BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
Lê Hồng Nhiên
TỪ NGỮ CHỈ THỰC VẬT TRONG TIẾNG VIỆT
(ĐỐI CHIẾU GIỮA CÁC PHƯƠNG NGỮ)
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC
Thành phố Hồ Chí Minh - 2012
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
Lê Hồng Nhiên
TỪ NGỮ CHỈ THỰC VẬT TRONG TIẾNG VIỆT
(ĐỐI CHIẾU GIỮA CÁC PHƯƠNG NGỮ)
Chuyên ngành: Ngôn ngữ học
Mã số: 60. 22. 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS. ĐẶNG NGỌC LỆ
Thành phố Hồ Chí Minh - 2012
0.7. Cấu trúc luận văn ................................................................................. 16
Chương 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ TỪ VÀ PHƯƠNG NGỮ TIẾNG VIỆT . 17
1.1. TỪ TIẾNG VIỆT ................................................................................. 17
1.1.1. Khái niệm....................................................................................... 17
1.1.2. Cấu tạo ........................................................................................... 19
1.1.3. Ngữ âm - ngữ nghĩa ...................................................................... 21
1.2. PHƯƠNG NGỮ TIẾNG VIỆT ............................................................ 24
1.2.1. Khái niệm ..................................................................................... 24
1.2.2. Sự hình thành ................................................................................ 25
1.2.3. Phân vùng ..................................................................................... 29
Chương 2. TỪ NGỮ CHỈ THỰC VẬT TRONG CÁC PHƯƠNG NGỮ
TIẾNG VIỆT XÉT VỀ MẶT CẤU TẠO ....................................................... 32
2.1. TỪ ........................................................................................................ 32
2.1.1. Phương ngữ Bắc ............................................................................ 32
2.1.2. Phương ngữ Trung ........................................................................ 33
2.1.3. Phương ngữ Nam .......................................................................... 33
4
2.2. NGỮ ..................................................................................................... 36
2.2.1. Phương ngữ Bắc ........................................................................... 36
2.2.2. Phương ngữ Trung ........................................................................ 38
2.2.3. Phương ngữ Nam .......................................................................... 41
Chương 3. TỪ NGỮ CHỈ THỰC VẬT TRONG CÁC PHƯƠNG NGỮ
TIẾNG VIỆT XÉT VỀ MẶT NGỮ ÂM - NGỮ NGHĨA .............................. 48
3.1. TỪ NGỮ VỪA CÓ SỰ BIẾN THỂ VỀ NGỮ ÂM VỪA CÓ SỰ
TƯƠNG ĐỒNG VỀ NGHĨA ...................................................................... 48
3.3.1. Biến thể phụ âm đầu ...................................................................... 48
3.3.2. Biến thể phần vần .......................................................................... 51
1. Nguyên âm đơn
5. Phụ âm
i
i
k/c
k
ê
e
b
b
e
ɛ
m
m
a
ă
ǎ
n
n
u
u
x
s
ô
o
l
l
o
ɔ
ch
kh
x
3. Bán nguyên âm
u/o
ṷ
gi/d
z
i/y
j
g
γ
r
ʐ
s
ʂ
địa phương
PN
:
phương ngữ
PNB
:
phương ngữ Bắc
PNN
:
phương ngữ Nam
PNT
:
phương ngữ Trung
TD
:
từ ngữ địa phương
7
DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 2.1: Số lượng và tỉ lệ các tiểu loại từ giữa các PN
34
Bảng 2.2: Số lượng và tỉ lệ từ TD và ĐP giữa các PN
35
Bảng 2.3: Số lượng và tỉ lệ từ và ngữ giữa các PN
43
Bảng 2.4: Số lượng và tỉ lệ các tiểu loại ngữ giữa các PN
43 - 44
Bảng 2.5: Số lượng và tỉ lệ các tiểu loại ngữ láy giữa các PN
44
Bảng 2.6: Số lượng và tỉ lệ ngữ láy TD và ĐP giữa các PN
Bảng 3.6: Số lượng và tỉ lệ các tiểu loại từ ngữ có nghĩa giống nhau nhưng
hình thức ngữ âm khác nhau giữa các PN
80
Bảng 3.7: Thống kê từ ngữ có sự mở rộng hoặc thu hẹp dung lượng nghĩa
giữa các PN
82
8
MỞ ĐẦU
0.1.
Lí do chọn đề tài
Thực vật có vai trò quan trọng trong đời sống con người và xã hội. Từ
khi xuất hiện, loài người đã tiếp xúc với thực vật. Con người đã biết tận dụng
chúng để phục vụ nhu cầu vật chất hàng ngày như ăn, mặc, ở đi lại,… dần dần
họ còn biết tận dụng chúng để trang trí, thưởng thức và nhiều loại đã trở thành
những biểu tượng tinh thần cao quý. Cũng từ đó, loài người đã phải tìm cách
gọi tên để ghi nhớ và phân biệt các loại cây cối với nhau.
Việt Nam nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa, địa hình có sự phân
hóa đa dạng. Do đó, giới thực vật ở đây đa dạng về chủng loại, nhiều về số
lượng và có giá trị về chất lượng. Mỗi loại có những thuộc tính, công dụng
khác nhau. Khi đặt tên cho những loại thực vật này, người Việt Nam thường
dựa vào một hoặc một số thuộc tính nào đó của chúng, làm căn cứ để hiểu,
tên khác nhau. Sự khác nhau đó không chỉ đơn thuần là sự khác nhau về cách
phát âm, từ ngữ mà đằng sau nó còn chứa đựng nhiều giá trị văn hóa, cách tri
nhận mang đậm đặc điểm tâm lý của người dân từng vùng. Sự khác nhau này
tuy góp phần làm cho tiếng Việt thêm phong phú, đa dạng nhưng cũng gây ra
nhiều khó khăn trong việc giao tiếp, hiểu biết lẫn nhau của những người ở các
vùng miền khác nhau.
Nhưng hiện nay lại chưa có công trình nào quan tâm nghiên cứu một
cách có hệ thống, để khám phá ra những đặc điểm có tính quy luật, những
khác biệt chủ yếu về mặt cấu tạo, ngữ âm - ngữ nghĩa trong cách định danh từ
ngữ chỉ thực vật.
Mặt khác, đối chiếu từ ngữ chỉ thực vật cũng có thể giúp chúng ta thấy
rõ hơn vai trò của từ ngữ ĐP trong một vài lĩnh vực về mặt sử dụng, như
trong sáng tạo văn học nghệ thuật, trong công cuộc giữ gìn sự trong sáng và
chuẩn hóa ngôn ngữ; là cơ sở khoa học cho sự phân vùng PN tiếng Việt.
10
Xuất phát từ yêu cầu lí luận và thực tiễn như trên, thiết nghĩ đề tài: “Từ
ngữ chỉ thực vật trong tiếng Việt (đối chiếu giữa các phương ngữ)” được
thực hiện sẽ mang lại nhiều ý nghĩa thiết thực, đóng góp cùng các tác giả đi
trước nghiên cứu từ ngữ chỉ thực vật trong các PN tiếng Việt một cách toàn
diện hơn.
0.2.
Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Trong lịch sử phát triển văn minh nhân loại, thực vật luôn giữ một vai
trò quan trọng. Vì vậy, một hệ thống từ ngữ chỉ thực vật được ra đời từ rất
sớm trong ngôn ngữ loài người. Chính điều này cũng đã thu hút sự chú ý của
Trần Ngọc Thêm.
Trong công trình “Ngôn ngữ học tri nhận: Từ lí thuyết đại cương đến
thực tiễn tiếng Việt” [53; 247-254], Lý Toàn Thắng đi sâu vào việc nghiên
cứu ngữ nghĩa của từ “cây” và sự phân loại dân dã thực vật ở người Việt”.
Ông xác định có 11 ý nghĩa và cách dùng của từ cây và sự phân loại dân dã
thực vật của người Việt, về cơ bản, không phải là nguyên lý “phân loại sinh
học” mà quan trọng là tính chất về tri giác và văn hóa, và trong đó chủ yếu là
nguyên lý “lấy con người làm trung tâm”.
Năm 2010, trong công trình Đặc trưng văn hóa dân tộc của ngôn ngữ
và tư duy, Nguyễn Đức Tồn [65; 281 - 283] đã trình bày 18 loại đặc trưng
được chọn làm cơ sở để định danh thực vật trong tiếng Việt có sự đối chiếu
với tên gọi trong tiếng Nga, Cadắcstan, Anh. Thông qua bảng đối chiếu và
cách tính hệ số tương quan về tư duy giữa các dân tộc, tác giả nhận thấy bộ lí
do của tiếng Việt phong phú hơn các ngôn ngữ khác và khi định danh thực
vật, tư duy người Việt gần với người Cadắcstan hơn, sau đó là người Anh.
Trong công trình “Văn minh vật chất của người Việt” [60; 324], Phan
Cẩm Thượng đã đề cập đến vai trò của thực vật trong mối quan hệ với sự phát
triển nền văn minh vật chất của người Việt. Dựa trên mục đích sử dụng, ông
12
chia thế giới thực vật của người Việt thành “bốn loại rõ ràng: cây cho quả,
cây cho gỗ, cây làm cảnh và cây hoa màu để ăn”.
Tóm lại, từ ngữ chỉ thực vật trong tiếng Việt được các tác giả đi trước
đề cập đến ở nhiều góc độ: văn hóa, tri nhận, đối chiếu. Tuy nhiên, ở đây các
tác giả đối chiếu tiếng Việt với một hay một vài ngôn ngữ khác, chứ chưa đối
chiếu từ ngữ chỉ thực vật trong nội bộ ngôn ngữ với nhau. Vì vậy, có thể nói
rằng, cho đến nay chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách có hệ
thống về từ ngữ chỉ thực vật nhằm tìm ra những khác biệt giữa các PN. Luận
nghĩa giữa các PN.
Thực vật được người viết quan niệm ở đây là các loại cây cỏ. Các thực
vật được chọn để đối chiếu phải là những thực vật có quan hệ gần gũi trong
thực tiễn và có vai trò quan trọng trong đời sống vật chất, tinh thần của người
dân.
Tư liệu phục vụ cho việc nghiên cứu đề tài được chúng tôi thu thập từ
hai nguồn chủ yếu sau:
Từ điển
• Từ điển tiếng Việt của Hoàng Phê chủ biên [45]
• Từ điển tiếng địa phương Nghệ Tĩnh của Nguyễn Nhã Bản [3]
• Từ điển từ ngữ Nam Bộ của Huỳnh Công Tín [62]
• Từ điển tranh về các loại củ, quả của Lê Quang Long [37]
• Từ điển tranh về các loài hoa của Lê Quang Long [38]
• Từ điển tranh về các loài cây của Lê Quang Long [39]
Điền dã
Do giới hạn thời gian, chúng tôi không thể khảo sát hết tất cả các tỉnh
mà chỉ chọn khảo sát điểm. Cụ thể như sau:
• PNB, khảo sát các tỉnh Bắc Ninh, Hà Nội;
• PNT, khảo sát các tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh;
• PNN, khảo sát các tỉnh Vĩnh Long, Trà Vinh.
0.5.
Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này, chúng tôi sử dụng các phương pháp chủ yếu
sau:
14
tỉnh theo ba vùng PN. Ở mỗi tỉnh, chúng tôi chọn từ 15 đến 20 nhân chứng
cho điều tra cách định danh về thực vật. Điều kiện về nhân chứng được chọn
điều tra là:
- Những người đã lớn tuổi (từ 45 tuổi trở lên);
- Có trình độ văn hóa từ cấp 1 đến cấp 3;
- Cư dân địa phương, cư trú ổn định tại địa bàn các tỉnh trên.
Trong quá trình nghiên cứu, các phương pháp trên được vận dụng kết
hợp; có khi tùy vào từng nội dung nghiên cứu, tùy vào từng đối tượng cụ thể
mà sử dụng ưu tiên một phương pháp linh hoạt thích hợp trong từng trường
hợp cụ thể.
0.6.
Những đóng góp của luận văn
Khi chọn đề tài này, luận văn hướng đến các trọng tâm sau:
Về phương diện lý luận
Luận văn góp phần làm rõ cách gọi tên về từ ngữ chỉ thực vật ở các PN;
Lí giải những cách định danh thực vật khác nhau nhằm làm rõ đặc điểm
của PN từng vùng, nhất là những loại thực vật mà cả ba vùng định danh khác
nhau;
Chỉ ra những quy luật, các YT ảnh hưởng đến quá trình định danh thực
vật giữa các vùng miền khác nhau.
Về phương diện thực tiễn
Luận văn sẽ có những đóng góp thiết thực cho việc định hướng sử dụng
ngôn ngữ TD để đáp ứng nhu cầu giao tiếp nói chung;
Cung cấp tư liệu cho những nhà nghiên cứu về từ ngữ chỉ thực vật, hay
đối chiếu giữa các PN;
16
nghĩa từ cho tới nay vẫn chưa có sự thống nhất. F. de Saussure đã viết “vì từ,
mặc dầu khó định nghĩa, vẫn là một đơn vị mà trí tuệ buộc phải chấp nhận,
một cái gì đó có địa vị trung tâm trong cơ thể của ngôn ngữ” [17; 214]. Ở
Việt Nam, cho đến nay, vấn đề ranh giới từ vẫn đang là vấn đề gây nhiều
tranh cãi. Trên đại thể, chúng tôi nhận thấy có hai khuynh hướng khác nhau
trong cách giải quyết vấn đề ranh giới từ trong tiếng Việt.
Khuynh hướng thứ nhất coi tiếng là từ. Đại diện tiêu biểu là Nguyễn
Tài Cẩn [6], Nguyễn Thiện Giáp [18],... Nguyễn Tài Cẩn cho rằng tiếng là
đơn vị cơ bản trong truyền thống ngữ văn Việt Nam. Trong hệ thống đơn vị
ngữ pháp “có thể coi tiếng như một đơn vị đứng ở điểm giao nhau của hai hệ
thống nhỏ” [6; 368]. Hai hệ thống nhỏ ấy là:
Hệ thống 1, nửa tổ chức, nửa chức năng, có từ, cú vị, câu;
Hệ thống 2, đơn thuần tổ chức, có tiếng, tổ hợp cố định (bao gồm từ
ghép) và tổ hợp tự do (bao gồm đoản ngữ).
Về hệ thống 2, tác giả viết “khi đi từ tiếng lên tổ hợp tiếng, tách tổ hợp
cố định nói chung, tách từ ghép nói riêng với tổ hợp tự do, tách tổ hợp tự do
thành đoản ngữ, mệnh đề,… lại là đi theo con đường đơn thuần tổ chức [6;
368].
Xét về mặt khối lượng và quan hệ nội tại giữa tiếng, từ ghép và đoản
ngữ, tác giả cho rằng tiếng chặt hơn từ ghép, từ ghép chặt hơn đoản ngữ, và
ngược lại, đoản ngữ lớn hơn từ ghép, từ ghép lớn hơn tiếng. Tác giả viết
18
“trong tiếng Việt, đi từ tiếng lên từ ghép hay từ từ ghép lên đoản ngữ rõ ràng
là đi từ một từ bé lên một từ lớn hơn” [6; 352]. Có thể hình dung quan niệm
của ông qua sơ đồ sau:
chặt
2. Tuy còn tồn tại những khó khăn nhất định, song có thể chấp nhận và
vận dụng khái niệm hình vị vào để phân tích cấu trúc của từ tiếng Việt.
19
3. Dù còn có sự phức tạp trong sự phân định ranh giới, nhưng từ vẫn
luôn là một thực thể, tồn tại với tư cách là một từ cơ bản của tiếng Việt, và khái
niệm từ vẫn luôn là một khái niệm trung tâm của Việt ngữ học.
4. Từ tiếng Việt về cơ bản có thể phân thành: từ đơn, từ phức (bao gồm
từ ghép và từ láy).
Tuy nhiên, giữa các tác giả thuộc khuynh hướng thứ hai này vẫn còn tồn
tại những điểm khác biệt về hệ thống phân loại, tiêu chí phân loại, sử dụng hệ
thống thuật ngữ,…
Có thể nói, mỗi khuynh hướng đều có những ưu nhược điểm riêng.Tuy
nhiên, trong luận văn này, chúng tôi thống nhất theo quan niệm thứ hai, xem
hình vị là đơn vị cơ bản để cấu tạo từ tiếng Việt. Đây cũng là quan điểm được
nhiều nhà Việt ngữ học đồng tình. Từ đó, chúng tôi hiểu: từ là đơn vị ngôn
ngữ nhỏ nhất có nghĩa, hoạt động tự do, dùng để đặt câu.
1.1.2. Cấu tạo
Hiện nay, xung quanh vấn đề cấu tạo từ ngữ tiếng Việt vẫn tồn tại nhiều
quan niệm khác nhau. Tuy nhiên, như đã xác định, chúng tôi chọn “hình vị” là
đơn vị cơ bản cấu tạo từ ngữ tiếng Việt. Trên cơ sở kế thừa quan niệm của các
nhà Việt ngữ học ở khuynh hướng thứ hai, chúng tôi cho rằng tiếng Việt có từ
và ngữ.
Phương thức sử dụng một hình vị độc lập để tạo một từ. Ứng với
phương thức cấu tạo này, ta có từ đơn tiết. Ví dụ: cây, hoa, nhà, trâu, ngựa,
cười, vui, buồn, đẹp,…
Phương thức sử dụng hai hay nhiều âm tiết không độc lập để tạo một
hình vị độc lập. Ứng với phương thức cấu tạo này, ta có từ đa tiết. Ví dụ như
sạch − sạch sành sanh
21
Ngữ láy tư: phần lớn dựa trên cơ sở láy đôi, kết hợp với đổi vần, thay
đổi thanh điệu. Ví dụ: hớt hải – hớt hơ hớt hải,…
1.1.3. Ngữ âm - ngữ nghĩa
1.1.3.1. Từ đồng nghĩa
Đồng nghĩa là một hiện tượng xảy ra phổ biến trong các ngôn ngữ nói
chung và trong tiếng Việt nói riêng. Đồng thời, nó có thể xảy ra ở khắp các
cấp độ ngôn ngữ. Tuy nhiên, vấn đề được các nhà Việt ngữ học quan tâm
nhiều nhất chính là hiện tượng đồng nghĩa ở cấp độ từ ngữ. Có thể nói, đến
nay, quan niệm về từ đồng nghĩa chưa phải đã thống nhất.
Theo cách hiểu truyền thống, từ đồng nghĩa là những từ có nghĩa gần
nhau hay giống nhau. Nhìn chung, quan điểm này đúng nhưng chưa đủ vì còn
quá chung chung không quan tâm tới từ đồng nghĩa giống nhau về nghĩa biểu
vật hay biểu niệm và không tính tới một cách nghiêm túc hiện tượng đa nghĩa.
Trên cơ sở kế thừa những quan niệm truyền thống, các nhà ngôn ngữ
học hiện đại đã dựa vào các tiêu chí khác nhau để nhận diện từ đồng nghĩa.
Trong công trình Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt, dựa vào sắc thái nghĩa
hoặc sắc thái phong cách, Vũ Đức Nghiệu cho rằng “từ đồng nghĩa là những
từ tương đồng với nhau về nghĩa; khác nhau về âm thanh và có phân biệt với
nhau về một vài sắc thái ngữ nghĩa hoặc sắc thái phong cách… nào đó, hoặc
đồng thời cả hai” [13; 195].
Dựa vào tương quan ngữ cảnh, Đỗ Hữu Châu cho rằng: “Trong vốn từ
hội của bất cứ một ngữ ngôn nào cũng thường có những từ mặc dù hình thức
ngữ âm hoàn toàn khác nhau nhưng từ nghĩa lại giống nhau do đó trong
nhiều hoàn cảnh ngôn ngữ cụ thể, có thể thay thế cho nhau được. Những từ
này là những từ đồng nghĩa [73; 346].
23
Quan điểm thứ hai dựa trên hai tiêu chí: “số lượng nghĩa” và “quan hệ
giữa các nghĩa” trong một từ đa nghĩa. Đại diện tiêu biểu cho quan niệm này
có Đỗ Hữu Châu và Hoàng Dũng. Đỗ Hữu Châu quan niệm: “từ đa nghĩa là
một từ, có sự thống nhất về nội dung và hình thức. Trong một giai đoạn lịch
sử nhất định các nghĩa khác nhau của một từ đa nghĩa vẫn có liên hệ chặt chẽ
với nhau và không thoát li nghĩa chính” [73; 337]. Trong Giáo trình dẫn luận
ngôn ngữ học, Hoàng Dũng viết: “đa nghĩa là hiện tượng một từ có hai nghĩa
(hay nhiều hơn hai) có liên quan với nhau” [14; 125].
Trên cơ sở kế thừa những quan điểm trên, chúng tôi hiểu khái niệm từ
đa nghĩa như sau: Từ đa nghĩa là hiện tượng một từ có từ hai nghĩa trở lên và
giữa các nghĩa này có liên quan với nhau.
1.1.3.3. Từ đồng âm
Khảo sát các quan niệm trong giới Việt ngữ học về từ đồng âm, chúng tôi
nhận thấy, về cơ bản có thể phân thành ba quan điểm.
Quan điểm thứ nhất, xác định từ đồng âm bằng ba tiêu chí như giống
nhau về văn tự, giống nhau về âm thanh, khác nhau về nghĩa, đại diện cho quan
điểm này là Trần Trọng Kim. Ông cho rằng “tiếng đồng âm là những tiếng viết
giống nhau và đọc đồng một âm như nhau nhưng cái nghĩa thì khác mà không
có liên lạc gì với nhau cả” [34; 16].
Quan điểm thứ hai, xác định từ đồng âm bằng các tiêu chí như giống
nhau về hình thức âm thanh, khác nhau về nghĩa và có thể khác cả về các
phương diện ngữ pháp, đại diện cho quan điểm này có Hà Quang Năng, Hữu
Đạt, Bùi Minh Toán. Tác giả Hà Quang Năng trong Từ tiếng Việt: hình thái –
cấu trúc – từ láy – từ ghép – chuyển loại đưa ra khái niệm từ đồng âm như sau:
“hiện tượng đồng âm trong tiếng Việt là hiện tượng đồng nhất về mặt biểu
hiện, nghĩa là trùng nhau về âm thanh, đồng thời khác nhau dù chỉ ở một