Đối chiếu các từ ngữ chỉ màu sắc trong tiếng anh và tiếng việt - Pdf 52

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

LÊ PHƯƠNG THẢO

ĐỐI CHIẾU CÁC TỪ NGỮ CHỈ MÀU SẮC
TRONG TIẾNG ANH VÀ TIẾNG VIỆT
Ngành: Ngôn ngữ học so sánh đối chiếu
Mã số: 9222024

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
1. PGS.TS. HÀ QUANG NĂNG
2. PGS.TS. HOÀNG TUYẾT MINH

HÀ NỘI - 2018


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, không sao chép
của ai. Các kết quả khảo sát và miêu tả nêu trong luận án là trung thực và chưa từng
được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
TÁC GIẢ LUẬN ÁN

Lê Phương Thảo


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ....................................................................................................................1

văn học Việt Nam......................................................................................................47
Bảng 2.3. Từ chỉ màu phái sinh được tạo ra theo các phương thức..........................59
Bảng 2.4. Các nhóm từ ngữ chỉ màu sắc là từ ghép trong tiếng Anh và tiếng
Việt ............................................................................................................................60
Bảng 2.5. Bảng thống kê các tính từ chỉ màu sắc cơ bản và các tính từ phái sinh
chỉ màu trong tiếng Anh ............................................................................................65
Bảng 2.6. Bảng thống kê các tính từ chỉ màu sắc cơ bản và các từ, ngữ chỉ
màu sắc phái sinh từ các màu cơ bản trong tiếng Việt..............................................65
Bảng 2.7. Bảng đối chiếu số lượng tính từ chỉ màu phái sinh từ các màu cơ bản
trong tiếng Anh và tiếng Việt ....................................................................................67
Bảng 2.8. Ngữ nghĩa của tính từ white (trắng) trong tiếng Anh ...............................69
Bảng 2.9. Ngữ nghĩa của tính từ black (đen) trong tiếng Anh ..................................70
Bảng 2.10. Ngữ nghĩa của tính từ red (đỏ) trong tiếng Anh .....................................72
Bảng 2.11. Ngữ nghĩa của tính từ green (xanh lá cây) trong tiếng Anh ...................73
Bảng 2.12. Ngữ nghĩa của tính từ yellow (vàng) trong tiếng Anh ............................75
Bảng 2.13. Ngữ nghĩa của tính từ blue (xanh lam) trong tiếng Anh ........................75
Bảng 2.14. Ngữ nghĩa của tính từ brown (nâu) trong tiếng Anh ..............................76
Bảng 2.15. Ngữ nghĩa của tính từ purple (tím) trong tiếng Anh ..............................77
Bảng 2.16. Ngữ nghĩa của tính từ pink (hồng) trong tiếng Anh ...............................78
Bảng 2.17. Ngữ nghĩa của tính từ orange (cam) trong tiếng Anh ............................79
Bảng 2.18. Ngữ nghĩa của tính từ grey (xám) trong tiếng Anh ................................79
Bảng 3.1. Số lượng thành ngữ có chứa từ chỉ màu cơ bản trong tiếng Anh
và tiếng Việt ............................................................................................................128


Bảng 3.2. Các nghĩa biểu trưng xuất hiện trong thành ngữ chứa từ chỉ màu cơ
bản trong tiếng Anh và tiếng Việt ...........................................................................131


DANH MỤC HÌNH

đa dạng và được thể hiện trong nhiều phong cách văn bản, đặc biệt là trong phong
cách ngôn ngữ văn chương. Vì thế, lớp từ chỉ màu sắc trở thành đối tượng được
ngôn ngữ học quan tâm nghiên cứu từ nhiều góc độ, trên nhiều bình diện, nhất là
về đặc điểm ngữ nghĩa, tính biểu trưng hay về đặc điểm tri nhận.

1


Với những nhận thức như trên, chúng tôi chọn đề tài Đối chiếu các từ ngữ chỉ
màu sắc trong tiếng Anh và tiếng Việt để nghiên cứu với hi vọng sẽ có thể đưa ra
những kiến giải có tính chất gợi mở, tìm hiểu kĩ về khả năng tạo từ và ngữ nghĩa
của các từ chỉ màu sắc cơ bản, cách thể hiện và cảm nhận thế giới màu sắc của
người Anh và người Việt để tìm ra những tương đồng và dị biệt về nhóm từ ngữ
này trong quá trình nhận thức và biểu đạt các màu trong hai ngôn ngữ. Việc nghiên
cứu đề tài này sẽ góp phần phục vụ cho thực tiễn giảng dạy tiếng Anh cho người
Việt cũng như trong công tác dịch thuật của các nhà biên phiên dịch.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
2.1. Mục đích nghiên cứu
Luận án tập trung nghiên cứu đối chiếu nhằm mục đích:
- Tìm ra những điểm giống nhau và khác nhau về khả năng tạo từ và ngữ
nghĩa của các tính từ chỉ màu sắc cơ bản trong tiếng Anh và tiếng Việt;
- Làm sáng tỏ một số đặc trưng văn hóa thông qua cách sử dụng từ chỉ màu
sắc cơ bản trong thành ngữ tiếng Anh và tiếng Việt;
- Góp phần vào công tác giảng dạy ngoại ngữ, công tác biên phiên dịch AnhViệt, Việt-Anh và công tác biên soạn từ điển của các học giả.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được những mục đích trên, chúng tôi thực hiện các nhiệm vụ sau:
- Tổng quan tình hình nghiên cứu và xác định cơ sở lí luận cho luận án;
- Thống kê số lượng từ chỉ màu sắc cơ bản trong một số tác phẩm văn học
Anh, văn học Việt Nam và từ điển thành ngữ tiếng Anh và tiếng Việt để tìm ra tần
số sử dụng của từng màu sắc cơ bản trong hai ngôn ngữ;

sự khu biệt nghĩa của các nghĩa phái sinh và các hướng chuyển nghĩa; đặc biệt, từ
khối liệu thành ngữ có chứa từ chỉ màu sắc cơ bản trong tiếng Anh và tiếng Việt,
luận án phân xuất, chỉ ra các hướng nghĩa biểu trưng của thành ngữ có chứa từ chỉ
màu sắc trong hai ngôn ngữ, đối chiếu để tìm ra những điểm tương đồng và dị biệt,
từ đó làm rõ mối liên hệ mật thiết giữa bộ ba ngôn ngữ - văn hóa và tư duy trong
mỗi cộng đồng ngôn ngữ.
4. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận án
Để thực hiện nhiệm vụ của luận án, chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên
cứu chính sau:

3


- Phương pháp miêu tả: Phương pháp này được sử dụng để miêu tả khả năng
tạo từ và ngữ nghĩa của các từ chỉ màu sắc cơ bản.
- Phương pháp phân tích thành tố nghĩa: Phương pháp này được sử dụng
nhằm phân tích các đặc điểm ngữ nghĩa các từ chỉ màu sắc cơ bản cũng như ý nghĩa
biểu trưng của chúng được thể hiện trong các thành ngữ tiếng Anh và tiếng Việt
nhằm tìm ra các nghĩa của các từ ngữ này xuất hiện trong hai ngôn ngữ.
- Phương pháp so sánh đối chiếu: Đây là một phương pháp được sử dụng
để tìm ra những tương đồng và dị biệt trong ngôn ngữ và văn hóa, tư duy của
người Anh và người Việt thông qua các từ chỉ màu sắc cơ bản trong tiếng Anh
và tiếng Việt.
- Phương pháp nghiên cứu liên ngành: Luận án vận dụng đồng thời các tri
thức của Ngôn ngữ học với tri thức của các ngành khoa học khác có liên quan
như Văn học, Văn hóa học, Xã hội học, Tâm lý học… nhằm giúp tìm hiểu và lí
giải những cấu trúc bề sâu của cơ tầng văn hóa gắn với ngữ nghĩa của các từ chỉ
màu sắc, đặc biệt là ngữ nghĩa của các thành ngữ có chứa từ chỉ màu sắc trong
hai cộng đồng ngôn ngữ Anh – Việt.
- Thủ pháp thống kê, phân loại: Mục đích của phương pháp này nhằm thống

7. Kết cấu của luận án
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, luận án được
triển khai trong 3 chương.
Chương 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lí luận
Chương 2. Đối chiếu khả năng tạo từ và ngữ nghĩa của các từ chỉ màu sắc cơ
bản trong tiếng Anh và tiếng Việt
Chương 3. Đối chiếu ngữ nghĩa của thành ngữ có từ chỉ màu sắc cơ bản trong
tiếng Anh và tiếng Việt

5


Chương 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÍ LUẬN
1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu
Trong chương này, chúng tôi sẽ tổng hợp các công trình nghiên cứu của các
tác giả đi trước về từ ngữ chỉ màu sắc trong tiếng Anh và tiếng Việt để có được cái
nhìn toàn diện về các khía cạnh và hướng nghiên cứu của nhóm từ này trong tiếng
Anh và tiếng Việt, đồng thời tìm ra những khoảng trống, những điểm chưa được đề
cập đến hoặc đi sâu để chúng tôi có thể tiếp tục nghiên cứu trong luận án.
1.1.1. Tình hình nghiên cứu về từ ngữ chỉ màu sắc trong tiếng Anh
Lịch sử nghiên cứu về các từ chỉ màu sắc đã phát triển qua ba giai đoạn chính:
giai đoạn đối đầu của hai trường phái Tương đối [Sapir-Whorf (1921-1956)] và Phổ
niệm [Berlin & Kay (1969)]; giai đoạn hậu Berlin & Kay với những tranh luận phê
phán Berlin & Kay và ủng hộ Berlin & Kay và giai đoạn hiện nay là những hướng
nghiên cứu từ ngữ chỉ màu sắc theo tri nhận luận, kinh nghiệm luận và văn hóa luận.
Từ trước đến nay, các từ chỉ màu sắc được xem là đối tượng nghiên cứu của rất nhiều
ngành khoa học như Vật lí học, Tâm lí học và đặc biệt là Ngôn ngữ học.
Các nghiên cứu về màu sắc trên phương diện Tâm lí học: Nội dung cơ bản
của các nghiên cứu về các từ chỉ màu sắc là đưa ra những giả thuyết tâm sinh lí học

Nghiên cứu về màu sắc dưới góc độ Ngôn ngữ học: từ năm 1969, hai nhà
nghiên cứu Berlin & Kay của Trường đại học California ở Berkerly đã tiến hành
nghiên cứu tổng kết toàn bộ tư liệu, kinh nghiệm về từ ngữ chỉ màu sắc của các dân
tộc khác nhau trên thế giới. Berlin & Kay đã xác lập “phương pháp giai đoạn tiến
hóa đối với sự xuất hiện những từ ngữ chỉ màu sắc”. Gần như toàn bộ phương pháp
này đã được trình bày vào năm 1969 với Basic Color Terms (Những thuật ngữ màu
cơ sở). Trong công trình này, hai tác giả đã tìm hiểu và nghiên cứu từ ngữ chỉ màu
sắc trong 98 ngôn ngữ của các dân tộc khác nhau trên thế giới. Tác giả đã kết hợp
giữa tính khái niệm và tính thực tiễn, liên quan đến vấn đề mối quan hệ giữa màu
sắc và văn hóa. Từ sự khái quát thực tế dựa trên các ngôn ngữ khác nhau, Berlin &
Kay đã kết luận: Mọi ngôn ngữ ít nhất cũng có 2 từ chỉ màu đen và màu trắng, có 3
từ thì có thêm màu đỏ, có 4 từ thì có thêm màu xanh lá hoặc vàng, có 5 từ thì thêm
cả màu xanh lá và vàng, có 6 từ thì thêm màu xanh lam, có 7 từ thì có thêm màu
nâu, có trên 7 từ thì có thêm màu tím, hồng, da cam, xám hoặc hỗn hợp những màu
này. Ở một mức độ nhất định, có thể coi đó là chìa khóa mở ra nhiều công trình
nghiên cứu và thực tế đã có rất nhiều công trình nghiên cứu trên cơ sở tư tưởng của

7


Berlin và Kay. Công trình của Lakoff (1987) cũng ủng hộ quan điểm của Berlin &
Kay với tiêu đề “Women, fire and dangerous things” (Đàn bà, lửa và những thứ
nguy hiểm). Trong công trình này, Lakoff đã chứng minh rằng các phạm trù chỉ
màu sắc đều có các phần từ trung tâm, và vì vậy, có thể thực hiện việc so sánh các
phạm trù chỉ màu sắc trong các ngôn ngữ khác nhau [131]. Cùng quan điểm với
Berlin & Kay, trong nghiên cứu với tựa đề “Metaphor of anger, pride and love”
(Ẩn dụ chỉ sự giận dữ, niềm kiêu hãnh và tình yêu) Kovecses (1986) đã khẳng định:
Trong miền ngữ nghĩa của các từ chỉ màu sắc có những điểm trung tâm hơn và các
thuật ngữ chỉ các điểm trung tâm này được gọi là các từ chỉ màu cơ sở [128]. Năm
1978, Kay và Chad đã đặt vấn đề và nghiên cứu: Liệu ngôn ngữ có thêm khả năng

và từ chỉ cảm xúc. [145]
Sau giai đoạn này, một số các công trình nghiên cứu dưới góc độ ngôn ngữ
học tri nhận hoặc liên ngành ngôn ngữ học tâm lí đã đưa ra các hướng giải quyết
vấn đề về những đặc điểm chung trong việc gọi tên màu sắc như công trình của
Kay và Regier (1997) [127], hoặc những điểm phổ quát trong tri nhận màu sắc của
Wierzbicka (1989) [154], Lucy (1997) [133], Lindsey, & Brown (2004) [132].
1.1.2. Tình hình nghiên cứu về từ ngữ chỉ màu sắc trong tiếng Việt
Các nghiên cứu về từ chỉ màu sắc trong tiếng Việt chủ yếu tập trung trên
phương diện ngôn ngữ học. Các nghiên cứu về từ chỉ màu sắc tập trung nhiều ở
bình diện cấu trúc luận, chủ yếu tiếp cận về cấu trúc nghĩa, đặc điểm cấu tạo, đặc
điểm ngữ nghĩa của từ chỉ màu sắc trong tiếng Việt. Đào Thản (1993) trong bài “Hệ
thống từ ngữ chỉ màu sắc tiếng Việt trong sự liên hệ với mấy điều phổ quát”, đã viết
về việc nhận thức về màu và phân chia dải màu trên cảm nhận thị giác và quan điểm
truyền thống của từng cộng đồng người về màu sắc [68]. Tác giả Trịnh Thị Thu
Hiền với các bài viết “Một số đặc điểm của các đơn vị từ chỉ màu sắc cơ bản tiếng
Việt”, “Một vài đặc điểm của các từ chỉ màu phụ trong tiếng Việt” và “Đặc điểm
của hai từ chỉ màu sắc xanh và đỏ trong tiếng Việt” bước đầu đã lần lượt khảo sát,
đưa ra một số đặc điểm của các từ chỉ màu sắc cơ bản và màu phụ trong tiếng Việt
và đi sâu khảo sát hai từ xanh và đỏ [40,41]. ; Phạm Văn Tình (2004) với các bài
viết: “Hai từ xanh và xanh xanh; phấn trắng, bảng đen, tóc trắng- hình tượng đẹp
về người thầy” [81]; Lê Thị Vy (2006) với “Đặc trưng văn hóa dân tộc thể hiện qua
các từ chỉ màu sắc” [93]. Các bài viết này đã đề cập đến một màu (hoặc nhiều màu)
như biểu tượng của văn hóa hoặc nét đặc thù của dân tộc. Tuy nhiên, các tác giả chỉ
điểm qua mà chưa đi sâu vào nghiên cứu ảnh hưởng của ngôn ngữ và văn hóa đến

9


cách sử dụng các từ chỉ màu sắc.
Biện Minh Điền (2000) với bài viết Về tính từ chỉ màu sắc trong thơ Nguyễn



Cũng bàn về từ ngữ chỉ màu sắc, Trịnh Thị Minh Hương (1999) đã tiến hành
khảo sát và phân tích nghĩa biểu trưng của từ ngữ chỉ màu sắc trong tiếng Việt dựa
trên ngữ liệu là các văn bản thuộc phong cách ngôn ngữ văn chương [49]. Luận văn
đã nghiên cứu phương thức tạo tính biểu trưng cho các từ ngữ chỉ màu sắc và đồng
thời cũng giới thiệu một số thành ngữ chỉ màu sắc trong tiếng Việt và tiếng Anh
nhưng chưa đi sâu vào so sánh đối chiếu từ ngữ chỉ màu sắc trong hai ngôn ngữ
Anh – Việt.
Các nghiên cứu về từ chỉ màu sắc theo hướng tiếp cận so sánh, đối chiếu giữa
hai ngôn ngữ, có thể kể đến một số công trình của các tác giả như: Hoàng Văn
Hành (1982) [37] với tiêu đề “Về cấu trúc nghĩa của tính từ tiếng Việt (trong sự so
sánh với tiếng Nga)”. Trần Thị Thu Huyền (2001) với bài “Hoa cỏ và màu sắc
trong thành ngữ- tục ngữ tiếng Anh và tiếng Việt” [48]. Bùi Thị Thùy Phương
(2004) đã nghiên cứu một số đặc điểm hình thức, cấu trúc nghĩa của từ chỉ màu sắc
trong tiếng Việt nói chung cũng như tần số xuất hiện của chúng trong thơ ca và
thống kê, phân tích cấu trúc ngữ nghĩa của lớp từ chỉ màu sắc trong tiếng Anh và
tiếng Hán [64]. Trong các công trình kể trên, từ ngữ chỉ màu sắc trong tiếng Việt và
tiếng Anh đã được đề cập đến về mặt cấu trúc và ngữ nghĩa với những phạm vi khác
nhau cũng như tần số xuất hiện của chúng dựa vào ngữ liệu là những văn bản thuộc
phong cách ngôn ngữ văn chương. Một số công trình chỉ đi vào hệ thống các từ chỉ
màu sắc trong tiếng Việt, số khác chỉ nghiên cứu hai trong số các màu sắc cơ bản...
Tóm lại, việc so sánh đối chiếu từ chỉ màu sắc cơ bản trong tiếng Anh và tiếng
Việt dưới góc nhìn của ngôn ngữ, văn hóa và tư duy chưa được nghiên cứu một
cách hệ thống và toàn diện. Tuy nhiên, những công trình trên là những tài liệu tham
khảo quan trọng để chúng tôi tiếp tục nghiên cứu về các từ ngữ chỉ màu sắc trong
tiếng Anh và tiếng Việt.
1.2. Cơ sở lí luận
Trong mục tiếp theo, chúng tôi sẽ tập trung vào các vấn đề lí thuyết liên quan
đến đề tài và cụ thể là các khái niệm về từ, nghĩa của từ, ý nghĩa biểu trưng, các

đó là phương thức phụ tố (affixation), phương thức ghép (compound) và phương
thức chuyển loại (conversion). Phương thức phụ tố bao gồm phương thức tiền tố
(prefixation) và phương thức hậu tố (suffixation).
(i) Phương thức phụ tố (affixation)
Phương thức phụ tố là phương thức sử dụng phụ tố để bổ sung ý nghĩa từ
vựng cho chính tố để tạo nên một từ mới. Nó cũng có thể được sử dụng để biểu thị
ý nghĩa ngữ pháp của từ. Ví dụ, trong tiếng Anh, từ “happy” (hạnh phúc) có thể
thêm tiền tố un hoặc hậu tố ness để tạo nên các từ phái sinh (derived words) như
unhappy, happiness.
(ii) Phương thức ghép (compounding)
Bên cạnh phương thức sử dụng phụ tố, phương thức ghép (compound) cũng rất
phổ biến trong tiếng Anh. Trong hệ thống từ vựng tiếng Anh, các từ là những từ đa
tiết. Vì vậy, các từ trong tiếng Anh khi đi cùng nhau để tạo thành từ ghép có thể
được đặt thành một từ như: schoolgirl; hai từ nối nhau bằng gạch ngang: record-

13


player; hoặc hai từ riêng lẻ: flower garden… Từ ghép trong tiếng Anh cũng được
chia thành hai loại: Từ ghép đẳng lập và từ ghép chính phụ.
Trên thực tế sử dụng, hầu hết các từ ghép trong tiếng Anh đều có quan hệ chính
- phụ. Không giống tiếng Việt, yếu tố chính thường đứng trước: vườn hoa, trong
tiếng Anh, yếu tố chính thường đứng sau flower garden. Trật tự của từ ghép quyết
định nội dung ý nghĩa của từ đó: schoolboy (nam sinh) khác với boyschool (trường
dành cho con trai).
Những từ ghép cũng có thể quan hệ đẳng lập với nhau. Ví dụ: secretary- driver
(thư kí- lái xe); bitter - sweet (đắng - ngọt)… Những từ ghép này không có yếu tố
phụ thuộc vào yếu tố khác, và nghĩa của nó thường có nội dung của cả hai từ:
secretary - driver (thư kí và lái xe, để gọi một người có thể kiêm cả hai vị trí chứ
không phải đây là từ ghép để gọi tên một loại lái xe).

Khi phân loại các từ về mặt cấu tạo cần phải chú ý đến tất cả các nhân tố tham
gia cấu tạo từ. Phân loại từ không chỉ là để sắp xếp các từ thành loại mà còn để phát
hiện ra cách thức cấu tạo, tạo điều kiện cho quá trình nhận thức từ… Do vậy, nói
một cách đơn giản, chúng ta có thể phân chia từ tiếng Việt về mặt cấu tạo thành từ
đơn và từ phức, trong đó từ phức bao gồm từ láy và từ ghép. Từ đơn được tạo thành
từ phương thức từ hóa, từ láy từ phương thức láy và từ ghép từ phương thức ghép.
Từ việc phân loại này, chúng ta có thể hình dung ra các phương thức để sản sinh từ
mới từ từ đơn gốc trong tiếng Việt.
1.2.2. Nghĩa của từ
1.2.2.1. Khái niệm về nghĩa từ vựng của từ
Theo tác giả Goddard và Wierzbicka (2014), ngữ nghĩa cũng được xem như
một thành phần của ngôn ngữ học hơn là một quan điểm về ngôn ngữ và ngôn ngữ
học. Tuy nhiên, ý nghĩa chính là tất cả những gì ngôn ngữ diễn đạt. Đối với hầu hết
người dùng ngôn ngữ, người nói và người nghe, nhà văn và người đọc - từ là luôn
luôn “sống”(alive) và "xanh" (green), trong khi các hình thức, biểu tượng và các
công thức trừu tượng có thể dần dần mất đi hoặc không được dùng nữa.[111]
Các nhà ngôn ngữ học có nhiều quan điểm và định nghĩa khác nhau về nghĩa
của từ. Tuy nhiên, có thể chia thành 3 nhóm như sau:
(i) Quan niệm thứ nhất coi nghĩa của từ là một bản thể nào đó. “Nghĩa của từ là sự
vật, hành động, tính chất ngoài thực tế khách quan mà từ biểu thị”.
(ii) Quan niệm thứ hai coi nghĩa của từ là một quan hệ nào đó. Theo Saussure (1975),
nghĩa, là quan hệ của cái biểu hiện (signifier) và cái được biểu hiện (signified), trong
đó, cái biểu hiện không phải là bản thân tổ hợp ngữ âm cụ thể mà là hình ảnh tâm lý
của nó và cái được biểu hiện là tư tưởng. [65]. Nguyễn Thiện Giáp (2010) cho rằng
“Nghĩa của từ (cũng như ở các đơn vị ngôn ngữ khác) là quan hệ của từ với cái gì
đó nằm ngoài bản thân đó. Hiểu nghĩa của một đơn vị nào đó là hiểu đơn vị ấy có

15



Ở bình diện khái quát, thoát khỏi các ngôn ngữ cụ thể, có thể nhận thấy cách
nhìn nhận về nghĩa là ngữ nghĩa học cấu trúc-chức năng luận quan hệ với ngữ nghĩa
học tri nhận.
Theo hướng ngữ nghĩa học cấu trúc chức năng hướng đến ngữ nghĩa học tri
nhận, Lê Quang Thiêm (2015) hiểu nghĩa từ vựng của từ như sau: “Nghĩa của từ,
cũng như nghĩa của ngôn ngữ nói chung là một sản phẩm văn hóa tinh thần, tâm lý
của con người… Nó là kết quả của sự phản ảnh, ánh xạ, tri nhận thực tại được tích
hợp lại trong nội dung kí hiệu từ. Nó là nội dung được biểu đạt trong kí hiệu từ mà
hình thức là cái biểu đạt. Nội dung này là sự kí hiệu hóa, là việc sử dụng vào giao
tiếp, tư duy. Đồng thời là kết quả của sự biểu trưng hóa, cấu trúc hóa trong vốn từ
ngữ cũng như trong đặc điểm của ngôn ngữ dân tộc xác định.” [77, tr. 27].
Theo hướng ngôn ngữ học tri nhận thì cấu trúc của thế giới khách quan (hiện
thực) được phản ánh trong ngôn ngữ là một sản phẩm của trí tuệ con người, do đó ý
nghĩa thuộc phạm trù tinh thần, phạm vi ý thức, trong hiểu biết của cá nhân và cộng
đồng sử dụng ngôn ngữ, dưới dạng những khái niệm tập quán, thói quen. Với cách
tiếp cận biểu hiện này (mà không phải tiếp cận quy chiếu), nghĩa ngôn ngữ thuộc về
nội dung hiểu biết, tri nhận, tri thức của người nói trong ngôn ngữ nói chung, còn
nghĩa của tín hiệu nói riêng là thuộc về tri thức đời thường của người nói (khác với
tri thức bách khoa, có tính khoa học).
Với quan niệm coi trọng vai trò của chủ thể con người trong việc tạo ra, sử
dụng và lưu giữ nghĩa, Lê Quang Thiêm cho rằng nghĩa được sử dụng trong hoạt
động, bộc lộ trong quá trình tư duy - giao tiếp bằng ngôn ngữ. Mặt khác, nghĩa cũng
bộc lộ đặc trưng văn hóa tinh thần của người bản ngữ. Khác với quan niệm qui
chiếu theo hình tháp nghĩa hình học không gian của Đỗ Hữu Châu, theo đó, nhân tố
chính quy định nghĩa là ba nhân tố “sự vật”, “hệ thống ngôn ngữ”, “chức năng tín
hiệu học”, trong quan niệm của Lê Quang Thiêm, nhân tố chính là “người nói”; văn
cảnh”; “ngữ cảnh” và “chức năng tín hiệu học”. Việc xác định nhân tố chính trong

17


danh, có các từ không có khả năng gọi tên như trên mà chỉ có vai trò thực hiện các

18


chức năng ngữ pháp khác nhau khi tạo câu, tạo văn bản, ta gọi đó là các từ phi định
danh (vì, nên, hoặc..). Nghĩa của từ định danh không phải là một khối không phân
hóa. Nó là một thể thống nhất gồm bốn thành phần nghĩa: nghĩa biểu vật, nghĩa
biểu niệm và nghĩa ngữ pháp, nghĩa biểu thái (nghĩa ngữ dụng). Trong đó ba thành
phần nghĩa biểu vật, nghĩa biểu niệm và nghĩa biểu thái gộp thành nghĩa từ vựng
của từ. Vì vậy, hễ nói đến nghĩa từ vựng của từ thì ta chỉ đề cập đến loại từ định
danh. Dưới đây, chúng ta sẽ lần lượt xem xét từng thành phần nghĩa từ vựng của từ.
* Nghĩa biểu vật (denotative meaning): Là phần nghĩa của từ liên quan đến sự vật
hoặc phạm vi sự vật mà từ đó được sử dụng trong thế giới mà từ gợi ra khi ta tiếp
xúc với nó. Nghĩa biểu vật ứng với chức năng biểu vật. Nói cách khác, nghĩa biểu
vật của từ là các ánh xạ của các sự vật, thuộc tính ngoài ngôn ngữ vào ngôn ngữ.
Tuy nhiên, các ánh xạ của các sự vật, thuộc tính trong thực tế được phản ánh vào
ngôn ngữ không hoàn toàn đồng nhất với các ánh xạ được phản ánh trong tự nhiên.
Đó là những mẩu, những mảnh, những đoạn cắt của thực tế nhưng không hoàn toàn
trùng khớp với thực tế. Nghĩa là, ánh xạ trong ngôn ngữ có sự cải tạo lại, sáng tạo
lại những cái có trong thực tế. [14, tr. 777].
* Nghĩa biểu niệm (signicative meaning): Là phần nghĩa của từ liên quan đến hiểu
biết về nghĩa biểu vật của từ. Sự vật, hiện tượng trong thực tế khách quan có các
thuộc tính, các thuộc tính đó được phản ánh vào tư duy và hình thành nên khái
niệm. Vậy nên, khái niệm là một phạm trù của tư duy được hình thành từ những
hiểu biết trong thực tế. Đấy là những dấu hiệu bản chất về sự vật, hiện tượng. Khi
các dấu hiệu bản chất đó được phản ánh vào ngôn ngữ sẽ hình thành nên các nét
nghĩa. Tập hợp các nét nghĩa đó trong ngôn ngữ chính là nghĩa biểu niệm của từ.
[14, tr. 548].
Như vậy, nghĩa biểu niệm của từ là tập hợp của một số nét nghĩa chung và


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status