BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC
TRẦN THỊ KIM TUYẾN
ĐỐI CHIẾU ĐẶC ĐIỂM NGỮ NGHĨA
CỦA TỪ NGỮ CHỈ MÀU SẮC
TRONG TIẾNG PHÁP VÀ TIẾNG VIỆT
CHUYÊN NGÀNH: NGÔN NGỮ HỌC
MÃ SỐ: 60220240
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA NƯỚC NGOÀI
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. LÊ ĐỨC QUANG
Huế, 2014
LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các
số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được
ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
Tác giả luận văn
Trần Thị Kim Tuyến
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến Thầy giáo TS. Lê Đức
Quang đã hướng dẫn tôi học tập, nghiên cứu trong suốt thời
gian học tập cao học và giúp tôi hoàn thành luận văn này.
Xin trân trọng cảm ơn Cô giáo TS. Trương Thị Nhàn, Thầy
giáo PGS.TS. Hoàng Tất Thắng, Cô giáo TS. Nguyễn Thị Bạch
Nhạn đã giúp đỡ, góp ý, hướng dẫn tôi những nội dung quan
trọng, cần thiết để định hướng triển khai thực hiện đề tài
luận văn.
Tôi xin trân trọng cảm ơn Quý thầy cô giáo tham gia
giảng dạy lớp cao học Ngôn Ngữ học khóa 2012 đã nhiệt
tình truyền đạt cho tôi những kiến thức quý báu, những kinh
1.1.1. Khái niệm từ 6
1.1.2. Khái niệm ngữ 7
1.1.3. Khái niệm từ ngữ chỉ màu sắc 8
1.2. ĐẶC ĐIỂM NGỮ NGHĨA CỦA TỪ 10
1.2.1. Nghĩa của từ 10
1.2.2. Nghĩa gốc 13
1.2.3. Nghĩa phái sinh 14
1.2.4. Sự chuyển nghĩa 14
1.3. VĂN HÓA VÀ MỐI QUAN HỆ GIỮA VĂN HÓA VÀ NGÔN NGỮ 19
Ngôn ngữ là một hệ thống cấu trúc tầng bậc chặt chẽ được người bản ngữ chấp nhận, ghi
nhớ, hiểu và sử dụng trong khi giao tiếp với cộng đồng. Văn hóa là cách hành xử của
con người với chính bản thân mình. Văn hóa tồn tại cả dạng vật chất và tinh thần 19
Văn hóa và ngôn ngữ có mối liên hệ chặt chẽ không thể tách rời. Ngôn ngữ là phương
tiện để thể hiện văn hóa và văn hóa chứa đựng trong ngôn ngữ. Ngôn ngữ và truyền
thống là kết tinh của văn hóa dân tộc, nhờ vào sự truyền bá rộng rãi của ngôn ngữ mà
văn hóa được phổ biến và lưu truyền rộng rãi, nền văn hóa cũng nhờ đó mà phát triển.
Sự biến đổi và phát triển của ngôn ngữ cũng luôn luôn đồng hành với sự phát triển của
văn hóa. Vậy muốn nghiên cứu sâu về văn hóa phải nghiên cứu ngôn ngữ và tất nhiên
muốn đi sâu vào ngôn ngữ phải chú tâm đến văn hóa. Điều đó được thể hiện rõ ràng
trong sự tiếp xúc giao thiệp văn hóa mà hai bên (khác dân tộc, khác quốc gia) có bối
cảnh văn hóa khác nhau. Thông thường thì trình độ sử dụng một ngôn ngữ như một
ngoại ngữ được quyết định bằng hai yếu tố: sự am hiểu về ngôn ngữ đó và sự hiểu biết
về kiến thức văn hóa trong bối cảnh của ngôn ngữ đó 19
1.4. TIẾU KẾT 19
CHƯƠNG 2. ĐẶC ĐIỂM NGỮ NGHĨA CỦA TỪ NGỮ CHỈ MÀU SẮC TRONG TIẾNG
PHÁP VÀ TIẾNG VIỆT 21
2.1. ĐẶC ĐIỂM NGỮ NGHĨA CỦA TỪ NGỮ CHỈ MÀU SẮC TRONG TIẾNG PHÁP
21
2.1.1. Từ chỉ màu cơ sở 22
2.1.2. Từ ngữ chỉ màu phái sinh 24
2. HƯỚNG NGHIÊN CỨU TIẾP THEO 81
TÀI LIỆU THAM KHẢO 82
PHỤ LỤC
DANH MỤC CÁC BẢNG
Số hiệu bảng Tên bảng Trang
2.1
Liệt kê các từ ngữ chỉ màu sắc cơ sở và từ ngữ chỉ
màu sắc phái sinh trong tiếng Pháp
21
2.2
Liệt kê các từ ngữ chỉ màu sắc cơ sở và từ ngữ chỉ
màu sắc phái sinh trong tiếng Việt
36
3.1
Thống kê số lượng từ ngữ chỉ màu phái sinh trong
tiếng Pháp và tiếng Việt
59
3.2
Bảng các từ ngữ chỉ màu phái sinh có sự tương
đồng về ý nghĩa trong tiếng Pháp và tiếng Việt
60
3.3
Bảng đối chiếu khả năng chuyển từ loại của hai
ngôn ngữ Pháp – Việt
64
3.4
Sự tương đồng về hiện tượng chuyển nghĩa trong
tiếng Pháp và tiếng Việt
65
MỞ ĐẦU
Nguyễn Khánh Hà, Hệ thống từ chỉ màu sắc trong tiếng Việt, Luận văn thạc sĩ, Đại học Quốc gia Hà Nội,
1995.
1
có một mảng hiện thực độc đáo – thế giới màu sắc – được tri nhận, cọ xát
theo một cách riêng, cụ thể, tinh tế với đầy đủ sắc độ. Nghiên cứu đặc điểm
ngữ nghĩa của từ ngữ chỉ màu sắc trong tiếng Pháp và tiếng Việt không chỉ
giúp người nghiên cứu nắm vững các vấn đề thuộc bình diện từ, ngữ nghĩa mà
còn góp phần tìm hiểu đặc trưng văn hoá dân tộc cũng như cách vận dụng ngữ
nghĩa của từ đó vào hoạt động giao tiếp của mỗi cộng đồng. Vì vậy tôi chọn
nghiên cứu đề tài: “Đối chiếu đặc điểm ngữ nghĩa của từ ngữ chỉ màu sắc
trong tiếng Pháp và tiếng Việt” làm đề tài luận văn thạc sĩ của mình.
2. LỊCH SỬ VẤN ĐỀ
Trong các công trình nghiên cứu về tiếng Việt, tiếng Anh, tiếng Pháp từ
trước đến nay, đã có nhiều tác giả quan tâm đến hệ thống từ ngữ chỉ màu sắc.
Có thể kể đến các công trình như: Năm 1969 Berlin và Kay thực hiện một sự
khảo sát rất công phu trên cứ liệu các từ sơ cấp chỉ số màu sắc trong 100 ngôn
ngữ trên thế giới đã đưa ra một giả thuyết trái ngược với giả thuyết của Sapir
– Whorf được gọi là giả thuyết Berlin - Kay. Berlin và Kay chủ trương chỉ
nghiên cứu các từ chỉ màu sắc sơ cấp, cũng gọi là các từ chỉ màu sắc cơ sở;
2
Công trình của Hoàng Văn Hành: “Về cấu trúc ngữ nghĩa của tính từ tiếng
Việt”; Nguyễn Thị Liên với luận văn thạc sĩ “Sự biểu đạt ý nghĩa màu sắc
của từ ngữ tiếng Việt”; Nguyễn Khánh Hà với luận văn thạc sĩ “Hệ thống từ
ngữ chỉ màu sắc trong tiếng Việt”; Nguyễn Thị Hải Yến với luận văn thạc sĩ
“từ ngữ chỉ màu sắc trong tiếng Anh đối chiếu với tiếng Việt”; Đặng Diễm
Đông với luận văn thạc sĩ “Đối chiếu đặc trưng ngôn ngữ - văn hoá của
thành ngữ có yếu tố chỉ màu sắc trong tiếng Pháp và tiếng Việt”; … Ở bình
diện khác có tác giả Nguyễn Đức Tồn với công trình nghiên cứu “Tìm hiểu
đặc trưng văn hoá dân tộc của ngôn ngữ và tư duy ở người Việt”; tác giả
Trần Ngọc Thêm “Tìm về bản sắc văn hoá Việt Nam”; Vũ Phương Anh với
3
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu đối chiếu đặc điểm ngữ nghĩa của từ ngữ
chỉ màu sắc trong tiếng Pháp và tiếng Việt.
4.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu vấn đề cấu tạo và ngữ nghĩa của từ ngữ chỉ màu sắc trong
tiếng Pháp và tiếng Việt.
- Phân tích khả năng phái sinh, chuyển từ loại, sự chuyển nghĩa; đối
chiếu sự tương đồng và dị biệt giữa hai ngôn ngữ Pháp – Việt.
4.3. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài luận văn này tôi tiến hành nghiên cứu trong phạm vi sau:
- Hệ thống, phân loại, đặc điểm ngữ nghĩa của từ ngữ chỉ màu sắc trong
tiếng Pháp và tiếng Việt.
- Phân tích đặc điểm ngữ nghĩa của 10 từ chỉ màu cơ sở và 33 từ ngữ
chỉ màu phái sinh trong tiếng Pháp; 9 từ chỉ màu cơ sở và 124 từ ngữ chỉ màu
phái sinh trong tiếng Việt.
- Đối chiếu đặc điểm ngữ nghĩa để giải quyết được nét tương đồng và dị
biệt giữa hai ngôn ngữ; Rút ra được những đặc trưng văn hóa của hai dân tộc.
5. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
5.1. Phương pháp miêu tả
Thống kê tất cả các từ ngữ chỉ màu sắc cơ sở và từ ngữ chỉ màu sắc phái
sinh trong tiếng Pháp và tiếng Việt. Trên cơ sở cứ liệu thu thập được, tiến hành
phân loại, tính tỉ lệ phần trăm của từng loại. Dựa vào sự phân loại, tiến hành
miêu tả đặc điểm ngữ nghĩa của từng từ chỉ màu sắc cơ sở và các từ ngữ chỉ màu
sắc phái sinh trong hai ngôn ngữ.
5.2. Phương pháp phân tích ngữ nghĩa
4
Trong phương pháp này tôi tiến hành phân tích thành tố nghĩa (phân
tích nét nghĩa), phân tích hiện tượng chuyển nghĩa của từng từ ngữ chỉ màu
sắc cơ sở trong tiếng Pháp và tiếng Việt.
nhất định, nằm trong những kiểu cấu tạo nhất định, tất cả ứng với một kiểu ý
nghĩa nhất định, lớn nhất trong tiếng Việt và nhỏ nhất để tạo câu”. [47, tr.333]
“Từ là một đơn vị hai mặt: mặt hình thức và mặt ý nghĩa. Mặt hình thức
theo chúng tôi, là một hợp thể của một số thành phần: thành phần ngữ âm
(còn gọi là ngoại biểu), thành phần cấu tạo (còn gọi là cấu trúc của từ) và
thành phần ngữ pháp”. [47, tr.335]
“Từ là đơn vị nhỏ nhất có nghĩa của ngôn ngữ được vận dụng độc lập,
tái hiện tự do trong lời nói để xây dựng nên câu” [9, tr.136]
Theo Nguyễn Thiện Giáp [13, tr.61]:
“Từ là đơn vị nhỏ nhất của ngôn ngữ, độc lập về ý nghĩa và hình thức”
Định nghĩa trên đây hàm chứa hai vấn đề cơ bản:
a) Vấn đề khả năng tách biệt của từ;
b) Vấn đề tính hoàn chỉnh của từ.
Khả năng tách biệt của từ trong lời nói, tức là khả năng tách biệt những
từ bên cạnh là cần thiết để cho từ phân biệt được với những bộ phận tạo thành
của từ (thành tố của từ ghép, thân từ, phụ tố,…) Đồng thời tính hoàn chỉnh
trong nội bộ từ là cần thiết để cho nó, với tư cách một từ riêng biệt, phân biệt
được với cụm từ.
Theo Mai Ngọc Chừ: [9, tr.141-142]
6
Từ là đơn vị nhỏ nhất, có nghĩa có kết cấu vỏ ngữ âm bền vững, hoàn
chỉnh, có chức năng gọi tên, được vận dụng độc lập, tái hiện tự do trong lời
nói để tạo câu.
1.1.2. Khái niệm ngữ
Theo Nguyễn Như Ý [47, tr.176]:
Kết hợp hai hoặc nhiều thực từ (không hoặc có cùng với các hư từ có
quan hệ với chúng gắn bó về ý nghĩa và ngữ pháp), diễn đạt một khái niệm
thống nhất và là tên gọi phức tạp biểu thị các hiện tượng của thực tại khách
quan. Đó là một kết cấu cú pháp được tạo thành bởi hai hoặc nhiều thực từ trên
cơ sở liên hệ ngữ pháp phụ thuộc – theo quan hệ phù hợp, chi phối hay liên
cũng vậy, “lục” nằm trong nghĩa của từ “xanh” và phạm vi sử dụng của chúng
cũng hẹp hơn “xanh”.
- Từ cơ sở phải nổi bật đối với người dùng (nói đúng hơn là đối với các
nghiệm viên. Nổi bật có nghĩa là: Có xu hướng xuất hiện hàng đầu danh mục
của các từ chỉ màu sắc; ổn định về chiếu vật đối với các nghiệm viên (người
dùng) và đối với các trường hợp sử dụng. Có nghĩa là qua các nghiệm viên,
một từ “xanh” được dùng cho lá cây chẳng hạn, thì mọi nghiệm viên cũng
dùng như thế để chỉ màu của lá cây. [5, tr. 145 - 146]
Theo Berlin và Key, trong 100 ngôn ngữ đã quan sát thì các từ chỉ màu
sắc được phân phối theo quy tắc sau:
1. Tất cả các ngôn ngữ đều có màu “đen” và “trắng”
2. Nếu ngôn ngữ có 3 từ thì thêm “đỏ”
8
3. Nếu có bốn từ thì thêm “xanh lá cây” hoặc “vàng”
4. Nếu có năm từ thì cả “xanh lá mạ” và “vàng” đều có.
5. Nếu có sáu từ thì thêm “xanh dương”
6. Nếu có bảy từ thì có từ cho “màu nâu”
7. Nếu có tám từ trở lên thì có “tía”, “da cam”, “xám” và một số phối hợp.
Rõ ràng là giả thuyết Berlin và Key còn nhiều chỗ cần thảo luận, đặc
biệt là vấn đề từ chỉ màu sắc trong tiếng Việt. Ví dụ: “vàng” và “nâu” của
tiếng Việt còn là tên gọi của kim loại và củ nâu. Từ nguyên học phải giải
quyết thêm có kim loại vàng rồi mới có màu vàng, có củ nâu rồi mới có màu
nâu hoặc ngược lại; mặt khác, “hồng” là từ mượn của tiếng Hán, dù mượn đã
khá lâu. Tuy nhiên, giả thuyết này cho thấy một sự thật là đằng sau những
tính chất có tính đặc ngữ của các từ chỉ màu sắc trong từng ngôn ngữ vẫn tồn
tại một cơ chế chung, cái cơ chế có tính phổ quát đối với mọi ngôn ngữ, cũng
tức là phổ quát đối với tư duy của toàn nhân loại. [5, tr.148]
Mỗi ngôn ngữ đều có số lượng từ chỉ màu sắc là từ chỉ màu cơ sở:
trắng, đỏ, đen, xanh, vàng, nâu, tím, hồng, xám. Tiếng Pháp và tiếng Việt có
các từ chỉ màu cơ sở đó là: trắng (blanc), đỏ (rouge), đen (noir), xanh
nhiều cách hiểu, nhiều định nghĩa khác nhau. Tuy vậy, việc nêu lại và bình
luận các quan niệm về nghĩa, chúng ta đành tạm gác sang một bên cho cách
trình bày ở đây đỡ cồng kềnh, phức tạp. [9, tr.166]
Nghĩa của từ là những liên hệ được xác lập trong nhận thức của
chúng ta giữa những cái mà nó (từ) chỉ ra (những cái mà nó làm tín hiệu
cho). [9, tr.166]
10
Khi nghe hoặc nói một từ nào đó, ta quy chiếu, gắn nó vào đúng sự
vật có tên gọi là từ đó như cả cộng đồng vẫn gọi; đồng thời ít nhiều ta cũng
biết được đặc trưng, bản chất của sự vật đó và ta sử dụng từ trong giao tiếp
đúng với các mẹo luật mà ngôn ngữ cho phép; vậy ta đã hiểu được nghĩa
của từ. [9, tr.166]
Ta có thể thấy rõ mối liên hệ mối liên hệ giữa từ với các đối tượng
ngoài từ khi quan sát trẻ em mới học nói. Một đứa trẻ hiểu được từ “gà” khi
nghe được âm thanh của từ đó trong các phát ngôn và có sự hiện diện của con
gà. Dần dần, trong nhận thức của trẻ, âm “gà” trong các phát ngôn như: Gà
trống đẹp; Gà con, gà mẹ đi chơi; Thịt gà thơm.v.v… Như vậy, đứa trẻ đã
nắm được nghĩa của từ “gà”. [9, tr.166]
Nghĩa của từ không tồn tại trong sự vật hiện tượng, không tồn tại trong
ý thức, trong bộ óc của con người. Nghĩa của từ tồn tại trong từ, nói rộng ra là
trong hệ thống ngôn ngữ. Hai mặt hình thức âm thanh và nội dung ý nghĩa
của từ gắn bó chặt chẽ, không tách rời nhau. [9, tr.166]
Đối với từ vựng - ngữ nghĩa học, cái quan trọng nổi lên hàng đầu là
nghĩa biểu niệm được hiểu là sư phản ánh sự vật, biểu vật (đúng hơn là sự
phản ánh các thuộc tính, các đặc trưng của chúng trong ý thức con người tiến
hành bằng từ).
Trọng tâm chú ý phân tích, miêu tả từ vựng – ngữ nghĩa học là nghĩa
biểu niệm chứ không phải là các thành phần khác (chúng chỉ được lưu ý trong
những trường hợp cần thiết mà thôi). Vì vậy, ở đây khi không thật bắt buộc
phải xác định rành mạch về mặt thuật ngữ thì chúng ta sẽ nói đến nghĩa với
bản thể của màu xanh. Bây giờ so sánh “xanh” và “xanh xao”. Trong nghĩa
biểu niệm của từ “xanh xao” có nét nghĩa [của màu da của con người]. Nét
12
nghĩa này cũng là nét nghĩa miêu tả. Nhưng ngoài nét nghĩa đó ra thì “xanh
xao” còn có nét nghĩa [yếu ớt, bệnh hoạn]. Nét nghĩa này rõ ràng là nét nghĩa
do con người cảm nhận mà có. Không có con người thì không thể có từ
“xanh xao”. Đó là nét nghĩa có tính dụng học.
1.2.2. Nghĩa gốc
Nghĩa gốc là nghĩa đầu tiên hoặc nghĩa có trước, trên cơ sở đó mà
người ta xây dựng nên nghĩa khác. [9, tr.173]
Ví dụ: Trắng
1. Có màu như màu của vôi, phấn, sữa, có màu sáng.
2. Được tòa xử vô tội: trắng án
Xanh:
1.Có màu như màu của lá cây
2.Chỉ sự khiếp sợ: xanh mắt, xanh mặt
3.Chỉ môi trường: vành đai xanh, cách mạng xanh
Đỏ:
1.Có màu như màu của máu
2.Chỉ sự nguy hiểm: báo động đỏ
3.Chỉ sự mong ngóng, chờ đợi: chờ đỏ con mắt
Vàng:
1.Có màu như màu của nghệ, hoa mướp
2.Chỉ một việc làm từ thiện: Quỹ tấm lòng vàng
Nghĩa 1 của từ trắng, xanh, đỏ, vàng ở đây là nghĩa gốc. Từ nghĩa 1
người ta xây dựng nên các nghĩa khác của từ này bằng những con đường,
cách thức khác nhau.
Nghĩa gốc thường là nghĩa không giải thích lý do và có thể nhận ra một
cách độc lập không cần thông qua nghĩa khác.
13
Suy bụng ta, ra bụng người; đi guốc trong bụng.
- Phần phình to ở giữa của một số vật: bụng lò.
Từ mũi là một từ chỉ bộ phận cơ thể, được chuyển sang phạm vi đồ vật,
vật thể địa lý chỉ bộ phận các đối tượng này. Ví dụ: mũi dao, mũi kéo, mũi
thuyền, mũi đất… Những từ khác cũng chỉ bộ phận cơ thể như cổ, chân, sườn,
mặt, lòng…đều có khả năng chuyển sang phạm vi đồ vật, vật thể địa lý… chỉ
bộ phận của chúng. Ví dụ: cổ áo, cổ chai, chân giường, chân núi, sườn núi,
sườn đồi, mặt bàn, mặt ghế, mặt đất, mặt biển, lòng sông… [4, tr.148]
* Các phương thức chuyển nghĩa của từ:
Có hai cách chuyển nghĩa thường gặp là chuyển nghĩa theo phương
thức ẩn dụ và chuyển nghĩa theo phương thức hoán dụ
1.2.4.1. Ẩn dụ
Ẩn dụ là một phương thức chuyển tên gọi dựa trên sự liên tưởng, so sánh
những mặt, những thuộc tính… giữa các đối tượng được gọi tên. [9, tr. 176]
Ví dụ: từ chân
+ Nghĩa gốc: chỉ bộ phận dưới cùng của cơ thể người hay động vật.
+ Chuyển nghĩa theo phương thức ẩn dụ: bộ phận dưới cùng để đỡ vật
(chân bàn, chân ghế); phần dưới cùng của một số vật, tiếp giáp và bám chặt
vào mặt nền (chân núi, chân tường).
Sự giống nhau làm cơ sở cho sự chuyển nghĩa có thể là giống nhau về
hình thức, về tính chất, chức năng…
Ví dụ:
- Trắng: màu trắng - Trắng tay, trắng trơn, trắng đen
- Đen: màu đen - Quỹ đen, chợ đen, số đen
15
- Xanh: màu xanh - Tuổi xanh, ngày xanh, đầu xanh
- Đỏ: màu đỏ - Vận đỏ, số đỏ
- Tím: màu tím - Giận tím người
- Vàng: màu vàng - Dây chuyền vàng
- Hồng: màu hồng - Hồng nhan
Từ “miệng” là tên gọi của bộ phận cơ thể động vật có chức năng ăn
uống hoặc nói năng. Trong câu “Nhà có bảy miệng ăn” thì từ “miệng” trong
câu này được chỉ người.
Người ta đã lấy tên gọi của bộ phận cơ thể để gọi tên toàn bộ cơ thể con
người. từ “miệng” đã được chuyển nghĩa theo phương thức hoán dụ.
Có bốn kiểu hoán dụ thường gặp:
- Lấy một bộ phận để gọi toàn thể. Ví dụ:
Nghĩa gốc: tay, miệng, mặt (chỉ bộ phận cơ thể).
Chuyển nghĩa theo phương thức hoán dụ: toàn cảnh con người (tay cờ
xuất sắc; nhà năm miệng ăn; đủ mặt anh tài).
- Lấy vật chứa đựng để gọi vật bị chứa đựng. Ví dụ:
Một nhà sum họp (mọi người trong nhà/ gia đình sum họp).
Cả sân vận động rêu hò (mọi người trong sân vận động reo hò).
- Lấy dấu hiệu của sự vật để gọi sự vật. Ví dụ:
Áo chàm (áo chàm đưa buổi phân li); áo vải (anh hùng áo vải).
- Lấy cái cụ thể để gọi cái trừu tượng. Ví dụ:
Trăm năm – Trăm năm trong cõi người ta (Nguyễn Du)
Ba thu – ba thu dọn lại một ngày dài ghê (Nguyễn Du)
17
Một số ví dụ khác về hiện tượng chuyển nghĩa theo phương thức
hoán dụ như:
Xám: màu xám chất xám
Đen: màu đen ý nghĩ đen tối, lòng dạ đen tối, dân xã hội đen…
Vàng:màu vàng Vàng anh
Trắng:màu trắng Phiếu trắng
Xanh:màu xanh Bật đèn xanh
Đỏ: màu đỏ Hội chữ thập đỏ
Tím: màu tím Giận tím gan
Nâu:màu nâu Nâu sồng
Hồng:màu hồng Hồng cầu
1.4. TIẾU KẾT
Qua chương này, luận văn đã trình bày được các vấn đề lý luận cơ bản
liên quan đến các khái niệm như: từ, ngữ, từ ngữ chỉ màu sắc, nghĩa của từ,
sự chuyển nghĩa theo phương thức ẩn dụ và hoán dụ. Đồng thời, việc xác
định đặc điểm ngữ nghĩa của một từ là vấn đề trọng tâm, vô cùng quan trọng.
Trong việc phân tích từng nét nghĩa của từ chúng ta cần phải tìm hiểu nghĩa
gốc của từ đó là gì, nét nghĩa khái quát, nghĩa biểu vật, nghĩa biểu niệm, nghĩa
biểu thái và đặc biệt là hiện tượng chuyển nghĩa của từ. Hiện tượng chuyển
nghĩa đã tạo ra nhiều từ đa nghĩa, tạo ra một từ có nghĩa hoàn toàn khác so
19