Tính biểu trưng của từ ngữ chỉ màu sắc trong tiếng Việt (dựa trên ngữ liệu là những văn bản thuộc phong cách ngôn ngữ văn chương) - Pdf 41

Header Page 1 of 166.
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH

Trịnh Thị Minh Hương

TÍNH BIỂU TRƯNG CỦA TỪ NGỮ
CHỈ MÀU SẮC TRONG TIẾNG VIỆT
(dựa trên ngữ liệu là những văn bản thuộc phong
cách ngôn ngữ văn chương)

Chuyên ngành : Ngôn ngữ học
Mã số
: 60 22 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS DƯ NGỌC NGÂN

Thành phố Hồ Chí Minh - 2009

Footer Page 1 of 166.


Header Page 2 of 166.

LỜI CẢM ƠN
Học viên Trịnh Thị Minh Hương kính lời tri ân sâu sắc
đến cô Dư Ngọc Ngân – người đã hết lòng động viên, dẫn
dắt trong quá trình thực hiện đề tài.

tưởng theo hướng tích cực nhiều hơn theo hướng tiêu cực; thậm chí khi nó có
hướng liên tưởng tiêu cực thì cũng chỉ được sử dụng trong những ngữ cảnh
đặc biệt.
Vì vậy, màu sắc là một trong những biểu tượng mang tính phổ quát,
không chỉ ở phương diện địa lý mà còn ở mọi khía cạnh nhận thức: vũ trụ,
tâm lý, tôn giáo, ngôn ngữ,… [38:561].
Gần đây nhất, Paul Kay – nhà nghiên cứu ngôn ngữ thuộc trường Đại
học California ở Berkeley - đã đặt vấn đề và nghiên cứu: Liệu ngôn ngữ có
thêm sắc thái cho nhận thức về màu sắc của chúng ta hay không? Hay nó ảnh
hưởng theo cách khác? Và ông đã có những kết luận vô cùng thú vị: Quá trình
nhận biết màu sắc bắt đầu từ phần não bên phải và truyền sang bên trái thông
qua sự tiến triển của ngôn ngữ đồng thời những nhận thức màu sắc của chúng
ta được liên kết chặt chẽ với ngôn ngữ của chúng ta.

Footer Page 3 of 166.


Header Page 4 of 166.

Mặt khác, dựa vào lý thuyết tri nhận, người ta nhận thấy mỗi dân tộc
với những bức tranh ý niệm khác nhau sẽ hình thành những bức tranh ngôn
ngữ thế giới khác nhau. Và như thế, từ ngữ về màu sắc sẽ không nằm ngoài
qui luật chung đó.
Lớp từ ngữ chỉ màu sắc có số lượng không nhỏ và mang ý nghĩa vô
cùng đa dạng trong nhiều phong cách văn bản, đặc biệt là trong phong cách
ngôn ngữ văn chương. Vì thế, lớp từ chỉ màu sắc trở thành đối tượng được
ngôn ngữ học quan tâm nghiên cứu từ nhiều góc độ, trên nhiều bình diện, nhất
là về đặc điểm ngữ nghĩa, tính biểu trưng hay về đặc điểm tri nhận.
Với những lí do trên, người viết chọn đề tài: Tính biểu trưng của từ
ngữ chỉ màu sắc trong tiếng Việt (dựa trên ngữ liệu là những văn bản

vào nội dung giảng dạy trong nhà trường.
- Năm 1672, Issac Newton khám phá sự phát tán từ ánh sáng trắng ra 7
màu: đỏ, cam, vàng, xanh lá cây, xanh da trời, chàm, tím và ngược lại.
- Đến thời nữ hoàng Victoria (1819 – 1901), bà đã đưa ra thông điệp
“màu đen không phải là màu tồi tệ”; người ta bắt đầu có cái nhìn khách quan
hơn về vị trí các màu.
“Có lẽ, màu sắc là một trong những dạng thức đầu tiên được ghi lại và
hệ thống hóa. Trong mối liên hệ với văn hóa, màu sắc không chỉ đóng vai trò
đơn giản là một thuộc tính không thể tách rời của môi trường thiên nhiên và
nghệ thuật, mà còn là một phương diện kinh nghiệm tinh thần cơ bản và đặc
sắc của loài người” [84: 61]. Về từ ngữ chỉ màu sắc, nhân loại đã trải qua
chặng đường hàng thế kỷ để phân biệt và gọi tên được các màu. Theo Từ điển
bách khoa tiếng Anh (The Oxford Encyclopedic English Dictionary) [90],
năm 1493 mới xuất hiện những từ chỉ màu sắc dựa theo cây cỏ, như màu cỏ,
màu rêu; năm 1497 mới có những từ chỉ màu các vật trong giới vô sinh như
màu lửa, màu than, màu khói... và mãi đến năm 1778, mới có các màu của đồ
vật do con người làm ra, như màu mực, màu vỏ chai. Thời hiện đại, thời kỳ

Footer Page 5 of 166.


Header Page 6 of 166.

của xã hội công nghiệp, vốn từ màu sắc bổ sung thêm những từ như màu xanh
côban, màu đỏ hung.
Ngôn ngữ của mỗi một dân tộc có khả năng nhất định trong việc xây
dựng các từ chỉ màu sắc. Như trong tiếng Pháp có 178 từ ngữ chỉ màu sắc
được sử dụng tích cực; trong tiếng Anh có 154 từ ngữ; tiếng Nga là 133 từ ;
tiếng Đức là 120, tiếng Nhật là 45 từ,…[Dẫn theo 98]. Trên thực tế có một số
từ ngữ chỉ màu sắc từng xuất hiện, sau đó mất dần đi do không hợp thời,

và P. Key kết luận: Mọi ngôn ngữ ít nhất cũng có 2 từ chỉ màu đen và màu
trắng, có 3 từ thì có thêm màu đỏ, có 4 từ thì có thêm màu xanh lá hoặc vàng,
có 5 từ thì thêm cả màu xanh lá và vàng, có 6 từ thì thêm màu xanh da trời,
có 7 từ thì có thêm màu nâu, có trên 7 từ thì có thêm màu tím, hồng, da cam,
xám hoặc hỗn hợp những màu này. Ở một mức độ nhất định, có thể coi đó là
chìa khóa mở ra nhiều công trình nghiên cứu và thực tế đã có rất nhiều công
trình nghiên cứu trên cơ sở tư tưởng của B. Belin và P. Key.
Sau đó, tác giả Micheal Quinion trong bài viết “Những tên gọi nhất thời
của màu sắc” (The fugitive names of hues) đăng trên trang English in the
Bristish viewpoint đã nghiên cứu từ ngữ chỉ màu sắc tiếng Anh bằng phương
pháp từ nguyên học. Ông đã xác định màu từ màu xanh da trời (blue) bắt
nguồn từ tiếng Pháp, xanh lá cây (green) có cùng gốc với “grow” và xuất xứ
từ tiếng Đức, màu đỏ (red) được vay mượn từ tiếng Hy Lạp, màu hồng (pink)
cùng gốc từ với tiếng Hà Lan,… Cách nghiên cứu của tác giả đã mở ra thêm
một hướng tiếp cận khác trong tiến trình nghiên cứu từ ngữ chỉ màu sắc trên
thế giới nói chung và tiếng Anh nói riêng.
Đặc biệt, trong công trình đồ sộ Dictionnaire des symboles: mythes,
rêves, coutumes, gestes, formes, figures, couleurs, nombres (Từ điển biểu
tượng văn hóa thế giới) [38], Jean Chevalier và Alain Gheerbrant đã trình bày

1

Tái bản lần gần đây nhất là năm 1999 với tiêu đề Basic Color Terms Their Universality and Evolution, Center

for Study of Language and Information, the United State.

Footer Page 7 of 166.


Header Page 8 of 166.



Header Page 9 of 166.

màu xanh, từ đó, nêu bật vài điểm trong phong cách nghệ thuật của Nguyễn
Bính
- Trịnh Thị Thu Hiền với bài viết Một vài đặc điểm của các từ chỉ màu
phụ trong tiếng Việt (Những vấn đề về Ngôn ngữ học, Hội nghị khoa học của
Viện Ngôn ngữ) năm 2004; đã nghiên cứu về đặc điểm cấu tạo đến khả năng
hoạt động của hệ thống từ chỉ màu phụ trong tiếng Việt.
- Năm 2005, trong công trình Một số vấn đề về kí hiệu học (Đề tài khoa
học cấp Đại học Quốc gia), Nguyễn Đức Dân có một phần đề cập đến màu
sắc như một biểu tượng mang tính phổ quát trong một số nghi thức văn hóa,
tôn giáo trên thế giới.
- Trên Ngôn ngữ và Đời sống số 8 năm 2006, Hà Thị Thu Hoài viết “Từ
chỉ màu sắc để miêu tả thiên nhiên trong tác phẩm Truyện Tây Bắc của nhà
văn Tô Hoài”. Qua khảo sát, tác giả bài viết đã phân tích nét đặc sắc sáng tạo
trong việc tạo ra nhiều sắc độ của màu trắng, đỏ, vàng trên những trang văn
Tô Hoài.
- Cũng trên Ngôn ngữ và Đời sống (số 8- 2007), Đinh Trí Dũng- Lê Thu
Giang nghiên cứu từ chỉ màu sắc trong thơ Thế Lữ qua bài viết “Thế Lữngười vẽ tranh ngôn từ thi ca”. Trong bài viết này, hai tác giả đã chứng minh
rằng “màu xanh là màu Thế Lữ ưu tiên nhất”, “minh chứng cho đôi mắt đa
tình, lòng yêu đời nồng nàn tha thiết”.
Những bài viết, công trình nghiên cứu trên là những gợi ý quan trọng
cho người viết khi thực hiện đề tài: Tính biểu trưng của từ ngữ chỉ màu sắc
trong tiếng Việt (dựa trên ngữ liệu là những văn bản thuộc phong cách
ngôn ngữ văn chương).

Footer Page 9 of 166.


Footer Page 10 of 166.


Header Page 11 of 166.

4.2 Nguồn ngữ liệu
Để thực hiện đề tài, luận văn thu thập, khảo sát từ ngữ chỉ màu sắc trong
Từ điển tiếng Việt do Hoàng Phê (chủ biên) (tái bản 2003, NXB Đà Nẵng) và
một số văn bản sau:
- Thành ngữ tiếng Việt (Nguyễn Lực)
- Kho tàng ca dao người Việt (Nguyễn Xuân Kính chủ biên)
- Truyện Kiều của Nguyễn Du
- Thơ Thơ và Gửi hương cho gió của Xuân Diệu
- Gió lộng của Tố Hữu
- Tùy bút Hà Nội ta đánh Mỹ giỏi của Nguyễn Tuân.
Ngoài ra, khi cần đối chiếu làm rõ, luận văn có khảo sát thêm một số
tác phẩm của Hồ Xuân Hương, Nguyễn Khuyến, Thế Lữ,… ở những phần
liên quan.
5. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, phần nội
dung gồm có 3 chương:
Chương 1: Chương này trình bày những lí luận cơ sở về khái niệm tính
biểu trưng của từ ngữ, khái niệm màu sắc và từ ngữ chỉ màu sắc; đặc điểm
cấu tạo, ngữ nghĩa của từ ngữ chỉ màu sắc trong tiếng Việt. Đây là chương
làm tiền đề cho việc khảo sát và phân tích nghĩa biểu trưng của từ ngữ chỉ
màu sắc trong tiếng Việt ở chương sau.
Chương 2: Chúng tôi tiến hành khảo sát nghĩa biểu trưng của từng
nhóm màu trong từ điển và trong các văn bản thuộc phong cách ngôn ngữ văn
chương. Thông qua kết quả khảo sát ngữ liệu, trong chương này, luận văn nêu
bật những ý nghĩa biểu trưng của từng nhóm màu, góp phần làm rõ nghĩa của


Cái sở chỉ

Cái sở biểu
Phản ánh

Sơ đồ 1.1: Tam giác ngữ nghĩa của từ
Cái sở chỉ là đối tượng mà từ biểu hiện, gọi tên. Cái sở chỉ có thể gồm
những đối tượng ngoài ngôn ngữ như: sự vật, hiện tượng trong thực tế khách
quan, tư duy và người sử dụng và những đối tượng trong ngôn ngữ như: chức
năng tín hiệu học, hệ thống (cấu trúc) của ngôn ngữ.
Cái sở biểu là sự phản ánh của đối tượng trong nhận thức con người.
Nó phản ánh sự vật, hiện tượng trong nhận thức con người. Cần phân biệt cái
được biểu hiện với nghĩa của đơn vị ngôn ngữ. Nghĩa của từ (cũng như của
các đơn vị ngôn ngữ khác) là quan hệ của từ với khái niệm về sự vật hiện

Footer Page 13 of 166.


Header Page 14 of 166.

tượng nằm ngoài bản thân nó. Hiểu nghĩa của một đơn vị nào đó là hiểu đơn
vị ấy có quan hệ với cái gì, tức là nó biểu thị cái gì.
Vì từ có quan hệ rất đa dạng với các hiện tượng khác cho nên nghĩa của
từ cũng là một hiện tượng phức tạp, bao gồm một số thành tố chính như:
a.

Nghĩa sở chỉ: là mối quan hệ của từ với đối tượng mà từ biểu thị.

Đối tượng mà từ biểu thị không phải chỉ là những sự vật, mà còn là các quá

c.

Nghĩa sở dụng: là quan hệ của từ với người sử dụng (người nói,

người viết, người nghe, người đọc). Người sử dụng phải chú ý đến từ ngữ
được dùng. Họ có thể bộc lộ thái độ, cảm xúc của mình với từ ngữ và qua đó
tới cái sở chỉ và cái sở biểu của từ ngữ. Quan hệ của từ với người sử dụng
được gọi là nghĩa sở dụng.
d.

Nghĩa kết cấu: là quan hệ giữa từ với những từ khác trong hệ

thống từ vựng được gọi là nghĩa kết cấu. Nghĩa sở chỉ và nghĩa sở biểu trong
các ngôn ngữ đều có quan hệ với việc nhận thức hiện thực khách quan.
Nhưng sự hình thành của những cái sở biểu lại được diễn ra trên cơ sở ngôn
ngữ, bằng những phương tiện có sẵn, cho nên có thể đạt đến các cái sở biểu
bằng những con đường khác nhau, bởi vì bản thân quá trình nhận thức được
thực hiện bằng những biện pháp ngôn ngữ khác nhau. Khi các biện pháp ngôn
ngữ thay đổi thì cái sở biểu cũng thay đổi. Chính vì vậy, cái sở biểu của
những từ tương ứng trong các ngôn ngữ không hoàn toàn giống nhau. Sự khác
nhau là do quan hệ nội tại lẫn nhau giữa các từ trong từng ngôn ngữ qui định.
Quan hệ giữa từ này với từ khác thể hiện trên hai trục: trục đối vị và
trục ngữ đoạn. Quan hệ của từ đối với từ khác trên trục đối vị được gọi là
nghĩa khu biệt hay giá trị. Quan hệ của từ với các từ khác trên trục ngữ đoạn
được gọi là nghĩa cú pháp hay ngữ trị. Nghĩa cú pháp hay ngữ trị của từ chính
là khả năng kết hợp từ vựng và khả năng kết hợp cú pháp của từ đó. Khả năng
kết hợp từ vựng là khả năng kết hợp của các nghĩa, còn khả năng kết hợp cú
pháp là khả năng dùng các từ trong những cấu trúc nào đó.
Theo Đỗ Hữu Châu, ý nghĩa của từ là một tập hợp một số thành phần
nhất định, bao gồm các ý nghĩa sau:

phương thức chuyển nghĩa ẩn dụ, hoán dụ. Đó cũng là quá trình hình thành
nghĩa biểu trưng. Những nghĩa chuyển được dùng để biểu hiện một cách
tượng trưng, ước lệ cho yếu tố có tính khái quát, trừu tượng, nghĩa đó là nghĩa
biểu trưng.

Footer Page 16 of 166.


Header Page 17 of 166.

John Lyons [46: 21] phân tích: Một sự vật được coi là tín hiệu (sign)
của một cái khác được gọi là biểu trưng. Nhờ sự hiện diện của những tín hiệu
mà người khác có thể suy đoán nghĩa biểu thị. Khi đó, biểu trưng (symbol)
được xác lập.
Theo Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học [85], thì cái biểu trưng
(symbol) là “kí hiệu, dấu hiệu mà nội dung khái niệm do nó biểu đạt được biết
nhờ vào tri giác suy luận từ chính bản thân cái đặc trưng, cái thuộc tính của
bản thể và hình thái cấu tạo của nó” [85: 30].
Theo quan niệm trên thì từ ngữ là cái biểu trưng và những nghĩa phái
sinh (derivative meaning) như nghĩa ẩn dụ (metaphor), nghĩa hoán dụ
(metonymy) đều là nghĩa biểu trưng bởi đều được suy ra từ những nghĩa cơ sở
(nghĩa gốc) dựa trên tính tương đồng và tương cận. Ví dụ như: “cáo” là tên
của một loại thú ăn thịt, sống ở rừng, gần với chó nhưng chân thấp, tai to,
mõm nhọn. Thế nhưng “cáo” trong câu “Thằng cha đó cáo lắm.” thì có nghĩa
là tinh ranh, gian xảo.
Nghĩa biểu trưng cũng được tạo ra theo quy luật hoán dụ. Chẳng hạn từ
“chân” (danh từ) có nghĩa gốc là “bộ phận dưới cùng của cơ thể người hay
động vật, dùng để đi, đứng; thường được coi là biểu tượng của hoạt động đi
lại của con người” [53: 240]. Trên cơ sở nghĩa gốc nêu trên, từ “chân” còn có
thể dùng với nghĩa phái sinh hoán dụ là “cương vị, phận sự của một người với


Nghĩa
phái sinh

Ý thức
bền vững

Nghĩa
biểu
trưng

Sơ đồ 1.2: Quá trình hình thành nghĩa biểu trưng
1.2 Từ ngữ chỉ màu sắc
1.2.1 Khái niệm về màu sắc
Màu sắc là một thuộc tính của vật thể, tồn tại một cách khách quan
trong thế giới vật chất mà thị giác con người có thể nhận biết được. Sự vật có
màu khác nhau là do chúng có tần số ánh sáng khác nhau, còn sắc tức là
trạng thái màu của sự vật, mỗi màu có một sắc thái riêng.
Trang web wikipedia định nghĩa: Màu sắc là đặc tính giác quan của thị
giác con người. Màu sắc có được do ánh sáng quang phổ tác động vào mắt
bằng các trực giác quang phổ của cơ quan hấp thụ ánh sáng [95].

Footer Page 18 of 166.


Header Page 19 of 166.

Các loại màu sắc và các chỉ định về vật lí của màu sắc cũng có liên
quan đến các vật thể, vật liệu, các nguồn ánh sáng,…;chúng được dựa vào các
đặc tính tự nhiên như sự hấp thụ, sự phản chiếu hoặc là sự phát ra quang phổ.

xác định màu cơ bản (màu chính) và màu phụ là một thực tế đặt ra đối với
nhiều ngôn ngữ. Tính hệ thống của các từ ngữ chỉ màu đòi hỏi phải chỉ ra
được trong một ngôn ngữ những màu nào được coi là màu cơ bản, những màu
nào là màu phụ và ứng với chúng là những từ ngữ nào. Đồng thời, cũng có thể
suy ra: Số lượng từ chỉ màu trong các ngôn ngữ nói chung không có sự tương
đương nhau, do sự ghi nhận và gọi tên màu sắc không giống nhau. Có ngôn
ngữ chỉ biết có hai màu lại có những ngôn ngữ lại phân biệt đến bảy màu.
Như vậy chỉ có thể nói đến việc xác định màu cơ bản ở từng ngôn ngữ cụ thể.
Hơn nữa, vấn đề này cũng quan trọng ở những ngôn ngữ có từ chỉ màu phong
phú như tiếng Việt.
Sự nhận thức về màu và phân chia dải màu để gọi tên các màu ở các
ngôn ngữ thường dựa trên cảm nhận thị giác và quan điểm truyền thống của
từng cộng đồng người. Vì lẽ đó, một số màu được coi là cơ bản ở ngôn ngữ
này lại có thể không phải là màu cơ bản ở ngôn ngữ khác. Chẳng hạn, thời
xưa, ông cha ta không xem màu xanh da trời, xanh lá cây và màu da cam là
màu cơ bản trong tiếng Việt. Trong khi đó, ở tiếng Anh, theo Berlin va Kay,
các màu cơ bản lại là: trắng, đen, đỏ, xanh lá cây, vàng, xanh nước biển, nâu
tím hồng, da cam, xám; còn ở tiếng Nga, các màu cơ bản lại là hồng, nâu,
trắng, đen, xám cộng với bảy màu có trong quang phổ cầu vồng [Dẫn theo16:
16].
Trong tài liệu phổ quát trên, bảy từ chỉ màu được đưa ra không nhất
thiết là những từ chỉ màu sắc của riêng một ngôn ngữ nào; cũng không phải là
những màu của cầu vồng (đỏ, cam, vàng, lục, lam, chàm, tím). Nói cách khác,
bảy màu cầu vồng không có sự liên quan với nhóm màu cơ bản của từng ngôn
ngữ hay với bảy màu của tài liệu trên. Cũng có trường hợp như tiếng Nga,
nhóm màu cơ bản được các nhà nghiên cứu xác định gồm bảy màu cầu vồng

Footer Page 20 of 166.



Xanh

Xanh: dụng cụ làm bếp

Vàng

Vàng: kim loại quý/ vung

Đen
Nâu

Nâu: củ nâu

Tím
Xám
2

Màu hồng là màu phụ của đỏ, nhưng người viết xếp riêng để tiện quan sát. Ở đây, luận văn không xét các
trường hợp bạc với màu bạc, đồng với màu đồng,… vì đây là trường hợp chuyển nghĩa sẽ phân tích ở sau.

Footer Page 21 of 166.


Header Page 22 of 166.

1.2.3 Tính biểu trưng của từ chỉ màu sắc trên thế giới
Từ xa xưa, con người đã biết dùng màu sắc để tạo thành các biểu tượng
biểu trưng cho những giá trị tâm linh trong đời sống văn hóa, xã hội. Dùng
màu sắc để biểu trưng có thể theo hai cách:
- Dùng riêng từng màu: một số màu biểu trưng cho các nguyên tố hóa


(2)

Màu đen (black):

- Màu đen hay được cảm nhận trước tiên ở mặt lạnh lùng, tiêu cực của
nó. Màu đen gợi liên tưởng đến bóng tối thuở hồng hoang, đến trạng thái bất
phân nguyên thủy. Một số dân tộc xem màu đen tượng trưng cho địa ngục, âm
ti (người da đỏ Pueblo, người Algonkin,…). 3
- Màu đen biểu thị tính thụ động tuyệt đối, trạng thái chết hoàn toàn và
bất di bất dịch. Màu đen là màu tang tóc nhưng nặng nề và khủng khiếp hơn
màu trắng (màu tang trắng chỉ sự trống vắng nhất thời, sẽ được tái sinh):
Adam và Eva của đạo Zoroastre, bị Ahriman phỉnh lừa, mặc đồ đen rời khỏi
thiên đàng.
- Là màu của sự tuyên phạt, từ chối mọi hư danh nơi trần thế này: áo
choàng đen của tu sĩ đạo Kitô và đạo Hồi; ở Ai Cập, hình con bồ câu đen chỉ
người quả phụ ở vậy cho đến chết hay ý nghĩa định mệnh của con tàu buồm
đen trong sử thi Hy Lạp và tình sử Tristan.
- Màu đen khởi nguyên là một biểu tượng phồn thực. Ở Ai Cập cổ
cũng như ở Bắc Phi, đây là màu của đất đai màu mỡ, của đám mây sắp mưa.
Vì vậy, màu đen của đất đai phì nhiêu được ngợi ca trong các cuộc hiến tế
thần Địa ngục. 4
- Màu đen gắn với cái ác, cái vô thức. Trong tiếng Pháp, người đáng
ghét được gọi là bête noire (con thú đen). Học sinh ở Anh gọi ngày thứ hai
phải trở lại lớp học là Black Monday (Thứ hai Đen) và người La Mã đánh dấu
các ngày xấu bằng một cục đá đen.
- Màu đen còn tương ứng với khí âm Trung Hoa, thuộc nữ tính, bản
năng và thuộc về người mẹ: nhiều Thánh mẫu; nhiều Đức Mẹ Đồng Trinh da
3


- Màu đỏ tía còn hiện thân cho màu quyền lực. Ở La Mã, nó là màu
của các tướng lĩnh, của hoàng tộc, của Hoàng đế: Bộ luật Justinien kết tội tử
hình những ai mua bán vải màu đỏ tía.
(4)

Màu tím (purple, violet):

- Màu tím được tạo thành bằng hai lượng bằng nhau của màu đỏ và
màu xanh lam. Vì thế nó được xem là màu tiết độ, của sự tỉnh táo, của cách
hành động có suy nghĩ, có sự cân bằng giữa trời và đất, giữa cảm giác và trí
tuệ, giữa đam mê và sự khôn ngoan: các giám mục mặc áo chùng màu tím;
những cuộc giao hợp mang tính nghi lễ của người luyện yoga (nghi thức của
đạo Mật tông) được tiến hành trong những căn phòng có ánh sáng tím.
- Màu tím còn là giai đoạn chuyển tiếp của sự sống sang cái chết, sự
biến hóa. Vì vậy, các công trình kiến trúc thời Trung đại thường tạc hình

Footer Page 24 of 166.


Header Page 25 of 166.

Chúa Jesus mặc áo dài tím trong ngày khổ nạn; dàn đồng ca trong nhà thờ
mặc áo màu tím vào ngày thứ sáu của Tuần lễ thánh. Muộn hơn một chút,
phương Tây cũng dùng màu tím làm màu tang hoặc nửa tang.
(5)

Màu vàng (yellow):

- Màu vàng là màu nóng nhất, cởi mở nhất trong tất cả các màu. Vì thế
nó mang tính chất thần thánh: Thần Mặt trời, chư thần của người Aztèque,…


Footer Page 25 of 166.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status