ĐẠI HỌC HUẾ
ĐẠI HỌC NGOẠI NGỮ
KHOA TIẾNG TRUNG
BÁO CÁO TỔNG KẾT
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP TRƯỜNG
Tên đề tài:
ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ VĂN HÓA TỪ XƯNG HÔ
TRONG GIA ĐÌNH CỦA TIẾNG VIỆT
VÀ TIẾNG TRUNG
Giảng viên hướng dẫn: Chủ nhiệm đề tài:
Ths Nguyễn Linh Tú Lê Hoàng Sang
Huế, ngày 31 tháng 12 năm 2013
1
DANH SÁCH NGƯỜI THAM GIA THỰC HIỆN ĐỀ TÀI
Lê Hoàng Sang. Lớp Trung BD K7
Nguyễn Thị Lánh. Lớp Trung PD K7
2
MỤC LỤC
3
TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
ĐỀ TÀI KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP TRƯỜNG
Tên đề tài:
ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ - VĂN HÓA TỪ XƯNG HÔ
TRONG GIA ĐÌNH CỦA TIẾNG VIỆT VÀ TIẾNG TRUNG
Mã số:
Chủ nhiệm đề tài: Lê Hoàng Sang
E-mail: [email protected]
Cơ quan chủ trì đề tài: Khoa tiếng Trung, Đại học ngoại ngữ, Đại
học Huế
như sau:
• Làm rõ đặc điểm ngôn ngữ - văn hóa từ xưng hô trong gia đình của
tiếng Việt và tiếng Trung thể hiện trên phương diện kết cấu.
Trước hết, đề tài đã trình bày một cách hệ thống hóa những khái niệm cơ
bản liên quan đến xưng hô và từ xưng hô, đồng thời đi sâu phân tích phương
thức kết cấu từ xưng hô trong trong gia đình của tiếng Việt và tiếng Trung. Từ
đó, đề tài đã làm rõ được những đặc điểm ngôn ngữ - văn hóa từ xưng hô trong
gia đình của tiếng Việt và tiếng Trung thể hiện trên phương diện kết cấu.
• Đặc điểm ngôn ngữ - văn hóa từ xưng hô trong gia đình của tiếng Việt
và tiếng Trung thể hiện qua hoạt động xưng hô và cách lựa chọn từ
xưng hô.
Thông qua khảo sát, phân tích hoạt động xưng hô trong gia đình, mà cụ
thể là của hai mối quan hệ hạt nhân trong gia đình là vợ chồng và cha mẹ với
con cái, của tiếng Việt và tiếng Trung, đề tài đã làm rõ được những đặc điểm
ngôn ngữ - văn hóa hàm chứa trong từ xưng hô của cả hai ngôn ngữ.
5
• Chỉ ra điểm tương đồng và khác biệt giữa tiếng Việt và tiếng Trung về từ
xưng hô trong gia đình.
Trên cơ sở những kết quả đạt được khi phân tích nghiên cứu từ xưng
hô trong gia đình của tiếng Việt và tiếng Trung, đề tài đã tiến hành so sánh
đối chiếu và tìm ra được 9 điểm tương đồng và 10 điểm dị biệt giữa hai
ngôn ngữ về lớp từ xưng hô này.
6
SUMMARY OF FINDINGS OF SCIENCETIFIC
AND TECHNOLOGICAL THESIS - COLLEGE LEVEL
Project title:
LINGUISTIC – CULTURAL CHARACTERISTICS OF
VOCATIVE CASE OF FAMILY IN VIETNAMESE AND CHINESE
Code number:
Instructor: Le Hoang Sang
Vietnamese and Chinese.
3. Results obtained:
Basing on studying process, the research gave some results:
• Clarifying linguistic – cultural characteristics on word structure of
vocative words of family in Vietnamese and Chinese.
Firstly, the research presented basic notions relating to vocative case
and vocative words; simultaneously analyzed the word structure of
vocative words of family in Vietnamese and Chinese. Secondly, the
research clarified linguistic – cultural characteristics on word structure of
vocative words of family in Vietnamese and Chinese.
• Linguistic – cultural characteristics on vocative case and selection of
vocative words of family in Vietnamese and Chinese.
Basing on survey, analyzing vocative case of family, specifically the
nuclear relationships in family such as wife versus husband and parents
versus children in Vietnamese and Chinese, the research clarified linguistic
– cultural characteristics implicated in vocative words of both languages.
8
• Showing the similarities and differences of vocative words of family in
Vietnamese and Chinese.
Basing on the findings when studying vocative words of family in
Vietnamese and Chinese, the research compared and find out 9 similarities
and 10 differences of this word type in such two languages.
9
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Văn hóa và ngôn ngữ có mối liên hệ chặt chẽ, không thể tách rời.
Ngôn ngữ là kết tinh của tinh hoa văn hóa dân tộc, thông qua ngôn ngữ,
văn hóa được gìn giữ và lưu truyền. Sự biến đổi và phát triển của ngôn ngữ
luôn đi đôi với sự biến đổi và phát triển của văn hóa. Thông thường, trình
nhau như đặc tính vùng miền, bối cảnh xã hội, mà từ xưng hô trong gia
đình ở các địa phương hay bối cảnh xã hội qua các thời sẽ có sự khác biệt.
Với đề tài này, chúng tôi chỉ tiến hành nghiên cứu với từ xưng hô phổ
thông, chuẩn, được sử dụng phổ biến của hai ngôn ngữ. Những từ xưng hô
được đề cập đến trong nội dung của đề tài này không phải là tất cả những
từ xưng hô trong gia đình của hai ngôn ngữ mà chỉ là những từ xưng hô
được sử biến nhất trong giao tiếp hiện đại.
4. Phương pháp nghiên cứu
Trong đề tài này, với mục đích làm rõ đặc điểm ngôn ngữ - văn hóa từ
xưng hô trong gia đình của tiếng Việt và tiếng Trung, chúng tôi đã tiến
hành những phương pháp nghiên cứu như sau:
- Phương pháp thu thập tài liệu: phương pháp này được tiến hành bằng cách
tra cứu các bài viết, bài tham khảo bằng tiếng Việt và tiếng Trung trên
mạng, đồng thời tìm đọc các công trình nghiên cứu có liên quan của các tác
giả người Việt, người Trung Quốc tại thư viện, nhà sách , ngoài ra còn thu
thập từ tài liệu, sách vở của giảng viên và những người đi trước.
- Phương pháp mô tả, thống kê: từ những tài liệu có được và dựa vào hiểu
biết, kinh nghiệm của bản thân để tiến hành mô tả, thống kê các khái niệm,
mô tả ngữ nghĩa, hoạt động của từ xưng hô gia đình trong các tình huống,
những loại từ được sử dụng làm từ xưng hô trong gia đình
- Phương pháp phân tích: sau khi đã thu thập, tài liệu, mô tả, thống kế, người
viết bắt đầu chuyển sang bước phân tích. Cụ thể ở đây là phân tích phương
thức kết cấu, hoạt động, ngữ nghĩa của từ xưng hô trong gia đình của hai
ngôn ngữ, từ đó làm sáng tỏ những đặc điểm ngôn ngữ - văn hóa hàm chứa
trong lớp từ này. Đồng thời phân tích những khó khăn, lỗi sai trong quá
trình chuyển dịch lớp này giữa hai ngôn ngữ.
- Phương pháp tổng hợp: sau khi phân tích tài liệu, người viết tiếp tục sắp
xếp, chọn lọc và tổng hợp những điểm đáng chú ý về các đặc điểm ngôn
ngữ - văn hóa từ xưng hô trong gia đình của tiếng Việt và tiếng Trung.
- Đối chiếu: sau khi tiến hành các phương pháp trên, người viết bắt đầu đối
Hoạt động xưng hô diễn ra trong cả hội thoại trực tiếp hoặc gián tiếp
và một người có thể thực hiện đồng thời cả hai hoạt động xưng và hô. Việc
xưng hô thể hiện mối quan hệ giữa các nhân vật tham gia giao tiếp hay
thậm chí có thể chỉ rõ quan hệ xã hội cũng như vị trí xã hội của các nhân
vật đó.
1.1.2. Từ xưng hô
Từ xưng hô là phương tiện nhằm chỉ vai người nói, người nghe trong
hoạt động giao tiếp. Theo tác giả Nguyễn Văn Khang [9], xưng hô là lớp từ
dùng để chỉ "tự gọi tên mình (xưng) và gọi tên người khác (hô)” khi giao
tiếp. Còn “Từ điển Hán ngữ hiện đại” [18] thì định nghĩa, xưng hô là những
danh xưng được hình thành bởi quan hệ thân tộc hoặc các mối quan hệ
tương hỗ khác cũng như thân phận, chức vụ, nghề nghiệp…được sử dụng
để hô gọi lẫn nhau trong giao tiếp.
Từ xưng hô bao gồm hai nhóm: nhóm thứ nhất là đại từ nhân xưng và
nhóm thứ hai bao gồm những từ vốn dĩ có chức năng khác nhưng lại được
dùng để xưng hô.
Đại từ nhân xưng ( còn gọi là đại từ xưng hô hay đại từ chỉ ngôi) là
những đại từ dùng để chỉ hay thay thế, đại diện cho một danh từ để chỉ
người và vật khi ta không muốn đề cập trực tiếp hoặc lặp lại không cần
thiết các danh từ ấy. Đại từ nhân xưng trong tiếng Việt và tiếng Trung đều
chia theo ngôi và theo số ít hoặc số nhiều.
Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam, đại từ nhân xưng (còn gọi là đại
từ xưng hô) là đại từ dùng để tự xưng (ngôi thứ nhất), để gọi người đối
thoại (ngôi thứ hai) và để gọi người hay sự vật thứ ba (ngôi thứ ba), bao
gồm số ít và số nhiều. Tác giả Nguyễn Hữu Quỳnh [11] thì quan niệm:
“Đại từ xưng hô là đại từ được dùng để xưng hô hoặc thay thế và trỏ người.
Đại từ xưng hô trong tiếng Việt gồm các đại từ chuyên dùng để xưng hô và
các đại từ xưng hô lâm thời, mượn các danh từ biểu thị quan hệ thân thuộc
hay quan hệ xã hội”.
Trong tiếng Trung, theo tác giả Vương Lực [20], đại từ nhân xưng là
ông,…
1.2. Phương thức kết cấu từ xưng hô trong gia đình
1.2.1. Phương thức kết cấu từ xưng hô trong gia đình của tiếng Việt
Trong tiếng Việt, xưng hô trong gia đình chủ yếu sử dụng danh từ chỉ
quan hệ thân tộc làm phương tiện xưng hô. Trong đó, theo tác giả Trương
Thị Diễm [3], từ đơn danh từ thân tộc
gồm có 25 từ và đều được sử dụng
như những từ xưng hô gia đình cơ bản, còn theo Hoàng Anh Thi [12] thì có
26 từ (có cả từ “chít”).
Tìm hiểu 26 từ đơn danh từ thân tộc được dùng để xưng hô trong gia
đình của tiếng Việt (cụ, kỵ, ông, bà, cha, mẹ, bác, chú, cô, dì, cậu, mợ,
thím, dượng, vợ, chồng, dâu, rể, anh, chị, em, con, cháu, chắt, chút, chít), ta
có thể thấy rằng, chúng đều có thể đứng độc lập trong xưng hô. Trong
trường hợp tha xưng hoặc cần giải thích, những từ xưng hô cơ bản này có
thể chia làm hai loại chính:
Những từ xưng hô mang ý nghĩa phân biệt giới tính, nội ngoại, thân sơ,
huyết thống luôn ở dạng đơn âm tiết, thường không kết hợp được với những
từ tố chỉ giới tính, nội ngoại, thân sơ, huyết thống như: ông, bà, trai, gái, dâu,
rể, nội, ngoại, ruột, họ… để cấu thành từ xưng hô chính phụ. Ví dụ, chúng ta
không thể nói chú trai, chú nội, cậu ngoại, bố họ, con họ, ông trai, bà gái…
Những từ không mang ý nghĩa phân biệt giới tính, nội ngoại, thân sơ,
huyết thống, có thể kết hợp được với với những từ tố chỉ giới tính, nội
ngoại, thân sơ, huyết thống, tạo thành các từ xưng hô chính phụ, trung tâm
đứng trước, thành tố phụ đứng sau. Ví dụ: em gái, em dâu, anh rể, cháu nội,
cháu ngoại, chắt trai…
Xét về góc độ giới tính, 26 từ xưng hô gốc này có 17 từ xưng hô phân
biệt giới tính và 9 từ không phân biệt giới tính. Những từ xưng hô phân biệt
giới tính không kết hợp được với những từ tố phân biệt giới tính. Những từ
không phân biệt giới tính thì có thể kết hợp với 6 từ tố (ông, bà, trai, gái,
Ví dụ: bác trai, bác gái, bác dâu, bác rể.
8 từ không có sự phân biệt nội ngoại: cụ, kỵ, ông, bà, cháu, chắt, chút,
chít, có thể kết hợp với các từ “nội, ngoại” tạo nên sự đối xứng trong xưng
hô nội ngoại: “Kỵ nội – kỵ ngoại; cụ nội – cụ ngoại; ông nội – ông ngoại;
bà nội – bà ngoại; cháu nội – cháu ngoại; chắt nội – chắt ngoại; chút nội –
chút ngoại; chít nội – chít ngoại”.
Để phân biệt thân sơ, người Việt còn dùng hai từ “ruột, họ” để phân
biệt, ngoài những từ xưng hô “thân” nhất như “cha, mẹ, con” và nhưng từ
mang nghĩa gốc “sơ” chỉ quan hệ hôn nhân như “thím, mợ, dượng, dâu, rể”,
không kết hợp được với hai từ này, những từ xưng hô khác đều có thể dùng
hai từ này để phân biệt thân sơ, so sánh: “chú ruột - chú họ; bác ruột - bác
họ, cháu ruột - cháu họ…”.
Tất cả những từ đơn danh từ thân tộc trong tiếng Việt đều có thể đứng
độc lập cấu tạo nên từ xưng hô, xưng hô nam giới và nữ giới bình đẳng,
không phụ thuộc nhau. Hơn nữa, ngoài những từ xưng hô độc lập, những từ
xưng hô tha xưng, tỷ lệ xưng nam nữ, nội ngoại cũng tương đối cân bằng,
đối xưng nhau.
1.2.2. Phương thức kết cấu từ xưng hô gia đình trong tiếng Trung
Tương tự như tiếng Việt, tiếng Trung cũng sử dụng danh từ thân tộc
để làm từ xưng hô gia đình. Theo tác giả Hồ Sĩ Vân [17], tiếng Trung Quốc
có hơn 1900 từ xưng hô gia đình, khoảng 90% là xưng hô chính phụ. Khác
với tiếng Việt, hơn 1900 từ xưng hô này đều có sự phân biệt rõ ràng về giới
tính, nội ngoại và tông tộc.
Theo khảo sát của chúng tôi, xưng hô chính phụ được cấu tạo từ các
từ xưng hô cơ bản, mở rộng sang phải phân biệt giới tính, mở rộng sang trái
để phân biệt nội ngoại, thân sơ, tông tộc.
Khác với tiếng Việt, bản thân những từ đơn danh từ thân tộc trong
tiếng Trung đều có phân biệt nam nữ, nội ngoại, tông tộc. Trong 22 từ đơn
danh từ thân tộc: 我 (tổ), 我 (tôn), 我 (phụ), 我 (tử), 我 (mẫu), 我 (nữ), 我
(huynh), 我 (đệ), 我 (thư), 我 (muội), 我 (bá), 我 (thúc), 我 (cô), 我 (cữu:
cha), 我 (phu: chồng), xưng hô bề trên nữ giới hậu tiết tố là 我 (mẫu: mẹ),
xưng hô ngang bậc thường căn cứ vào từ đơn danh từ thân tộc (khẩu ngữ
thường ở dạng lặp) như 我(huynh), 我(ca), 我(đệ), 我(thư), 我(muội). Xưng
hô bề dưới, xưng hô nam giới bên nội thường được kết cấu bằng từ tố (tử)
như 我我 (tôn tử), 我我(điệt tử), xưng hô nữ giới bề dưới bên nội thường kết
hợp với từ tố 我(nữ), như 我我 (tôn nữ), 我我 ( điệt nữ) hoặc trường hợp từ 我
我 (nữ tử) có hậu tố là 我 (nhi) . Chỉ có một bộ phận nhỏ từ xưng hô chỉ nữ
giới như 我我(mẫu thân), 我我(tẩu tử: chị dâu) , 我我(cô mẫu: cô), 我我 (di
mẫu: dì) là do các từ gốc 我(mẫu), 我(tẩu), 我 (cô), 我 (di) tạo thành. Năm từ
gốc 我(thư), 我 (muội), 我(nữ), 我(cô), 我 (di) làm từ căn cấu tạo nên năm từ
xưng hô nam giới do quan hệ hôn nhân mang lại và không cấu tạo nên
được những từ xưng nam giới huyết thống. Đây là dấu tích coi trọng huyết
thống hơn phi huyết thống. So sánh sự phát triển xưng hô:
我 Di→ 我我 di mẫu→ 我我 di phụ; 我 cô → 我我 cô mẫu → 我我 cô phụ;
我 thư → 我 我 thư thư → 我 我 thư phụ; 我 muội → 我 我 muội muội →我 我
muội; 我 nữ → 我我 nữ nhi→ 我我 nữ tế (chồng con gái).
Như vậy, đại đa số các từ xưng hô trong tiếng Hán được cấu tạo, phát
triển xuất phát từ xưng hô có nghĩa gốc nam giới, phản ánh tư tưởng lấy
nam giới làm trung tâm, nữ giới phụ thuộc vào nam giới, thể hiện sự bất
bình đẳng trong gia đình, đồng thời cũng cho thấy tư tưởng trọng huyết
thống hơn phi huyết thống của người Trung Quốc.
Về sự phân biệt nội ngoại, cấu tạo từ xưng hô tiếng Trung theo
phương thức nhị phân, phân thành nội tộc và ngoại tộc, nội tộc thân hơn
ngoại tộc. Những người thân trong gia đình có cùng họ gọi là nội tộc, còn
họ hàng bên ngoại và họ hàng bên nội không cùng họ đều gọi là ngoại tộc.
Về cách cấu tạo từ, xưng hô nội tộc được cấu tạo từ xưng hô gốc nội tộc.
Đại đa số các từ xưng hô ngoại tộc được được cấu tạo từ xưng hô nội tộc
kết hợp với các từ tố ngoại tộc như “我” (ngoại: bên ngoài), “我” (biểu: bề
ngoài). Ngược lại, những từ xưng hô ngoại tộc không có chức năng cấu tạo
nên từ xưng hô nội tộc.
trung tâm, xưng hô bên ngoại phụ thuộc vào xưng hô bên nội, nói đúng hơn
được phát sinh từ xưng hô bên nội. Thực chất đây là sự biểu hiện tư tưởng
trọng nội khinh ngoại, thân nội hơn thân ngoại, suy cho cùng chính là biểu
hiện của tư tưởng trọng nam khinh nữ.
Để có cái nhìn tổng quát và hệ thống hơn, chúng tôi đã tiến hành liệt
kê các danh từ chỉ quan hệ thân tộc đường dùng làm từ xưng hô trong đại
gia đình đa quan hệ gồm quan hệ nội, ngoại, trực hệ, bàng hệ, hôn nhân của
tiếng Việt và tiếng Trung. Từ đó có thể dễ dàng nắm bắt, đối chiếu để đi sâu
khảo sát về từ ngữ xưng hô của hai ngôn ngữ.
Dưới đây là bảng thống kê từ chỉ quan hệ thân tộc được dùng để xưng
hô trong gia đình của tiếng Việt và tiếng Trung.
(1) Quan hệ đằng nội:
• Trực hệ:
Tiếng Trung Tiếng Việt
Danh từ thân tộc dùng để xưng hô Danh từ thân tộc dùng để xưng hô
Gián tiếp Trực tiếp Gián tiếp Trực tiếp
我我我/我
cao tổ phụ/mẫu
我我我我
thái thái da da
Kị Cụ
我我我
tằng tổ phụ
我我我
thái da da
Cụ ông Cụ
我我我
tằng tổ mẫu
我我我
thái nãi nãi
Em trai Em
我
tỷ
我我
thư thư
Chị gái Chị
我
muội
我我
muội muội
Em gái Em
我我
nhi tử
Dùng tên
Con trai Con / Dùng tên
我我
nữ nhi
Dùng tên
Con gái Con / Dùng tên
我我
tôn tử
Dùng tên
Cháu trai
(1)
Cháu / Dùng tên
我我
tôn nữ
Dùng tên
Cháu gái
(1)