So sánh từ, ngữ chỉ màu sắc trong tiếng hán và tiếng việt (về vài đặc điểm ngôn ngữ văn hoá) - Pdf 33

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC VÀ XÃ HỘI NHÂN VĂN

PHƯƠNG THẦN MINH

SÓ SÁNH TỪ, NGỮ CHỈ MÀU SẮC
TRONG TIẾNG HÁN VÀ TIẾNG VIỆT
(VỀ MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ -- VĂN HOÁ )

CHUYÊN HÀNH: LÍ LUẬN NGÔN NGỮ
Mã số: 50408

luËn v¨n th¹c sÜ ng÷ v¨n

Hµ Néi - 2005


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC VÀ XÃ HỘI NHÂN VĂN

PHƯƠNG THẦN MINH

SÓ SÁNH TỪ, NGỮ CHỈ MÀU SẮC
TRONG TIẾNG HÁN VÀ TIẾNG VIỆT
(VỀ MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ -- VĂN HOÁ )
CHUYÊN HÀNH: LÍ LUẬN NGÔN NGỮ
Mã số: 50408

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN

Người hướng dẫn khoa học :

1


Chương II Đặc điểm ngữ pháp của từ ngữ chỉ màu sắc trong tiếng Hán và tiếng
Việt .......................................................................................................................................75
2.1. Đặc điểm cấu tạo của từ chỉ màu sắc tiếng Hán ...................................................75
2.1.1. Từ đơn ...................................................................................................................75
2.1.2. Từ hợp hành .........................................................................................................75
2.2. Đặc điểm ngữ pháp của những từ chỉ màu sắc tiếng Hán....................................79
2.2.1 Từ chỉ màu sắc làm tính từ ...................................................................................79
2.2.2. Từ chỉ màu sắc làm danh từ ................................................................................80
2.2.3. Tính chất ngữ pháp của từ chỉ màu sắc mang tính tính từ ................................81
2.2.4. Tính chất ngữ pháp của từ chỉ màu sắc mang tính danh từ ..............................83
2.3. Đặc điểm cấu tạo của các từ chỉ màu sắc tiếng Việt ............................................85
2.3.1. Từ chỉ màu phụ có hình thức cấu tạo là từ ghép ..............................................85
2.3.2. Từ chỉ màu phụ có hình thức cấu tạo là từ láy ..................................................86
2.3.3. Từ chỉ màu phụ có hình thức cấu tạo là dạng chuyển nghĩa hoán
dụ...............87
2.4. Đặc điểm ngữ pháp của những từ chỉ màu sắc tiếng Việt ...................................87
2.4.1. Đặc điểm ngữ pháp của từ chỉ màu mang tính danh từ ....................................87
2.4.2. Đặc điểm ngữ pháp từ chỉ màu mang tính tính từ .............................................88
2.5. Những điểm giống nhau về các hình thức cấu tạo từ chỉ màu sắc của tiếng Hán
và tiếng Việt ........................................................................................................................89
2.6. Những điểm khác nhau về các hình thức cấu tạo từ chỉ màu sắc của tiếng Hán


tiếng

Việt..............................................................................................................................90
2.7. Những điểm khác nhau và giống nhau về đặc điểm ngữ pháp của từ chỉ màu sắc

PHẦN MỞ ĐẦU

1. Ý nghĩa và mục đích của luận văn
Trong ngôn ngữ học hiện đại, việc nghiên cứu ngôn ngữ không chỉ dừng ở bản
thể ngôn ngữ mà đã tiến tới những nhân tố bên ngoài ảnh hưởng trực tiếp đến bản thể
ngôn ngữ và mối quan hệ giữa chúng với nhau. Chính vì thế xu hướng nghiên cứu
ngôn ngữ xuyên văn hoá đã trở thành bình diện không thể thiếu được đối với bất cứ
thứ tiếng nào trên thế giới.
Việc tồn tại của màu sắc là khách quan, nhưng khái quát về từ chỉ màu sắc trong
các ngôn ngữ khác nhau thì có khác biệt. Trong quá trình phát triển lịch sử lâu dài của
dân tộc Hán và dân tộc Việt, nhận thức, thái độ cũng như những phong tục liên quan
tới màu sắc của hai dân tộc này đã có biến đổi rất nhiều, những biến đổi này thể hiện ở
sự nảy sinh và phát triển của từ chỉ màu sắc liên quan với các yếu tố chính trị, kinh tế,
khoa học kỹ thuật, xã hội văn hoá v.v...Sự xuất hiện tên gọi của một số màu sắc nào đó,
sự biến đổi nội hàm của một số khái niệm màu sắc nào đó, đã phản ánh sự hình thành
và biến đổi của nhận thức về mặt phân biệt màu sắc của loài người. Loài người qua sự
biến đổi của thái độ nhận thức và phong tục có liên quan về màu sắc, đã phản ánh sự
biến đổi của bối cảnh xã hội, quan niệm tư tưởng và sự ảnh hưởng của văn hoá ngoại
lai.
Trung Quốc và Việt Nam là hai nước láng giềng núi liền núi , sông liền sông. Sự
giao lưu văn hóa giữa hai nước đã bắt đầu có từ thời Tần Trung Quốc (năm 111 trước
công nguyên). “ ... Giai đoạn 1: Giai đoạn này được tính từ sau thời đại An Dương
Vương — Triệu Đà (Triều Vũ Đế) tức từ năm111trước công nguyên cho đến thế kỷ thứ

4


VI sau công nguyên” [43, trang10]. Những giao lưu văn hoá này bao gồm chính trị,
kinh tế, khoa học, kỹ thuật, văn hoá, nghệ thuật, âm nhạc, ngôn ngữ, tôn giáo, tín
ngưỡng, thiên văn, địa lý, lễ nghi, tập tục cũng như từ chỉ màu sắc v.v.. “… Trong tiếng

chiếu những từ chỉ màu sắc trong tiếng Hán và tiếng Việt, có gì khác biệt và giống
nhau về mặt ngữ pháp, ngữ nghĩa và đặc trưng văn hoá dân tộc.

4. Phƣơng pháp nghiên cứu
Luận văn chủ yếu sử dụng các phương pháp thống kê, miêu tả, so sánh... cụ thể
là:
Thống kê số lượng, tần số xuất hiện và tỉ lệ phần trăm của các từ chỉ màu sắc, từ
đó rút ra những nhận xét cần thiết.
Miêu tả, phân tích, so sánh các điểm tương đồng và khác biệt của từ chỉ màu sắc
trong tiếng Hán và tiếng Việt về mặt ngữ pháp như: cách cấu tạo từ, từ ghép và từ láy
cũng như đặc trưng văn hoá dân tộc, thể hiện qua ý gnhĩa biểu trưng của từ chỉ màu
sắc.

5. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn chia thành
ba chương:
Chương I : Cơ sở lý luận liên quan đến đề tài
Chương II : Đặc điểm của từ ngữ chỉ màu sắc trong tiếng Hán và tiếng Việt

6


Chương III : So sánh đặc trưng văn hoá dân tộc của các từ chỉ màu sắc trong tiếng
Hán và tiếng Việt.

CHƢƠNG I
SO SÁNH KHÁI QUÁT VỀ Ý NGHĨA VÀ SỐ LƢỢNG CỦA TỪ CHỈ
MÀU SẮC TRONG TIẾNG HÁN VÀ TIẾNG VIỆT

1.1. Khái quát về từ chỉ màu sắc

như 煤一样的黑色(đen như than), nên là ngữ.

1.2. Nguồn gốc của từ chỉ màu sắc
Từ chỉ màu sắc là những từ dùng để miêu tả các loại màu sắc của sự vật, như đỏ,
đen, trắng ,vàng, xanh, tím, v.v.
Từ chỉ màu sắc là một thành phần tổ chức quan trọng của từ vựng trong ngôn ngữ,
nó có thể làm cho ngôn ngữ biểu đạt phong phú, sinh động, bày ra một thế giới màu
sắc thần kỳ của nhân loại sinh tồn cho chúng ta, mà còn thông qua từ chỉ màu sắc,
chúng ta có thể tìm hiểu được ý nghĩa tượng trưng văn hóa phong phú của từ chỉ màu
sắc, sự chứa đựng tâm lí văn hoá dân tộc và màu sắc tình cảm sâu sắc nồng thắm của
từ chỉ màu sắc.
Trong cổ Hán ngữ, nghĩa đen của màu sắc là chỉ sắc mặt, vẻ mặt, nét mặt. Ví dụ:
trong Sử Từ Ngư Phụ (《楚辞•渔父》) có câu ―màu sắc tiều tuỵ‖ (颜色憔悴). 颜(mặt)
cùng nghĩa với 额(trán), trong từ điển Giải Văn Thuyết Chữ của Hứa Thận có viết:

8


―颜,眉之间。‖ (trán ở giữa lông mày). ―色,颜气也。‖(sắc, khí sắc của trán). Cho nên,
cổ nhân nói ―察颜观色‖ (nghe lời nói, trông nét mặt) tức là nhìn theo vẻ mặt để tìm
hiểu hoạt động trong lòng của người. Sau đó, nghĩa của từ 颜色 (màu sắc) đã mở
rộng phạm vi sử dụng, nó không những chỉ màu sắc, vẻ mặt, mà còn bao gồm màu sắc
của các loại sự vật, từ đó đã hình thành nghĩa bóng của 颜色(màu sắc). bây giờ nghĩa
bóng từ này đã trở thành nghĩa trung tâm của nó. Ví dụ như trong thành ngữ 五颜六
色(muôn màu sặc sỡ), 颜 (mặt) và 色(sắc) đồng nghĩa, đều chỉ màu sắc.
Tên gọi từ chỉ màu sắc trong giới Hán ngữ học xưa nay đều chưa thống nhất . Có
người gọi là 颜色词 (từ màu sắc), có người gọi là 色彩词 (từ sắc thái), trên thực tế
các đơn vị chỉ màu sắc hoặc sắc thái không những có từ mà còn có ngữ, cho nên cũng
có người dùng 色彩词语 (từ ngữ sắc thái) để khái quát.[21, trang 51] Trong tiếng
Việt cũng như vậy: ―...Chúng tôi cũng xin quy ước, gọi chung những yếu tố chỉ màu

cho màu sắc, làm cho hình ảnh màu sắc biểu thị bằng vật chất càng cụ thể, sinh động
và chính xác, nên các dân tộc đều áp dụng phương pháp định danh này.
Chúng tôi cho rằng, từ chỉ màu sắc chắc chắn là tuỳ theo nguồn gốc của ngôn ngữ
mà xuất hiện. Theo đà phát triển của văn hoá xã hội, số lượng của từ chỉ màu sắc
không những càng ngày càng nhiều, mà sự phân chia của từ chỉ màu sắc cũng càng
ngày càng chi tiết.
1.3. Vai trò của từ chỉ màu sắc
Trong kho từ vựng tiếng Hán và tiếng Việt hiện đại, từ chỉ màu sắc không những
tồn tại một khối lượng lớn, mà còn có vai trò tu từ đặt biệt, rõ rệt mà các từ ngữ khác
không thể so sánh được. Ta sống mãi trong thế giới màu sắc sặc sỡ, không thể tưởng

10


tượng được nếu từ ngữ không có miêu tả về màu sắc trong ngôn ngữ là như thế nào.
Chúng ta nói chuyện, viết bài văn, không những muốn viết được dễ hiểu, viết được trôi
chảy, mà còn hi vọng viết được nghệ thuật, viết được cụ thể và sinh động, khiến cho
người nghe quên ăn, người đọc quên ngủ. Như thế thì cần phải áp dụng thủ pháp nhất
định, trong đó dùng từ chỉ màu sắc là thủ pháp quan trọng. Giống như hoạ sĩ miêu tả
vật thể tự nhiên và nhân vật bằng sắc liệu, tác thẩm văn học thông qua từ chỉ màu sắc
để miêu tả cảnh quan tự nhiên, tranh chân dung nhân vật, bầu không khí hoàn cảnh
chung quanh, tình huống đời sống v.v... Có khi sự miêu tả màu sắc cảnh quan tự nhiên
có thể để lại ấn tượng khó quên cho độc giả. Ví dụ: trong tiếng Hán, như văn xuôi Từ
Bách Thảo Viên đến nhà đọc Tam vị của Lỗ Tấn, văn xuôi Ngũ sắc thổ của Tần Mục,
văn xuôi Trà hoa phú của Dương Sóc, văn xuôi Mặt trời mọc trên sông Trường của
Lưu Bạch Vũ, đều đã sử dụng các màu sắc rực rỡ để miêu tả vật thể và cảnh quan tự
nhiên, khiến cho người đọc dường như đích thân tới nơi đó, mắt đã nhìn thấy vật và
cảnh đó. Không những như vậy, sự miêu tả màu sắc trong tác phẩm văn học còn giữ
vai trò làm nền cho bầu không khí và tô vẽ cho tình cảm. Các bạn hãy thưởng thức sự
miêu tả của Lỗ Tấn trong văn xuôi Quê Hương : “từ khe mui thuyền nhìn ra, dưới mặt

Từ chỉ màu sắc là một loại từ phân chia theo ý nghĩa khái niệm, không phải là
phân loại theo ngữ pháp, từ chức năng của từ chỉ màu sắc mà thấy, từ chỉ màu sắc chủ
yếu là dùng để miêu tả tính chất và trạng thái màu sắc của các loại sự vật trên thế giới.
1.4.1. Phân loại những từ chỉ màu sắc trong tiếng Hán
Do số lượng từ chỉ màu sắc hết sức phong phú, hơn nữa, phương phức cấu tạo
của nó từ đầu đến cuối ở vào một quá trình trạng thái hoạt động, phát triển và biến đổi,

12


cho nên, ý kiến về việc nghiên cứu phương thức phân loại và cấu tạo của từ chỉ màu
sắc tiếng Hán cũng không thống nhất, thường xuất hiện xu hướng đa dạng hoá. Ví dụ:
ông Lưu Quân Kiệt xuất phát từ góc độ nguồn gốc từ, chia từ chỉ màu sắc tiếng Hán
thành 4 loại: từ chỉ màu sắc thuần tuý, từ chỉ màu sắc vật thể, từ chỉ màu sắc vật
thuần(sự tổ hợp của từ chỉ màu sắc vật thể và từ chỉ màu sắc thuần tuý), hình thức sinh
động của từ chỉ màu sắc thuần; [33, trang 23] ông Chiêm Nhân Phượng chia từ chỉ
màu sắc thành 2 loại lớn: từ chỉ màu sắc cơ bản và từ chỉ màu sắc phi cơ bản; [34,
trang 41] Diệp Quân chủ yếu chia từ chỉ màu sắc thành 2 loại lớn: từ chỉ màu sắc cụ
thể (gồm từ chỉ màu sắc cơ bản và từ chỉ màu sắc phổ thông ) và từ chỉ màu sắc trừu
tượng (gồm từ chỉ màu sắc trừu tượng liên tưởng và từ chỉ màu sắc tri giác); [21, trang
35] Luận văn chúng tôi theo số lượng âm tiết của từ chỉ màu sắc, chia từ chỉ màu sắc
thành hai loại lớn: từ chỉ màu sắc đơn âm tiết và từ chỉ màu sắc đa âm tiết.

1.4.1.1. Từ chỉ màu sắc đơn âm tiết
Từ chỉ màu sắc đơn âm tiết tức là từ chỉ màu sắc do một âm tiết cấu thành, ví dụ:
红(đỏ), 黄(vàng), 绿(lục), 白(trắng), 黑(đen), 青(thanh), 蓝(lam), 灰(xám), 紫
(tím), 褐(màu hạt dẻ), 橙(màu da cam), 赤(đỏ), 绯(đỏ), 朱(đỏ son), 绛(đỏ thẫm),
翠(xanh biếc), 碧(ngọc xanh biếc / xanh biếc), 苍(xanh lá cây / xanh biếc (gồm cả
lam và lục)), 乌(đen), 玄(đen), 漆(đen), 殷(đỏ đen), 粉(hồng) ,素(trắng), 缟(trắng),
葱(xanh), 赭(đỏ), 黛(đen vàng), 黝(đen xanh),... loại từ chỉ màu sắc cơ bản này

chỉ màu sắc tiếng Hán trong quá trình phát triển này, cũng đã được phát triển đầy đủ,
về số lượng đã vượt ra khỏi phạm vi từ chỉ màu sắc đơn âm tiết vốn rất có hạn, sử dụng

14


nhiều thứ phương thức cấu tạo, khiến hình tượng vật thể ngày càng rõ ràng, cụ thể.
Phương thức cấu tạo của từ chỉ màu sắc đa âm tiết là đa dạng và phong phú. Mấy loại
hình thường gặp như sau:
(1) Phương thức tổ hợp: tức là từ chỉ màu sắc do hai từ chỉ màu sắc đơn âm tiết tổ
hợp với nhau mà hình thành. Trong đó lại có thể chia thành hai loại:
A. Do hai từ chỉ màu sắc đơn âm tiết thuộc phạm trù màu sắc khác nhau tổ hợp
hình thành, ví dụ như 绛紫(tím đỏ), 紫红(đỏ tía), 青紫(xanh tím), 灰白(xám trắng),
苍白(trắng xanh),... chúng biểu thị một màu hỗn hợp, hình vị màu sắc đứng trước biểu
thị màu phụ, hình vị màu sắc đứng sau biểu thị màu chính, giữa hai hình vị hình thành
một quan hệ chính- phụ tu từ và bị tu từ. Ví dụ: 绛紫(tím đỏ) là trong tím thẫm mang
một tí đỏ, 紫红(đỏ tía) là trong đỏ thẫm mang một tí tía, 苍白(trắng xanh) là trắng
mang một tí màu xanh.
B. Do hai từ chỉ màu sắc đơn âm tiết cùng một phạm trù màu sắc hình thành với
quan hệ liên hiệp. Ví dụ: 赤红(đỏ), 朱红(đỏ son), 绯红(đỏ ửng), 绛红(đỏ thẫm)...
Từ góc độ Hán ngữ hiện đại mà thấy, ngữ nghĩa chủ yếu thể hiện ở hình vị sau.
Hai loại từ chỉ màu sắc A và B thông thường có thể thêm vào một từ biểu thị khái niệm
màu sắc---色(màu)tạo thành cụm danh từ. Ví dụ: 紫红色(màu đỏ tía), 灰白色(màu
xám trắng),赤红色(màu đỏ), 朱红色(màu đỏ son), 绯红色(màu đỏ ửng), 绛红色
(màu đỏ thẫm), v.v...
(2) Phương thức ví von: tức là hình vị trước trong từ chỉ màu sắc gồm ý vị ví von,
biểu thị ý nghĩa giống như cái gì đó. Phương thức ví von có thể chia thành hai loại:
A. Thêm chữ 色(màu) vào sau hình vị gọi tên vật thể, ví dụ: 米色(màu kem), 驼
色(màu lạc đà), 茶色(màu nước chè), 桃色(màu hoa đào), 肉色(màu da người), 咖
啡色(màu cà-phê), 玫瑰色(màu hoa hồng), v.v... Loại từ chỉ màu sắc này mang tính



thường không láy bản thân hiện vật. Ví dụ không nói 桃红的桃花(hoa đào màu hoa
đào), 驼色的驼毛(lông lạc đà màu lạc đà), 玫瑰红的玫瑰(hoa hồng màu hoa hồng),
v.v...
(3) Phương thức gợi tả: Do một tính từ biểu thị cảm giác, tính chất và trạng thái
hoặc mức độ thêm vào một từ chỉ màu sắc đơn âm tiết hình thành, ví dụ như 嫩绿
(xanh nhạt), 深红 (đỏ thẫm), 鲜红 (đỏ tươi), 浅红(hồng nhạt), 浓黑(đen đậm), 惨
白(tái xanh),... loại từ chỉ màu sắc này thông thường có thể thêm vào chữ 色(màu) để
biểu thị khái niệm màu sắc, nhưng bản thân chúng đã tỏ ra ý nghĩa mức độ, nên thông
thường không được tu từ của từ biểu thị ý nghĩa mức độ nữa .
(4) Phương thức láy: chỉ từ chỉ màu sắc cấu tạo bằng phương thức từ chỉ màu sắc
đơn âm tiết thêm vào thành phần hậu tố láy. Phương thức cấu tạo này chủ yếu có hai
loại:
A. Từ chỉ màu sắc đơn âm tiết + hậu tố có hai âm tiết, ví dụ như 黑洞洞(tối mò
mò), 白茫茫(trắng xóa một màu), 红通通(đỏ rực / đỏ sẫm), 黄灿灿(vàng ối), 灰蒙
蒙(mờ mịt / mù mịt), 绿油油(xanh mướt / xanh biếc), v.v...
B. Từ chỉ màu sắc đơn âm tiết + hậu tố ba âm tiết, ví dụ như 黑不溜秋(đen sì sì /
đen thui), 白不呲咧(bạc phênh phếch/ nhạt phèo phèo),灰不叽叽(xám xìn xịt), v.v…
Từ chỉ màu sắc bằng phương thức láy thông thường kèm theo cảm giác và ấn
tượng nào đó xuất hiện trong tình huống khác nhau của con người, tính quan trọng
của cảm giác và ấn tượng kèm theo này không kém hơn bản thân từ chỉ màu sắc
trong đa số tình huống. Ví dụ: 黑压压的一群人(một đám người đông nghịt) cố
nhiên là nhấn mạnh 黑(đen), nhưng càng quan trong hơn là nhấn mạnh một đám
người mờ nhạt. Từ chỉ màu sắc có thêm hậu tố, thường tạo một thứ cảm giác (sống
động) gợi tả, như 黄澄澄(vàng rộm / vàng óng), 白花花(trắng ngần / trắng muốt ),

17



đơn tiết tự do (xanh, đỏ, tím, vàng , trắng , nâu, đen, xám,...); đơn vị chỉ màu đa tiết
gồm đơn vị láy gợi tả sắc thái màu (đo đỏ, xanh xanh, trăng trắng, tim tím,...), đơn vị
ghép gợi tả màu(trắng ởn, vàng hoe, tím thẫm, xanh ngắt, đỏ au,...) và đơn vị ghép thực
thể hoá chủng loại màu(màu gan gà, màu hoa chanh,...). Chúng tôi chia từ chỉ màu sắc
trong tiếng Việt thành từ chỉ màu cơ bản và từ chỉ màu phụ.
Số lượng các từ chỉ màu cơ bản của tiếng Việt theo B. Berlin và P. Kay, được
Paul Madarasz nghiên cứu và đưa ra số lượng gồm 9 màu là: trắng, đen, đỏ, vàng,
xanh, nâu, tím, hồng, xám; Còn với các nhà nghiên cứu trong nước, tuỳ từng mục đích
nghiên cứu đã đưa ra ý kiến khác nhau về số lượng: gồm 7 màu trắng, đen, đỏ, tím,
vàng, xanh, nâu (Đào Thản 1993) và 5 màu trắng, đen, đỏ, vàng, xanh(Chu Bích Thu,
1995); Trịnh Thị Thu Hiền cho rằng, trong tiếng Việt từ chỉ màu cơ bản hợp lý nhất là
số lượng 8 màu cơ bản gồm: trắng, đen, đỏ, vàng, xanh, nâu, tím, xám, vì những màu
này mang đặc trưng riêng của từ chỉ màu cơ bản tiếng Việt:
-- Đây là những đơn vị đơn âm tiết, đơn giản về hình thái học – khác với sự phức
tạp về hình thái của các từ chỉ màu phụ(cánh gián, hoa cà, đen nhánh,...). Các tiếng như
mun, bạch, hắc...là từ đơn ở tiếng Hán nhưng vào tiếng Việt, chúng chỉ là tiếng ( hình
vị), kết hợp hạn chế trong một số tổ hợp cố định như ngựa bạch, ngựa mun. Mà những
tổ hợp này là từ ghép đa tiết vì có bạch, mun là tiếng có nghĩa nhưng không hoạt động
độc lập, không phải là từ đơn, không nói : màu bạch.
– Mỗi từ chỉ màu cơ bản đều mang tên gọi chung cho một nhóm màu phụ tương
ứng.
– Hay nói cách khác, có thể làm trung tâm cho một nhóm màu tạo thành một

19


trường nghĩa. Như vậy, tương ứng với 8 từ chỉ màu cơ bản sẽ có 8 nhóm màu phụ là:
a) đen: mun, hắc, huyền. ô, đen kịt, đen sì, đen nhánh, thâm, mực,...
b) trắng: bạc, bạch, ngà, ngà voi, sữa, kem, trắng trẻo, trắng hếu,...
c) đỏ: điều, hồng, huyết dụ, tiết dê, son, đào bã trầu, cánh sen, hoa hiên, bồ quân,

nước hồ)、荷花色(màu hoa sen)、虎皮色(màu da hổ)、蜂蜜色(màu mật)、葵花色
(màu hoa hướng dương)、马粪色(màu cứt ngựa)、泥土色(màu đất)、苹果色(màu táo
tây)、葡萄色( màu nho)、咖啡色(màu cà-phê) v.v... (gần 200 từ ) vì ít phổ biến.
QuaBảng thống kê này ta có thể tìm hiểu được cách dùng của những từ chỉ màu
sắc trong tiếng Hán. Bảng thống kê này gồm 5 cột sau đây:
Cột 1: Số thứ tự
Cột 2: Từ chỉ màu sắc
Cột 3: Tổng số đơn vị mỗi nhóm màu
Cột 4: Tỉ lệ (%)
Cột 5: Vídụ trong các tác phẩm

BẢNG THỐNG KÊ NHỮNG TỪ CHỈ MÀU SẮC TRONG TIẾNG HÁN
Thứ
tự
1

Màu
sắc
黑色
(hei se)
mµu ®en

Luợng

Tỉ Lệ
(%)

92

14.65%

®en xanh

5

…… 林子深处 暗黑一团 什么也看不见。……《郭小刚诗选》河北
人民出版社
……闷雷般的泉声 像昂扬不绝的鼓点 激发着 如墨的泉水 一刻不
停地涌动。……《新桃花扇》 谷期范 上海文化出版社

茶黑色
(cha hei se)
mµu ®en chÌ

茶黑色眼圈的成因则和年龄增长息息相关 长期日晒造成色素沉
淀在眼周 久而久之就会形成挥之不去的茶黑色眼圈。……《大众医
学》 上海科技出版社

第 期

…… 我跟随母亲入宫观看歌舞表演.我遇见了我的弟弟。母亲疼爱的
溜黑
6

(chu hei)
đen lỏng

抱起他, 戏谑的说:彻儿长大了要讨媳妇,这些宫女你要哪一个?他
摇了摇脑袋。于是母亲接着问:那你要娶谁呀?他扑闪着溜黑的眼睛,
紧紧盯着躲在母亲身后的我, 大声的说:如果能娶到阿娇姐姐,我愿盖
金屋以藏之.。我的脸刷的红了。童言无忌.周围的人都咯咯的笑了。


李德江黑红脸膛上堆满了笑容 扬了扬两道又黑又粗的大刀眉
敬重而又感叹地说…… 《征途》郭先红上海人民出版社
大家看时 写道是 “桂霭桐阴坐举觞 长安涎口盼重阳。眼前道

22


(hei huang)
®en vµng

路无经纬 皮里春秋空黑黄。”……《红楼梦》 曹雪芹 高鹗 岳麓
书社

10

黑灰
(hei hui)
®en x¸m

11

黑蓝
(hei lan)
®en lam

……居民纷纷拉记者到家中 看塞满黑灰的纱窗 看被粉尘腐蚀成
“麻子”的汽车。……《深圳晚报》
蓝羽是家鸽中最常见的羽毛 它的羽毛有浅蓝灰直至黑蓝灰 其
间还有许多中间色调。……《上海信鸽》上海信鸽协会出版社

……第二个瘦长短髯 穿着领黑绿盘领木棉衫。
《水浒全传》施耐庵岳
麓书社
……它睁开眼睛 看了一眼基马 发现基马还是一身黑青 便慢慢地爬
了过去……《青色天堂》和夏 海南出版社
海燕那枣红的嘴甲 桔黄色的颈子 黑紫色的羽毛 显得多么美
丽诱人啊! ……《渔岛怒潮》姜树茂 人民文学出版社
……雄蜂体长

毫米 体色黑或黑棕色 全身被灰色绒毛……

《蜜蜂的品种》陈士平 中国农业出版社

黑赭色

……这里洞天跨度和空间极大 由近而远 重重叠叠 矗立着黑赭色

(hei zhe se)
màu đen son

的峰峦 环抱起伏 千岩竞秀 深得山之性情。《毕节晚报》

黑褐色

……恶鹫越加被激怒了 它将巨翅一拍 脖颈高昂 伸起黑褐色的铁

(hei he se)
màu đen nâu

喙 凶狠地对准小狼娃的太阳穴啄下来。……《贼狼滩》李北桂 长江


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status