BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
SÙNG A KHỨ
ĐỐI CHIẾU TRƯỜNG TỪ VỰNG - NGỮ NGHĨA
CHỈ THỰC VẬT TRONG TIẾNG MÔNG VÀ TIẾNG VIỆT
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC
SƠN LA, NĂM 2015
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
SÙNG A KHỨ
ĐỐI CHIẾU TRƯỜNG TỪ VỰNG – NGỮ NGHĨA
CHỈ THỰC VẬT TRONG TIẾNG MÔNG VÀ TIẾNG VIỆT
Chuyên ngành: Ngôn ngữ Việt Nam
Mã số: 60220102
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN: GS.TS. NGUYỄN ĐỨC TỒN
SƠN LA, NĂM 2015
2.1. Nghiên cứu đặc trưng ngôn ngữ - văn hóa - tư duy.................................. 2
2.2. Nghiên cứu văn hóa, ngôn ngữ của các dân tộc Mông ............................. 5
3. Mục đích nghiên cứu .................................................................................. 6
4. Đối tượng nghiên cứu................................................................................. 6
5. Phạm vi nghiên cứu.................................................................................... 6
6. Nhiệm vụ nghiên cứu ................................................................................. 7
7. Phương pháp nghiên cứu ............................................................................ 7
8. Ý nghĩa lí luận và thực tiễn của đề tài......................................................... 7
9 . Cấu trúc của luận văn ................................................................................ 8
Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN.......................................................................... 9
1.1. Về văn hóa và ngôn ngữ .......................................................................... 9
1.1.1. Khái niệm và đặc trưng của “văn hóa”.................................................. 9
1.1.2. Mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa .............................................. 13
1.2. Khái niệm định danh và các đặc điểm định danh ................................... 14
1.2.1. Khái niệm “định danh” ....................................................................... 14
1.2.2. Đặc điểm văn hóa – dân tộc của định danh ngôn ngữ ......................... 14
1.2.2.1. Đặc điểm văn hóa – dân tộc trong sự quy loại khái niệm được định
danh ............................................................................................................. 14
1.2.2.2. Đặc điểm văn hóa – dân tộc trong sự lựa chọn đặc trưng định danh. 15
1.2.2.3. Các thủ pháp định danh ................................................................... 18
1.3. Đặc điểm dân tộc trong quá trình chuyển nghĩa và nghĩa biểu trưng của từ.... 19
1.4. Tiểu kết chương 1 ............................................................................................. 22
Chương 2: ĐẶC ĐIỂM ĐỊNH DANH TRƯỜNG TỪ VỰNG - NGỮ NGHĨA
TÊN GỌI THỰC VẬT TRONG TIẾNG MÔNG ......................................... 23
2.1. Người Mông và tiếng Mông ở Việt Nam ............................................... 23
2.2. Đặc điểm định danh của tên gọi thực vật trong tiếng Mông................... 24
2.2.1. Đặc điểm định danh của tên gọi thực vật trong tiếng Mông xét theo
nguồn gốc..................................................................................................... 25
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
1.1. Cơ sở lí luận
Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp trọng yếu nhất của con người, ngay cả
những bộ lạc lạc hậu nhất mà người ta mới phát hiện ra cũng dùng ngôn ngữ
để nói chuyện với nhau. Ngoài ngôn ngữ, con người còn có những phương
tiện giao tiếp khác như cử chỉ, các loại dấu hiệu, kí hiệu khác (kí hiệu toán
học, đèn tín hiệu giao thông, tín hiệu hàng hải…), những kết hợp âm thanh
của âm nhạc, những kết hợp màu sắc của hội họa v.v… Nhờ có ngôn ngữ mà
con người có thể hiểu nhau trong qua trình sinh hoạt và lao động, mà người ta
có thể diến đạt và làm cho người khác hiểu được tư tưởng, tình cảm, trạng
thái và nguyện vọng của mình. Có hiểu biết lẫn nhau, con người mới có thể
đồng tâm hiệp lực chinh phục thiên nhiên, chinh phục xã hội, làm cho xã hội
ngày càng tiến lên.
Trước hết, ngôn ngữ là công cụ đấu tranh, sản xuất. Tuy ngôn ngữ không
sản xuất ra của cải vật chất, nhưng nó có thể thể hiện hoạt động sản xuất, có
thể giúp người ta giành lấy tri thức cần thiết để đấu tranh sản xuất, do đó thúc
đẩy sản xuất ngày càng phát triển.
Chức năng giao tiếp của ngôn ngữ gắn liền với chức năng thể hiện tư
duy của nó. Trong tác phẩm Hệ tư tưởng Đức, Mác và Ăngghen đã viết: Ngay
từ đầu, đã có một rủi ro đè nặng lên “tinh thân”, đó là sự rủi ro bị một vật
chất làm “hoen ố”, và vật chất đó thể hiện ở đây dưới hình thức những lớp
không khí chuyển động, những thanh âm, tóm lại là dưới hình thức ngôn ngữ.
Ngôn ngữ cũng cổ xưa như ý thức vậy, ngôn ngữ là ý thức thực tại, thực tiễn.
“Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của con người” (V.I. Lê
nin). Để hiểu sâu xa ý nghĩa của ngôn ngữ một dân tộc, không chỉ xem xét ý
nghĩa của từ hoặc cách hành chức của từ mà còn phải có sự hiểu biết về
1
2
từ lâu. Song, ở Việt Nam vấn đề đặc trưng văn hóa - dân tộc của ngôn ngữ và
tư duy chỉ mới được bắt đầu từ những năm chín mươi của thế kỉ XX, mở đầu
là chuyên khảo của Nguyễn Đức Tồn "Tìm hiểu đặc trưng văn hóa dân tộc
của ngôn ngữ và tư duy ở người Việt (trong sự so sánh với dân tộc khác)"
(Nxb ĐHQG HN, H., 2002). Ngoài ra còn có một số bài viết tham gia tại Hội
thảo khoa học do Hội Ngôn ngữ học Việt Nam và Trường Đại học Ngoại ngữ
Hà Nội phối hợp tổ chức vào tháng 7 năm 1992.
Trong cuốn "Giáo trình Từ vựng học tiếng Việt" (Nxb Đại học Sư
phạm,H., 2004), tác giả Đỗ Hữu Châu cũng đã dành nhiều trang nói về chức
năng định danh của ngôn ngữ, khẳng định vai trò quan trọng của định danh
trong giao tiếp và tư duy con người.
Tác giả Lý Toàn Thắng trong cuốn “ Ngôn ngữ học tri nhận: từ lí thuyết
đại cương đến thực tiễn tiếng Việt” (Nxb Phương Đông, 2009) là công trình
về đại cương ngôn ngữ học tâm lí và ngôn ngữ học tri nhận. Ông cũng trình
bày nhiều vấn đề lí thuyết liên quan đến định danh, về sự phân cắt hiện thực
của con người trong quá trình gọi tên sự vật, hiện tượng.
Tập hợp và hệ thống hóa những công trình nghiên cứu trước đây của
mình, bổ sung thêm những nghiên cứu mới, tác giả Nguyễn Đức Tồn xuất bản
cuốn sách "Đặc trưng văn hóa - dân tộc của ngôn ngữ và tư duy" (Nxb
KHXH, H., 2008, 588 tr; Nxb Từ điển Bách khoa tái bản có bổ sung, 2010,
635 tr; Nxb KHXH tái bản có chỉnh lí và bổ sung, 2015, 792 tr). Đây là công
trình đầu tiên ở Việt Nam nghiên cứu một cách có hệ thống, chuyên sâu
những đặc trưng văn hóa - dân tộc của ngôn ngữ và tư duy tộc người từ trên
các phương diện sự tri nhận, phạm trù hóa hiện thực khách quan, đặc điểm
quá trình định danh, cấu trúc ngữ nghĩa, quá trình chuyển nghĩa, đặc điểm sử
dụng biểu trưng của các đối tượng ... ở người Việt và người Nga và một số
tộc người khác.
4
Với dung lượng kiến thức của một khóa luận tốt nghiệp Đại học, nhưng
Cao Thị Thu (1995) đã cho thấy đặc điểm định danh trường từ vựng tên gọi
thực vật trong tiếng Việt.
Tác giả Chănphômmavông (Lào), với đề tài luận án "Đặc điểm định
danh và hiện tượng chuyển nghĩa trong trường từ vựng tên gọi các bộ phận
cơ thể con người trong tiếng Lào" (1999) đã đối chiếu đặc điểm định danh và
đi sâu vào hiện tượng chuyển nghĩa đã cho thấy sự tương đồng trong hai nền
văn hóa “láng giềng” Việt Nam - Lào, đồng thời tác giả cũng cho thấy đặc
điểm riêng biệt, độc đáo của ngôn ngữ, văn hóa mỗi dân tộc.
2.2. Nghiên cứu văn hóa, ngôn ngữ của các dân tộc Mông
Trải qua hàng ngàn năm tồn tại và phát triển, dân tộc Mông đã tạo nên
một nền văn hóa vừa phong phú, vừa đa dạng, đặc sắc. Đã có nhiều nghiên
cứu về văn hóa Mông cũng như đặc điểm văn hóa Mông ở mỗi địa phương.
Có thể kể đến những nghiên cứu văn hóa và ngôn ngữ Mông tiêu biểu sau:
“ Từ điển Mông – Việt”(Pênhr lul Hmôngz – Viêx do Cư Hòa Vần chủ
biên (Nxb Giáo dục, 2000). Cuốn sách cung cấp khoảng 15000 từ tiếng Mông
cho bạn đọc tìm hiểu.
Cuốn “ Tài liệu dạy và học tiếng Mông” của nhóm tác giả Nhà giáo ưu
tú Lý Seo Chúng (chủ biên), Nhà giáo ưu tú Phan Thanh, Nguyễn Ngọc
Thanh, Hoàng Chúng, Vàng Lềnh, Nguyễn Thiện Hùng, Giàng Thị Bằng,
Nguyễn Đình Du, Nguyễn Thị Phi Nga, Nguyễn Tiến Tuân., (Xuất bản năm
2007). Từ phác thảo về bức tranh xã hội và con người của các ngành Mông,
nhóm tác giả đi sâu nghiên cứu các vấn đề ngôn ngữ, văn hóa của dân tộc này.
Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn Quốc gia cho ra đời tác phẩm
“Nghiên cứu ngôn ngữ các dân tộc ở Việt Nam” (Nxb Khoa học xã hội,
1994). Cuốn sách đã trình bày những đặc điểm ngôn ngữ đặc sắc của các dân
tộc Việt Nam. Qua đó cuốn sách cho thấy sự phong phú, đặc sắc của ngôn
6
Về tiếng Việt, chúng tôi chọn cuốn: “Từ điển tiếng Việt”, Hoàng Phê
(chủ biên), Nxb Khoa học xã hội, 1994 gồm 38.410 từ.
6. Nhiệm vụ nghiên cứu
Thực hiện đề tài này, luận văn giải quyết các nhiệm vụ sau:
- Tìm hiểu cơ sở lí luận của đề tài
- Đặc điểm định danh của trường từ vựng chỉ thực vật trong tiếng Mông
so với tiếng Việt.
- Đặc điểm ngữ nghĩa của trường từ vựng chỉ thực vật trong tiếng Mông
so với tiếng Việt.
7. Phương pháp nghiên cứu
Để giải quyết các nhiệm vụ trong đề tài luận văn, chúng tôi sử dụng chủ
yếu các phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp so sánh - đối chiếu được sử dụng để nghiên cứu chỉ ra
những điểm tương đồng và khác biệt về định danh và ngữ nghĩa của trường từ
vựng chỉ thực vật trong tiếng Mông so với tiếng Việt.
- Phương pháp phân tích thành tố nghĩa được sử dụng để nghiên cứu các
nghĩa vị và cấu trúc nghĩa của các từ ngữ thuộc trường từ vựng chỉ thực vật
trong tiếng Mông và tiếng Việt.
- Thủ pháp thống kê được áp dụng để chỉ ra tần số xuất hiện của đặc
trưng định danh và nghĩa vị của các từ ngữ thuộc trường từ vựng chỉ thực vật
trong tiếng Mông và tiếng Việt.
8. Ý nghĩa lí luận và thực tiễn của đề tài
Giải quyết các nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài là một công việc có ý
nghĩa cả về lí luận và thực tiễn.
8.1. Về lí luận: luận văn góp phần làm sáng tỏ thêm một số vấn đề lí
luận về ngôn ngữ học tâm lí dân tộc nói chung và vấn đề định danh ngôn ngữ
Hiện nay có rất nhiều khái niệm khác nhau về văn hóa, nhưng suy cho
cùng, khái niệm văn hoá bao giờ cũng có thể qui về hai cách hiểu chính: theo
nghĩa hẹp và theo nghĩa rộng.
Theo nghĩa hẹp, văn hoá được giới hạn theo chiều sâu hoặc theo chiều
rộng, theo không gian hoặc theo thời gian… Giới hạn theo chiều sâu, văn hóa
được hiểu là những giá trị tinh hoa của nó (nếp sống văn hoá, văn hoá nghệ
thuật…). Giới hạn theo chiều rộng, văn hoá được dùng để chỉ những giá trị
trong từng lĩnh vực (văn hoá giao tiếp, văn hoá kinh doanh…). Giới hạn theo
không gian, văn hoá được dùng để chỉ những giá trị đặc thù của từng vùng
(văn hoá Tây Nguyên, văn hoá Nam Bộ…). Giới hạn theo thời gian, văn hoá
được dùng để chỉ những giá trị trong từng giai đoạn (văn hoá Hoà Bình, văn
hoá Đông Sơn…)…
Theo nghĩa rộng, văn hoá thường được xem là bao gồm tất cả những gì do
con người sáng tạo ra. Năm 1940, Hồ Chí Minh đã viết: “Vì lẽ sinh tồn cũng
như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn
ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật,
những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về ăn, mặc, ở và các phương thức sử
dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa. Văn hóa là sự
tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài
9
người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của
sự sinh tồn” [Hồ Chí Minh 1995: 431]. Federico Mayor, Tổng giám đốc
UNESCO, cho biết: “Đối với một số người, văn hóa chỉ bao gồm những kiệt
tác tuyệt vời trong các lĩnh vực tư duy và sáng tạo; đối với những người khác,
văn hóa bao gồm tất cả những gì làm cho dân tộc này khác với dân tộc khác,
từ những sản phẩm tinh vi hiện đại nhất cho đến tín ngưỡng, phong tục tập
quán, lối sống và lao động. Cách hiểu thứ hai này đã được cộng đồng quốc tế
được chức năng tổ chức xã hội. Chính văn hóa thường xuyên làm tăng độ ổn
định của xã hội, cung cấp cho xã hội mọi phương tiện cần thiết để ứng phó
với môi trường tự nhiên và xã hội của mình. Nó là nền tảng của xã hội, có lẽ
chính vì vậy mà người Việt Nam ta dùng từ chỉ loại “nền” để xác định khái
niệm văn hoá (nền văn hóa).
Đặc trưng quan trọng thứ hai của văn hóa là tính giá trị.
Văn hóa theo nghĩa đen nghĩa là "trở thành đẹp, thành có giá trị". Tính
giá trị cần để phân biệt giá trị với phi giá trị (vd: thiên tai, mafia). Nó là thước
đo mức độ nhân bản của xãhội và con người.Các giá trị văn hóa, theo mục
đích có thể chia thành giá trị vật chất (phục vụ cho nhu cầuvật chất) và giá trị
tinh thần (phục vụ cho nhu cầu tinh thần); theo ý nghĩa có thể chia thành giá
trị sử dụng, giá trị đạo đức và giá trị thẩm mĩ; theo thời gian có thể phân
biệtcác giá trị vĩnh cửu và giá trị nhất thời. Sự phân biệt các giá trị theo thời
gian cho phép ta có được cái nhìn biện chứng và khách quan trong việc đánh
giá tính giá trị của sự vật,hiện tượng; tránh được những xu hướng cực đoan phủ nhận sạch trơn hoặc tán dươnghết lời.Vì vậy mà, về mặt đồng đại, cùng
một hiện tượng có thể có giá trị nhiều hay ít tùy theogóc nhìn, theo bình diện
được xem xét. Muốn kết luận một hiện tượng có thuộc phạm trù văn hóa hay
không phải xem xét mối tương quan giữa các mức độ "giá trị" và “phi giátrị"
của nó. Về mặt lịch đại, cùng một hiện tượng sẽ có thể có giá trị hay không
tùy thuộcvào chuẩn mực văn hóa của từng giai đoạn lịch sử. Áp dụng vào
11
Việt Nam, việc đánh giá chế độ phong kiến, vai trò của Nho giáo, các triều
đại nhà Hồ, nhà Nguyễn... đều đòi hỏi một tư duy biện chứng như thế. Nhờ
thường xuyên xem xét các giá trị mà văn hóa thực hiện được chức năng quan
trọng thứ hai là chức năng điều chỉnh xã hội, giúp cho xã hội duy trì được
trạng thái cân bằng động, không ngừng tự hoàn thiện và thích ứng với những
biến đổi của môi trường, giúp định hướng các chuẩn mực, làm động lực cho
của văn hóa. Nhưng văn hóa thực hiện chức năng giáo dục không chỉ bằng
nhữnggiá trị đã ổn định (truyền thống), mà hệ thống chuẩn mực mà con người
hướng tới. Nhờ nó mà vănhóa đóng vai trò quyết định trong việc hình thành
nhân cách (trồng người). Từ chức năng giáo dục, văn hóa có chức năng phái
sinh là đảm bảo tính kế tục của tịch sử: Nó là một thứ "gien" xã hội di truyền
phẩm chất con người lại cho các thế hệ mai sau ./
1.1.2. Mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa
Văn hóa và ngôn ngữ có mối quan hệ chặt chẽ không thể tách rời. Ngôn
ngữ là phương tiện để thể hiện văn hóa và văn hóa chứa đựng trong ngôn ngữ.
Ngôn ngữ và truyền thống là kết tinh của văn hóa dân tộc, nhờ vào sự truyền
bá rộng rãi của ngôn ngữ mà văn hóa được phổ biến và lưu truyền rộng rãi,
nền văn hóa cũng nhờ đó mà phát triển. Sự biến đổi và phát triển của ngôn
ngữ luôn đồng hành với sự phát triển của văn hóa. Vì vậy muốn nghiên cứu
về văn hóa phải nghiên cứu về ngôn ngữ và ngược lại muốn nghiên cứu về
ngôn ngữ phải nghiên cứu về văn hóa. Điều này thể hiện rất rõ trong việc giao
thoa văn hóa giữa các dân tộc: Viêt Nam có 54 dân tộc, mỗi dân tộc có một
ngôn ngữ riêng biệt vì vậy đương nhiên cũng có sự khác nhau giữa văn hóa.
Ví dụ: người Kinh nói Tiếng Việt và có bộ trang phục truyền thống là áo dài,
còn người Thái lại nói tiếng Thái và có trang phục riêng của dân tộc mình…
Vì thế khi muốn nghiên cứu về sự đa dạng của văn hóa Việt Nam trước hết
phải thấu hiểu được ngôn ngữ của đầy đủ 54 dân tộc.
13
1.2. Khái niệm định danh và các đặc điểm định danh
1.2.1. Khái niệm “định danh”
Thuật ngữ định danh có nguồn gốc từ tiếng La tinh, nghĩa là "tên gọi".
Có nhiều cách hiểu khác nhau về nghĩa của từ định danh. Trong cuốn Từ điển
tiếng Việt (năm 1994, do Hoàng Phê chủ biên), định danh được hiểu là "gọi
trong lò người Việt gọi là "bánh mì". Tuy nhiên, có nhiều loại bánh làm bằng
bột mì, người phương Tây gọi theo cách thức làm bánh hay những tên gọi
khác thì người Việt lại sử dụng cách lựa chọn những đặc trưng về nguyên liệu
phụ đi kèm như: bánh mì bơ, bánh mì sữa, bánh mì kem...
Tham gia vào quá trình định danh có hai nhân tố quan trọng là chủ thể
định danh và đối tượng được định danh. Do đó, trong sự định danh cho sự
vật, hiện tượng, có hai loại lí do: lí do chủ quan và lí do khách quan.
Lí do chủ quan: Là lí do khó nhận biết hơn. Chỉ chủ thể định danh mới
hiểu vì sao lại lựa chọn tên gọi này để gọi tên người hay vật nào đó. Trường
hợp này thường thấy trong cách đặt tên người hay bút danh, nghệ danh của
nghệ sĩ.
Ví dụ: Một người cha là thủy thủ đã đặt tên cho con mình là Nam Phong.
Tên gọi này là có lí do chủ quan: “gió nam” là hướng gió tốt, giúp tàu thuận
buồm xuôi gió và người cha đặt tên con như thế mong con mình sẽ như ngọn
gió lành mang lại bình yên cho người thân.
Lí do khách quan: một sự vật, hiện tượng có một dấu hiệu đặc trưng dễ
nhận biết, nhìn thấy rõ nhất sẽ được lựa chọn ngay làm dấu hiệu để đặt tên.
Đây là lí do khách quan mọi người đều dễ dàng nhận thấy. Ví dụ: chim cuốc,
con mèo,...(tên gọi đặt theo tiếng kêu). Cách đặt tên cho các kí hiệu hóa học
thường có lí do khách quan, chẳng hạn như:
Clo: tên gọi có nguồn gốc Hy Lạp là Khloros nghĩa là “màu xanh lá cây”
Flo: tên gọi có nguồn gốc do từ La tinh Fluor có nghĩa “trôi chảy, lưu
động”.
16
Việc lựa chọn đặc trưng của đối tượng được định danh phụ thuộc vào rất
nhiều yếu tố như: điều kiện sống, lao động, truyền thống, hoàn cảnh địa lí,
cách tư duy của mỗi dân tộc... Vì vậy, mỗi ngôn ngữ có thể chọn những đặc
biểu hiện bằng từ là phương thức đặc dân tộc nhờ nó mà một dân tộc nhất
định biểu hiện được tư tưởng, tình cảm của mình trong ngôn ngữ và là điều
kiện để phân biệt ngôn ngữ này với ngôn ngữ khác. Vì vậy, “hai từ của hai
ngôn ngữ thoạt nhìn tưởng có vẻ tương đương, biểu hiện những ý nghĩa từ
vựng đồng nhất, vẫn có thể có cái không đồng nhất, bởi vì trong các từ ấy còn
hàm chứa cả những “quan điểm” khác nhau được lưu giữ lại ở hình thái bên
trong của từ” [28, tr.220]
Theo tác giả Nguyễn Đức Tồn trong “Đặc trưng văn hóa - dân tộc của
ngôn ngữ và tư duy”, khi nghiên cứu và tiến hành khảo sát đặc điểm định
danh của một ngôn ngữ cần căn cứ vào các tiêu chí sau:
- Nguồn gốc tên gọi
- Kiểu ngữ nghĩa của tên gọi
- Cách thức biểu thị của tên gọi. [28, tr.220-221]
1.2.2.3. Các thủ pháp định danh
Tìm hiểu đặc trưng văn hóa – dân tộc trong ngôn ngữ qua vấn đề định
danh, ngoài việc tìm hiểu các đặc điểm về định danh theo ba tiêu chí nêu trên
thì cách thức định danh cũng là một vấn đề quan trọng. “Đặc trưng văn hóa dân tộc của định danh ngôn ngữ được biểu hiện không chỉ ở việc quy loại và
tách chọn đặc trưng để gọi tên đối tượng, mà còn được biểu hiện cả ở “kĩ
thuật ngôn ngữ” (thuật ngữ của B.A. Sereprennhicôp) trong việc định danh”
[28, tr.222]
Tác giả Nguyễn Đức Tồn đã dẫn các cách thức định danh sau do B.A.
Serepennhicốp đưa ra :
- Sử dụng tổ hợp ngữ âm biểu thị đặc trưng nào đó trong số các đặc
trưng của đối tượng này
18