VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LÊ PHƯƠNG THẢO
ĐỐI CHIẾU CÁC TỪ NGỮ CHỈ MÀU SẮC TRONG
TIẾNG ANH VÀ TIẾNG VIỆT
Chuyên ngành: Ngôn ngữ học so sánh đối chiếu
Mã số: 9222024
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
1. PGS.TS. Hà Quang Năng
2. PGS.TS. Hoàng Tuyết Minh
HÀ NỘI - 2018
Công trình được hoàn thành tại:
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Người hướng dẫn khoa học: 1. PGS.TS. Hà Quang Năng
2. PGS.TS. Hoàng Tuyết Minh
Phản biện 1: GS. TS. Lê Quang Thiêm
Phản biện 2: PGS.TS. Hồ Ngọc Trung
được thể hiện trong nhiều phong cách văn bản, đặc biệt là trong phong
cách ngôn ngữ văn chương. Vì thế, lớp từ chỉ màu sắc trở thành đối
tượng được ngôn ngữ học quan tâm nghiên cứu từ nhiều góc độ, trên
nhiều bình diện, nhất là về đặc điểm ngữ nghĩa, tính biểu trưng hay về
đặc điểm tri nhận.
Một số công trình đã đề cập đến vấn đề này. Tuy nhiên, chưa có
công trình nào đi sâu đối chiếu từ ngữ chỉ màu sắc trong hai ngôn ngữ
Anh và ngôn ngữ Việt, tìm ra các nét tương đồng và dị biệt về nhóm từ
này trong quá trình nhận thức và biểu đạt các màu trong hai ngôn ngữ.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
2.1. Mục đích nghiên cứu
- Tìm ra những điểm giống nhau và khác nhau về khả năng tạo từ và ngữ
nghĩa của các tính từ chỉ màu sắc cơ bản trong tiếng Anh và tiếng Việt;
- Làm sáng tỏ một số đặc trưng văn hóa thông qua cách sử dụng từ chỉ
màu sắc cơ bản trong thành ngữ tiếng Anh và tiếng Việt;
- Góp phần vào công tác giảng dạy, nghiên cứu của giảng viên và học
viên; giúp cho công tác biên soạn từ điển màu sắc tiếng Việt của các nhà
khoa học.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tổng quan tình hình nghiên cứu và xác định cơ sở lí luận cho luận án;
- Thống kê số lượng từ chỉ màu sắc cơ bản trong một số tác phẩm văn học
Anh, văn học Việt Nam và từ điển thành ngữ tiếng Anh và tiếng Việt để
tìm ra tần số sử dụng của từng màu sắc cơ bản trong hai ngôn ngữ;
1
- Miêu tả và phân tích khả năng tạo từ và đặc điểm ngữ nghĩa của từ,
ngữ chỉ màu sắc cơ bản trong tiếng Anh và tiếng Việt để tìm ra những
điểm giống nhau và khác nhau về mặt cấu trúc, ngữ nghĩa trong việc liên
hệ với văn hóa hai dân tộc;
sử dụng để tìm ra những tương đồng và dị biệt trong ngôn ngữ và văn
hóa, tư duy của người Anh và người Việt thông qua các từ chỉ màu
sắc cơ bản trong tiếng Anh và tiếng Việt.
- Thủ pháp thống kê, phân loại: Mục đích của phương pháp này
nhằm thống kê và phân loại các từ chỉ màu sắc cơ bản trong từ điển tiếng
Anh và tiếng Việt để làm tư liệu cho việc nghiên cứu.
2
5. Đóng góp mới về khoa học của luận án
Luận án là công trình nghiên cứu có hệ thống và chuyên sâu về từ
ngữ chỉ màu sắc trong tiếng Anh và tiếng Việt dưới góc nhìn của ngữ
nghĩa học.
6. Ý nghĩa lí luận và thực tiễn của luận án
6.1. Ý nghĩa lí luận
Luận án đóng góp những cơ sở lí luận về việc nghiên cứu từ ngữ
chỉ màu sắc trong tiếng Anh và tiếng Việt, chỉ ra những nét tương đồng
và khác biệt về khả năng tạo từ và ngữ nghĩa của 11 từ chỉ màu sắc cơ
bản trong tiếng Anh và 9 từ chỉ màu sắc cơ bản trong tiếng Việt, đồng
thời rút ra một số đặc trưng văn hóa dân tộc được thể hiện qua khả năng
tao từ và ngữ nghĩa của các từ ngữ chỉ màu sắc trong tiếng Anh và tiếng
Việt dưới góc nhìn của ngữ nghĩa học.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của luận án đóng góp cho công tác nghiên cứu
ngôn ngữ, công tác giảng dạy, học tập và nghiên cứu của giáo viên và
học viên, đồng thời phục vụ cho công tác dịch thuật của các nhà biên,
phiên dịch cũng như công tác biên soạn từ điển Anh- Việt, Việt- Anh.
7. Cấu trúc của luận án
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, luận án
được triển khai trong 3 chương:
quan trọng vẫn tồn tại liên quan đến các thuộc tính chung của con người
về nhận thức màu sắc và sự phát triển và cấu trúc của các loại màu cơ
bản đa văn hóa.
Nghiên cứu về màu sắc trên phương diện Vật lý học: Trong bài
viết Colour categories are not universal: Replications and new evidence
from a stone-age culture, các tác giả Roberson, Davies, and Davidoff
(2000) đã tìm cách tái tạo và mở rộng công trình của Heider (1972) với
việc so sánh người Papua, New Guinea, những người nói tiếng Berinmo
mà ngôn ngữ của họ chỉ có 5 thuật ngữ cơ bản chỉ màu. Việc xác định
tên và bộ nhớ cho các kích thích vật lí và phi vật lí với độ bão hòa thấp
đã được khảo sát. Họ đã tìm ra việc các màu đã bão hòa bị ảnh hưởng
bởi nhóm từ vựng màu. Các hiệu ứng nhận thức phân loại đối với cả
tiếng Anh và Berinmo đã được tìm thấy, nhưng chỉ ở ranh giới của các
thể loại ngôn ngữ hiện có.
Nghiên cứu về màu sắc dưới góc độ Văn hóa học: Trong công
trình đồ sộ Dictionnaire des symboles: mythes, rêves, coutumes, gestes,
formes, figures, couleurs, nombres (Từ điển biểu tượng văn hóa thế
giới), với phụ đề “Các huyền thoại, chiêm mộng, phong tục, cử chỉ, dạng
thể, các hình, màu sắc, con số” Chevalier và Gheerbrant (1997) đã trình
bày khá chi tiết về biểu tượng màu sắc của các nước trên thế giới. Các từ
chỉ màu sắc trong cuốn từ điển này đã được các tác giả miêu tả bao quát
được nhiều khu vực văn hóa trên thế giới liên quan đến các phương tiện
Dân tộc học, Xã hội học, Tâm lí học, Thần thoại học, Tôn giáo học.
Nghiên cứu về màu sắc dưới góc độ Ngôn ngữ học: từ năm
1969, hai nhà nghiên cứu Berlin & Kay của Trường đại học California ở
Berkerly đã tiến hành nghiên cứu tổng kết toàn bộ tư liệu, kinh nghiệm
về từ ngữ chỉ màu sắc của các dân tộc khác nhau trên thế giới. Berlin &
Kay đã xác lập “phương pháp giai đoạn tiến hóa đối với sự xuất hiện
những từ ngữ chỉ màu sắc”. Công trình của Lakoff (1987) cũng ủng hộ
quan điểm của Berlin & Kay với tiêu đề “Women, fire and dangerous
luận án của Chu Bích Thu (1996); Nguyễn Khánh Hà (1995); Trịnh Thị
Minh Hương (1999).
Các nghiên cứu về từ chỉ màu sắc theo hướng tiếp cận so sánh, đối
chiếu giữa hai ngôn ngữ, có thể kể đến một số công trình của các tác giả
như: Hoàng Văn Hành (1982); Trần Thị Thu Huyền (2001); Bùi Thị
Thùy Phương (2004).
1.2. Cơ sở lí luận
1.2.1. Khái niệm về từ
1.2.1.1. Định nghĩa về từ
Các nhà ngôn ngữ học người Anh và người Việt có các quan điểm
khác nhau về định nghĩa của từ. Tuy nhiên, trong tiếng Anh, chúng tôi
sử dụng quan điểm của A. S. Hornby làm cơ sở cho luận án. “Từ là một
đơn vị của ngôn ngữ có nghĩa và có thể được sử dụng để nói hoặc viết”.
(Hornby A. S., 2005, tr.1695). Trong tiếng Việt, chúng tôi sử dụng quan
điểm của Đỗ Hữu Châu. Theo ông, “Từ của tiếng Việt là một hoặc một
5
số âm tiết cố định, bất biến, mang những đặc điểm ngữ pháp nhất định,
nằm trong những kiểu cấu tạo nhất định, tất cả ứng với một kiểu ý nghĩa
nhất định, lớn nhất trong tiếng Việt.” (Đỗ Hữu Châu, 2005, tr.471).
1.2.1.2. Phương thức cấu tạo từ
Khi nghiên cứu đặc điểm cấu tạo tiếng Anh và tiếng Việt, một
điểm đáng chú ý đó là tiếng Anh là một ngôn ngữ phi đơn lập còn tiếng
Việt là ngôn ngữ đơn lập. Sự khác biệt này đã khiến cho tiếng Anh và
tiếng Việt có những cách cấu tạo từ không giống nhau. Nói cách khác
tiếng Anh có phương thức tạo từ mà tiếng Việt, một ngôn ngữ đơn lập,
không có, ngược lại tiếng Việt có một số cách cấu tạo từ mà tiếng Anh
không thể nào có được.
1.2.2. Nghĩa của từ
Ngữ nghĩa học hiện đại coi ý nghĩa của từ lập thành một cấu trúc,
bao gồm một số nét nghĩa (nghĩa vị) được kết hợp với nhau theo quy tắc
nhất định, chi phối và quyết định lẫn nhau.
1.2.2.4. Hiện tượng chuyển nghĩa của từ
Nguyễn Thiện Giáp cho rằng: Để có thể phản ánh được cái vô hạn
và không ngừng phát triển của các sự vật trong đời sống cũng như sự
phát triển của nhận thức con người, ngoài việc xuất hiện các từ mới với
nội dung và hình thức hoàn toàn mới, sự xuất hiện các nghĩa chuyển là
cách tiết kiệm nhất của ngôn ngữ để phản ánh sự phát triển không ngừng
của thế giới khách quan, đời sống và nhận thức của con người. Theo
nghĩa hẹp, chuyển nghĩa là kết quả của hiện tượng sử dụng từ theo ẩn dụ
và hoán dụ (Nguyễn Thiện Giáp, 2010, tr.139).
1.2.3. Từ chỉ màu sắc trong tiếng Anh và tiếng Việt
1.2.3.1. Khái niệm về từ chỉ màu sắc
Từ điển Bách khoa toàn thư Oxford Learner’s Advanced
Encyclopedic định nghĩa: Màu sắc là đặc tính có thể nhìn thấy của các
sự vật được tạo ra bởi các tia sáng hoặc các bước sóng khác nhau bị
phản xạ lại. Đào Thản coi “Màu sắc là một thuộc tính của vật thể, tồn tại
một cách khách quan trong thế giới vật chất, mà thị giác con người có
thể nhận biết được” (Đào Thản, 1993, tr.11-15).
1.2.3.2. Phân loại từ chỉ màu sắc
Từ chỉ màu sắc được chia thành 3 nhóm: Nhóm từ chỉ màu cơ
bản, nhóm từ chỉ màu phái sinh và nhóm từ chỉ màu cụ thể.
1.2.4. Văn hóa và mối quan hệ giữa văn hóa, ngôn ngữ và tư duy
1.2.4.1. Khái niệm về văn hóa
Trần Ngọc Thêm cho rằng văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá
trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình
hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự
nhiên và xã hội của mình (Trần Ngọc Thêm, 2000, tr.25).
Còn đối chiếu bộ phận là đối chiếu các đơn vị, phạm trù, hiện tượng cụ
thể của hai ngôn ngữ.
Chương 2
ĐỐI CHIẾU KHẢ NĂNG TẠO TỪ VÀ NGỮ NGHĨA CỦA TỪ
CHỈ MÀU SẮC CƠ BẢN TRONG TIẾNG ANH VÀ TIẾNG VIỆT
2.1. Khảo sát tần số xuất hiện của các từ chỉ màu sắc tiếng Anh và
tiếng Việt trong tác phẩm văn học Anh và văn học Việt Nam
Luận án sử dụng 8 tác phẩm văn học Anh và 11 tác phẩm văn học
Việt Nam qua các thời kì và thống kê được 950 đơn vị có chứa 1065
lượt từ chỉ màu sắc cơ bản trong tiếng Anh và 925 đơn vị có chứa 1189
lượt từ chỉ màu sắc cơ bản trong tiếng Việt. Sau khi thống kê, chúng tôi
có các bảng số liệu và tần số xuất hiện của các từ theo tỉ lệ phần trăm
được thể hiện ở bảng 2.1 dưới đây (tỷ lệ đã được làm tròn, đến hàng đơn
vị).
Bảng 2.1. Tần số xuất hiện của các từ chỉ màu sắc cơ bản trong các
tác phẩm văn học Anh
Stt
Từ chỉ màu
Số lượng
Tỉ lệ
1
White (trắng)
241/1065
23%
2
Black (đen)
222/1065
21%
3
Red (đỏ)
58/1065
5%
Orange (cam)
18/1065
2%
Grey/gray (xám)
39/1065
4%
Bảng 2.1. cho thấy trong tiếng Anh, trong tổng số 11 màu cơ bản,
màu trắng là màu được sử dụng nhiều nhất, chiếm tới 23%, đứng thứ hai
là màu đen 21% và sau đó là màu đỏ 13%, ba màu này có tần số sử dụng
nhiều nhất chiếm tới 57%. Trong khi đó cả 3 màu tím, cam và xám mới
đạt được 8% tần số sử dụng.
Bảng 2.2. Tần số xuất hiện của các từ chỉ màu sắc cơ bản trong các
tác phẩm văn học Việt Nam
Stt
Từ chỉ màu
Số lượng
Tỉ lệ
1
Trắng
189/1189
16%
2
Đen
215/1189
18%
3
Đỏ
223/1189
Trong luận án, chúng tôi không tính đến các từ Hán-Việt đồng nghĩa
với các từ chỉ màu sắc cơ bản trong tiếng Việt như “bạch”, “hắc”,
“thanh”, “hoàng”…
Qua thống kê 1.065 lượt từ chỉ màu sắc cơ bản trong tiếng Anh và
1.189 lượt từ trong tiếng Việt xuất hiện trong các tác phẩm văn học, có
thể nhận thấy rằng: màu trắng, đen, đỏ là các màu xuất hiện nhiều nhất,
các màu nâu, tím, hồng, xám là các màu được sử dụng ít nhất trong cả
hai ngôn ngữ.
2.2. Khả năng tạo từ của từ chỉ màu sắc trong tiếng Anh và tiếng
Việt
2.2.1. Khả năng tạo từ của từ chỉ màu sắc trong tiếng Anh
Tiếng Anh mang những đặc điểm của một ngôn ngữ biến hình và
có các phương thức tạo từ như phương thức thêm phụ tố (affixation), ví
dụ: white → whitish; phương thức chuyển loại (conversion), ví dụ: to
drink → a drink, phương thức ghép (compounding), ví dụ: schoolgirl và
một số phương thức khác như phương thức viết tắt (shortening), phương
9
thức rút ngắn (clipping), phương thức viết tắt (acronym)... Tiếng Anh
cũng sử dụng phương thức láy âm (alliteration) như ping pong (bóng
bàn) và láy vần (rhyme) như drain brain (chảy máu chất xám), hurryscurry (hối hả, bận rộn)… nhưng để tạo nên các từ chỉ màu sắc, theo
nghiên cứu của chúng tôi, tiếng Anh sử dụng các 2 phương thức: phương
thức phụ tố (tiền tố) và phương thức ghép nên luận án chỉ miêu tả và
phân tích các phương thức này làm cơ sở lí luận cho luận án.
2.2.2. Khả năng tạo từ của từ chỉ màu sắc trong tiếng Việt
Hai phương thức cấu tạo từ trong tiếng Việt là phương thức láy và
phương thức ghép. Luận án đã miêu tả phân tích khả năng tạo từ của
từng màu sắc cơ bản trong tiếng Việt.
2.2.3. Đối chiếu khả năng tạo từ của từ chỉ màu sắc cơ bản trong
Reddish (hơi đỏ, đo
đỏ), redden (làm cho
đỏ), redness (sắc đỏ,
màu đỏ)
Green/xanh Greenish, greeny (hơi
xanh), greenness (màu
xanh, màu lục)
Yellow/vàng Yellowish, yellowy
(hơi vàng), yellowness
(màu vàng)
Brown/nâu Brownish, browny (hơi
nâu), browness (màu
10
Láy toàn bộ
và biến
đổi/giữ
nguyên
thanh điệu
Trăng trắng
Láy âm
hoặc láy
vần
Trắng
trẻo
Đen đen
Đen đúa,
9
Pink/hồng Pinkish (hơi hồng,
Hồng hồng
Hồng
hồng hồng), pinkness
hào
(sắc hồng, màu hồng)
10
Cam
11 Grey/xám Greyish (hơi xám, xam Xam xám
Xám xịt
xám), greyness (màu
xám)
Bảng 2.4. Các nhóm từ ngữ chỉ màu sắc được tạo ra theo phương thức
ghép trong tiếng Anh và tiếng Việt
Stt
Tiếng Anh
Tiếng Việt
từ chỉ màu cơ bản + từ chỉ từ chỉ màu cơ bản + từ chỉ màu cơ
màu cơ bản, ví dụ: green bản, ví dụ: xanh đen, tím đỏ…
1 blue (màu xanh lục đậm),
green yellow (màu vàng
lục)…
từ chỉ màu cơ bản + hậu tố y
hoặc ish + từ chỉ màu cơ bản,
2
ví dụ: yellowy red (đỏ hơi
vàng)…
từ chỉ sắc độ + từ chỉ màu cơ
bản, ví dụ: ví dụ: light blue từ chỉ màu cơ bản + từ chỉ sắc độ,
8
từ chỉ sắc độ + từ chỉ vật đại
diện, ví dụ: dark coral (san
hô đậm), light salmon (cá hồi
nhạt)
cháy…
2.2.3.1. Các điểm tương đồng
- Cả tiếng Anh và tiếng Việt đều có các từ chỉ màu sắc cơ bản, song
trong tiếng Anh, số lượng chỉ màu cơ bản nhiều hơn trong tiếng Việt 02
màu;
- Các từ chỉ màu sắc cơ bản trong tiếng Anh và tiếng Việt đều là từ đơn,
có hình thức cấu tạo giống nhau, cách gọi tên màu sắc đều không gắn
với một sự vật, hiện tượng đơn lẻ;
- Cả hai ngôn ngữ Anh Việt đều có các từ chỉ màu phái sinh (được tạo ra
từ các màu sắc cơ bản) và từ chỉ màu cụ thể;
- Nhóm từ ghép biểu đạt màu sắc có một số hình thức cấu tạo tương
đương nhau.
2.2.3.2. Các điểm dị biệt
- Số lượng từ chỉ màu sắc cơ bản trong hai ngôn ngữ là không bằng
nhau. Tiếng Anh có 11 từ chỉ màu sắc cơ bản (trắng, đen, đỏ, xanh lá
cây, vàng, xanh nước biển, nâu, tím, hồng, da cam, xám) trong khi đó
tiếng Việt chỉ có 9 từ màu sắc cơ bản (trắng, đen, đỏ, xanh, vàng, nâu,
tím, hồng, xám). Tiếng Anh có hai màu xanh (green và blue), tiếng Việt
chỉ dùng từ một từ xanh để biểu thị hai khái niệm màu này. Trong tiếng
Anh màu da cam được cho là màu cơ bản còn tiếng Việt không cho màu
này là màu cơ bản.
*Sự tương đồng
Hornby A.S. (2005) và Hoàng Phê (2010) đã đưa ra hai khuôn mẫu
định nghĩa về các màu cơ bản trong từ điển là gần tương đồng. Sự vật
trong thế giới tự nhiên được lựa chọn làm vật đại diện cho khuôn định
nghĩa về màu sắc đều gắn liền với điều kiện sinh sống tự nhiên, hoặc gần
gũi, thân thuộc, gắn liền với đời sống, sinh hoạt cộng đồng của người
bản ngữ.
Tuy nhiên, các từ chỉ màu cơ bản trong tiếng Anh và tiếng Việt
đều có xu hướng chuyển nghĩa theo hướng các nghĩa phái sinh xa dần
nghĩa gốc ban đầu. Số lượng nghĩa chuyển của mỗi từ chỉ màu sắc cơ
bản phụ thuộc vào mức độ sử dụng và nội hàm ý nghĩa của chúng, về cơ
bản, mỗi từ chỉ màu đều có khả năng chuyển nghĩa rất cao, gắn với ngữ
cảnh cụ thể và sự quy ước của cộng đồng.
Cả hai ngôn ngữ Anh và Việt, từ đen là có số lượng nghĩa nhiều
nhất và có xu hướng chuyển nghĩa, vận động nghĩa mạnh nhất. Các
hướng nghĩa chuyển của từ đen rất phong phú, từ mô tả màu sắc đến mô
tả một trạng thái, một cảm xúc tiêu cực, hay đại diện cho cái che dấu, phi
pháp, cái ác và vô đạo. Trong cả hai ngôn ngữ, màu nâu là màu hạn chế
nhất về số lượng nghĩa và khả năng tạo nghĩa phái sinh, khả năng
chuyển nghĩa.
*Sự khác biệt
Sự khác biệt dễ nhận thấy nhất trong ngữ nghĩa của các từ chỉ màu
sắc cơ bản trong hai ngôn ngữ là số lượng các nét nghĩa trong mỗi từ chỉ
màu sắc cơ bản là không tương đồng. Nguyên do của sự khác biệt này là
sự chuyển nghĩa của từ chỉ màu và hướng chuyển nghĩa của các từ chỉ
13
màu cơ bản này là không như nhau ở hai cộng đồng ngôn ngữ. Cụ thể:
Từ trắng trong tiếng Anh có 4 nghĩa, tiếng Việt có 5; đen trong tiếng
Văn hóa người Anh với nền văn minh công nghiệp, lối sống cởi mở và
hiện đại, tự do ngôn luận và tự do đánh giá, một đất nước đa đảng nên đề
cao tự do chính trị, đề cao cảm xúc cá nhân và cởi mở về vấn đề giới
tính và tình dục…Vì vậy, các hướng nghĩa chuyển của từ chỉ màu cơ bản
trong tiếng Anh đã có xu hướng vận động đa dạng về nghĩa và phạm vi
biểu hiện, đặc biệt, có chuyển nghĩa sang cả những lĩnh vực không liên
quan gì đến nghĩa gốc như quan điểm chính trị, cảm xúc cá nhân, giới
tính và tình dục. Còn người Việt, với nền văn minh nông nghiệp, khoa
học kĩ thuật chưa phát triển, việc chậm hội nhập khu vực và thế giới kéo
14
theo lối sống kín đáo, ít bộc lộ ; người Việt với nền văn hóa cộng đồng
thấm sâu vào nếp nghĩ nên luôn đề cao tập thể thay vì chủ nghĩa cá
nhân ; chính trị ổn định, không đa nguyên đa đảng nên các vấn đề liên
quan đến tư tưởng cấp tiến hay quan điểm chính trị không được đề cao
và cổ vũ ; vì văn hóa truyền thống của người Việt chịu ảnh hưởng nhiều
của Nho giáo nên vốn dĩ rất tế nhị, kín đáo khi công khai các vấn đề liên
quan đến giới tính thứ ba hay tình dục… Vì vậy, tất cả những hướng vận
động nghĩa của từ chỉ màu sắc cơ bản trong từ điển tiếng Anh (như đã
nêu trên) đều không xuất hiện trong các nghĩa phái sinh của từ chỉ màu
sắc cơ bản trong từ điển tiếng Việt.
Chương 3
ĐỐI CHIẾU THÀNH NGỮ CÓ TỪ CHỈ MÀU SẮC CƠ BẢN
TRONG TIẾNG ANH VÀ TIẾNG VIỆT
3.1. Khái niệm về thành ngữ
3.1.1. Quan niệm về thành ngữ trong tiếng Anh
Quan điểm định nghĩa về thành ngữ trong tiếng Anh được nhiều
học giả Anh chấp nhận và chúng tôi cũng chọn làm tiêu chí định nghĩa
tác nghiệp đó là: (i) thành ngữ thường mang nghĩa bóng hoặc bán nghĩa
Anh Việt
1. Sự tươi sáng, sự tốt lành
x
x
2. Sự trong sáng, tinh khiết
x
x
1 White/trắng
3. Sự trong trắng, cao quý
x
x
4. Sự rõ ràng, minh bạch
x
x
5. Cái thiện, điều thiện
x
6. Cảm xúc tiêu cực (sợ hãi, giận dữ…)
x
7. Tính cách âm tính (nhút nhát, hèn
x
nhát…)
8. Sự che dấu (khiếm khuyết, khuyết
x
điểm)
9. Sự đầu hàng, thua cuộc
x
10. Thói đạo đức giả
x
11. Thứ vô dụng
x
(xấu xa, đê tiện, bạo lực, đố kị, ganh
ghét, đơm đặt, độc ác, tráo trở, lật
lọng…)
7. Thói hư tật xấu của con người
8. Cảm xúc tiêu cực của con người
9. Sự nguy hiểm
10. Chỉ chủng tộc, phân tầng xã hội
11. Phe phái đối lập trong chính trị
16
x
x
x
x
x
x
x
x
x
x
x
x
x
x
x
12. Sự trang trọng, tôn kính
13. Giai cấp
14. Thói xấu của con người (gièm pha,
đố kị, tinh quái, nanh nọc, khoe mẽ…)
15. Tình trạng sức khỏe tốt
16. Vận may, sự may mắn, hanh thông
17. Sự bàng quan
18. Sự yếu đuối, hèn nhát
19. Thứ quý giá, có giá trị
20. Hoàn cảnh, điều kiện sống khắc
nghiệt
1. Sức trẻ, tuổi trẻ
x
-
x
x
x
x
x
x
x
x
x
2. Sự vui vẻ, an hưởng
3. Sự trường tồn
4. Môi trường sinh thái
5. Sự non nớt, thiếu kinh nghiệm
6. Tín hiệu đồng ý cho phép thực hiện,
thông qua
7. Tính cách âm tính của con người
(ghen ghét, đố kị, ghen ăn tức ở, giả dối,
cơ hội, tráo trở…)
8. Sự vinh hiển, quyền quý
x
x
x
x
x
x
x
x
-
x
17
10. Sự thủy chung, tình nghĩa
11. Chí hướng, sự kiên định, gan dạ
12. Chuẩn mực, thước đo chân giá trị
13. Sự phù phiếm, phù vân
14. Thứ có giá trị, có khả năng cám dỗ,
tha hóa con người
1. Một tầng lớp, một giai cấp trong xã
hội
2. Một ngành nghề trong xã hội
3. Cảm xúc âm tính của con người (sợ
hãi, đau đớn, buồn chán, thất vọng…)
4. Sự tục tĩu, khiêu dâm, xấu xa
5. Tình trạng tồi tệ
6. Sự liên tục, kéo dài
7. Sự trung thành
8. Tình thế xảy ra đột ngột, ngoài sức
suy đoán
9. Điều hiếm xảy ra
10. Những gì không thể với tới, đạt tới
11. Một trường phái (màu sắc chính trị)
12. Sự đáng yêu
1. Cảm xúc âm tính của con người (suy
tư, buồn tẻ, chán nản…)
2. Sự lừa bịp, đánh lừa
18
-
x
x
0
x
x
0
0
x
x
x
x
x
0
0
0
0
0
x
x
x
x
x
0
0
0
2. Sự hài lòng, sự hoàn hảo
3. Sự lãng mạn
4. Giới tính
5. Trạng thái say
6. Nhan sắc người phụ nữ
7. Số phận truân chuyên, ngang trái của
người phụ nữ có nhan sắc
8. Duyên số tiền định, việc se duyên, kết
duyên
9. Nơi quyền quý, đài các, giàu sang
10. Khát vọng vẫy vùng, tự do
x
-
x
x
x
x
x
x
-
x
x
-
x
người sử dụng giữa hai ngôn ngữ. Qua khảo sát, chúng tôi nhận thấy có
một số điểm tương đồng về ngữ nghĩa của các thành ngữ Anh và Việt
như sau:
Xét về mặt số lượng, các thành ngữ có từ chỉ màu cơ bản trắng,
đen, đỏ ở cả hai ngôn ngữ Anh và Việt đều có số lượng cao nhất, các
thành ngữ có từ chỉ màu cơ bản nâu, tím, xám ở cả hai ngôn ngữ đều có
số lượng thấp nhất. Điều đó chứng tỏ việc tri nhận các màu sắc cơ bản ở
hai cộng đồng ngôn ngữ cũng có nhiều nét tương đồng. Cả hai cộng
đồng ngôn ngữ đều chú trọng và tập trung vào một số màu cơ bản khi
đưa vào các ngữ cảnh ngôn ngữ và văn hóa nhất định.
19
Xét về mặt ngữ nghĩa, nhóm thành ngữ có từ chỉ màu cơ bản trắng,
đen, đỏ ở cả hai ngôn ngữ Anh và Việt đều có số lượng nghĩa biểu trưng
cao nhất so với các thành ngữ có các màu cơ bản khác. Bản thân các tính
từ này có sự chuyển nghĩa, vận động nghĩa mạnh nhất và mang nhiều
hướng nghĩa biểu trưng phong phú (màu trắng trong tiếng Anh mang 10
nghĩa biểu trưng, trong tiếng Việt là 8; đen trong tiếng Anh mang 15
nghĩa biểu trưng, trong tiếng Việt là 6; đỏ trong tiếng Anh mang 15
nghĩa biểu trưng, trong tiếng Việt là 12). Các thành ngữ có từ chỉ màu
nâu, tím, xám ở cả hai ngôn ngữ đều có số lượng nghĩa biểu trưng thấp
nhất (màu nâu trong tiếng Anh có 3 hướng nghĩa biểu trưng, tiếng Việt
là không có nghĩa có nghĩa biểu trưng; tím trong tiếng Anh có 02 nghĩa
biểu trưng, trong tiếng Việt là 01; xám trong tiếng Anh có 5 nghĩa biểu
trưng, trong tiếng Việt là 01). Về cơ bản, có thể nhận thấy, thành ngữ có
từ chỉ màu cơ bản trong tiếng Anh vận động nghĩa mạnh hơn và mang
nghĩa biểu trưng phong phú hơn trong tiếng Việt, điều này được thể hiện
ở tất cả các màu cơ bản.
Về những nghĩa biểu trưng tương đồng, trong tất cả các thành ngữ
thành ngữ chứa từ chỉ màu giữa hai ngôn ngữ. Qua bảng 3.2 ta thấy, các
nghĩa biểu trưng của thành ngữ có từ chỉ màu cơ bản trong tiếng Anh
luôn nhiều hơn số nghĩa biểu trưng của thành ngữ chứa từ chỉ màu cơ
bản trong tiếng Việt, mặc dù tổng số lượng các thành ngữ có từ chỉ màu
cơ bản trong tiếng Việt nhiều hơn trong tiếng Anh (tiếng Việt: 339, tiếng
Anh: 295). Điều này được thể hiện ở tất cả các màu cơ bản, trừ màu
vàng, số lượng nghĩa biểu trưng có từ chỉ màu vàng trong thành ngữ
tiếng Việt cao hơn trong tiếng Anh.
Các nghĩa biểu trưng của thành ngữ có từ chỉ màu cơ bản trong hai
ngôn ngữ Anh – Việt ngoài một số nghĩa biểu trưng tương đồng như đã
chỉ ra thì còn chứa nhiều điểm dị biệt. Các nghĩa biểu trưng khác nhau
này có số lượng nhiều hơn các nghĩa tương đồng.
Với màu đen, thành ngữ tiếng Anh có từ chỉ màu đen mang những
hướng nghĩa biểu trưng khác biệt hoàn toàn với thành ngữ tiếng Việt. Với
màu đỏ, trừ 2 nghĩa biểu trưng tương đồng trong thành ngữ Anh – Việt đã
chỉ ra, có 11 hướng nghĩa biểu trưng trong thành ngữ có từ chỉ màu đỏ chỉ
xuất hiện trong tiếng Anh mà không xuất hiện trong tiếng Việt.
Với màu xanh (tiếng Việt) và green (tiếng Anh), thành ngữ có từ
chỉ màu xanh (green) trong tiếng Anh mang một số hướng nghĩa biểu
trưng khác biệt hoàn toàn với thành ngữ tiếng Việt.
Với màu vàng, đây là màu đặc biệt, xuất hiện với số lượng lớn trong
thành ngữ tiếng Việt (99 thành ngữ có từ chỉ màu vàng), và mang nhiều
nghĩa biểu trưng vô cùng phong phú, chủ yếu là tích cực, trong khi đó, ở
thành ngữ tiếng Anh, thành ngữ có từ chỉ màu vàng chỉ xuất hiện ở 10
thành ngữ và chủ yếu mang những hướng nghĩa biểu trưng tiêu cực.
Màu nâu, tím, hồng trong thành ngữ Anh – Việt chỉ xuất hiện nghĩa
biểu trưng dị biệt chứ không có nghĩa tương đồng.
Thành ngữ tiếng Anh chứa từ chỉ màu xám có các nghĩa biểu trưng
không xuất hiện trong thành ngữ tiếng Việt.
Có thể nhận thấy rằng, trong mối quan hệ giữa ngôn ngữ và thực
Bắc châu Âu, người Scotland với tổ tiên là người Pict từng sống ở Bắc
nước Anh, người Welsh sống ở Tây Nam nước Anh, người Irish ở bắc
Ireland và người Anh, tộc người đại diện cho nền văn hóa Anh. Xu hướng
tôn trọng tự do cá nhân, tự do chính trị và ngôn luận, tôn trọng quyền con
người đã ảnh hưởng đến đặc trưng tư duy ngôn ngữ của người Anh.
KẾT LUẬN
Qua nghiên cứu, đối chiếu các từ chỉ màu sắc trong tiếng Anh và
tiếng Việt, luận án rút ra một số kết luận như sau:
1. Về khả năng tạo từ của từ chỉ màu sắc cơ bản: Do những ảnh
hưởng và tác động của xã hội, lớp từ vựng trong mỗi ngôn ngữ luôn vận
động, sản sinh và tự làm giàu vốn từ vựng của ngôn ngữ mình để phục
vụ những nhu cầu về mặt diễn đạt mới, những nhu cầu giao tiếp mà xã
hội đặt ra. Xét về mặt loại hình, tiếng Anh thuộc ngôn ngữ biến hình còn
tiếng Việt thuộc loại hình ngôn ngữ đơn lập. Sự khác biệt này đã khiến
cho tiếng Anh và tiếng Việt có những phương thức tạo từ không giống
nhau. Để tạo nên các từ chỉ màu với các sắc thái khác nhau, tiếng Anh
ngoài phương thức ghép giống như tiếng Việt còn sử dụng phương thức
biến hình (thêm hậu tố), còn tiếng Việt sử dụng phương thức láy, tạo nên
những từ chỉ màu phái sinh với mức độ khu biệt về sắc và phạm vi biểu
vật riêng biệt.
22
2. Về mặt ngữ nghĩa: Dựa trên cơ sở phân tích các nét nghĩa, luận
án nghiên cứu từ nghĩa gốc đến nghĩa chuyển của các từ ngữ chỉ màu sắc
cơ bản trong tiếng Anh và tiếng Việt. Từ đó, đối chiếu những điểm
tương đồng và khác biệt của nhóm từ này, thể hiện trên các phương diện
số lượng nét nghĩa và xu hướng chuyển nghĩa. Trong 11 từ chỉ màu sắc
cơ bản trong từ điển tiếng Anh, từ chỉ màu đen mang nhiều nghĩa nhất (9
nghĩa), kế đến là từ chỉ màu xám (7 nghĩa), màu xanh lá cây (6 nghĩa),
liệu cho giáo viên khi khai thác và tìm hiểu những nội dung ngữ nghĩa
phong phú và đa dạng của nhóm từ chỉ màu sắc cơ bản trong tiếng Anh và
tiếng Viêt để truyền đạt cho người học. Trong một chừng mực nhất định,
nhờ chỗ người dạy đã nắm vững được tri thức toàn diện, đa chiều về từ
23