cư dân Tây Nguyên. Về văn hóa dân gian, dân
tộc Ê đê có trường ca Đam San, dân tộc Mường có sử thi Đẻ đất đẻ
HVTH: Nguyễn Quốc Toàn – LSTG - K18
24
nước, người Thái có Sống chụ xôn xao, người Hmông có Tiếng hát
làm dâu… Về các loại nhạc cụ có đàn đá Khánh Sơn và nhiều nơi
khác ở Tây Nguyên, cồng chiêng của người Mường. Đặc biệt dân tộc
Lô Hô ở Hà Giang và dân tộc Giáy ở Lào Cai đang còn sử dụng trống
đồng trong tang lễ…
Đặc điểm chủ yếu và bao trùm của văn hóa các tộc người nước
ta là thống nhất trong đa dạng, cho nên đường lối, chính sách văn hóa
của nhà nước ta là phải bảo tồn và phát huy, đồng thời chú ý kết hợp
hài hòa truyền thống và hiện đại. Văn hóa cũng như một cơ thể sống,
nó không bao giờ đứng yên mà luôn chịu sự tác động của những yếu
tố nội và ngoại sinh. Nếu văn hóa khép kín, không giao lưu bên ngoài
thì sớm muộn sẽ đi vào con đường lụi tàn, khi đó chủ nhân của nó
cũng sẽ biến khỏi vũ đài lịch sử. Khi mở cửa, văn hóa mỗi tộc người
lại phải chọn lọc những yếu tố phù hợp. Thực hiện tốt điều đó sẽ tạo
điều kiện cho văn hóa mỗi tộc người ngày càng đóng góp nhiều vào
văn hóa chung của dân tộc.
III. ĐẶC ĐIỂM CỦA CỘNG ĐỒNG DÂN TỘC VIỆT NAM
1. Dân tộc Việt Nam là một cộng đồng chính trị - xã hội được
hợp thành bởi các tộc người cùng chung sống, là một quốc gia dân
tộc đa tộc người.
Đây là đặc điểm số một thể hiện tính thống nhất và đa dạng của
dân tộc Việt Nam, phù hợp với xu thế phổ biến của quá trình hình
thành các quốc gia – dân tộc trên toàn thế giới, kể cả phương Đông lẫn
phương Tây. Đặc điểm này phản ánh quy luật phát triển khách quan
của từng thành phần cấu thành dân tộc - các tộc người – do yêu cầu cố

tập quyền với hệ thống chính quyền được thiết lập từ trung ương đến
địa phương. Do sự phát triển không đồng đều giữa các tộc người nên
nhà nước đã định ra những hình thức tổ chức chính quyền, các luật lệ,
chính sách phù hợp trong quá trình cai trị. Điều đó có tác dụng là
chính quyền trung ương với tay sâu hơn đến các địa phương, phát huy
ý thức tộc người và tạo cho họ tinh thần tự giác, tự nguyện phục vụ
chính quyền.
Tổ chức chính quyền ngay từ buổi ban đầu được xây dựng trên
một cái nôi vững chắc là vùng trung du, đồng bằng Bắc Bộ và Bắc
Trung Bộ. Về bản chất, chính quyền phong kiến trước đây là muốn áp
bức, bóc lột các tộc người trong nước nhưng trước lợi ích sống còn
của dân tộc và của chính bản thân, họ phải thi hành chính sách mềm
dẻo nhằm lôi kéo các tù trưởng, các tộc người. Điều này khách quan
mà nói đã tạo điều kiện phát huy quan hệ bạn bè thân ái giữa người
Việt và cư dân các tộc người khác, làm cho quan hệ này trở thành
truyền thống, xu thế chủ yếu của lịch sử. Như vậy nhìn chung trong
quá trình phát triển của lịch sử, chính quyền trung ương có trách
HVTH: Nguyễn Quốc Toàn – LSTG - K18


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status