Trường từ vựng ngữ nghĩa về tôn giáo và chiến tranh trong tiểu thuyết lịch sử của nguyễn xuân khánh luận văn thạc sĩ ngữ văn - Pdf 32

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

NGUYỄN MẠNH HÙNG

CHUYÊN NGÀNH: NGÔN NGỮ HỌC
MÃ SỐ: 60. 22. 02.40

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN

Người hướng dẫn khoa học:

TS. TRỊNH THỊ MAI


2

NGHỆ AN - 2012


MỤC LỤC
Trang

MỞ ĐẦU...........................................................................................4
1. Lý do chọn đề tài.......................................................................4
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề.......................................................6
3. Đối tượng, phạm vi và nhiệm vụ nghiên cứu.....................12
4. Phương pháp nghiên cứu.........................................................13
5. Đóng góp của luận văn...........................................................13
6. Cấu trúc của luận văn.............................................................14
NỘI DUNG.....................................................................................15

2.2.1. Dẫn nhập.............................................................................56
2.2.2. Vai trò của trường từ vựng về tôn giáo trong việc thể
hiện nội dung tư tưởng của tác phẩm......................................57
2.2.3. Vai trò của trường từ vựng về tôn giáo trong việc thể
hiện thái độ của tác giả..............................................................70
2.3. Tiểu kết chương 2.................................................................73
Chương 3
TRƯỜNG TỪ VỰNG - NGỮ NGHĨA VỀ CHIẾN TRANH
TRONG TIỂU THUYẾT LỊCH SỬ CỦA NGUYỄN XUÂN
KHÁNH..........................................................................................75
3.1. Các tiểu trường từ vựng ngữ nghĩa về chiến tranh trong
tiểu thuyết lịch sử của Nguyễn Xuân Khánh ........................75
3.1.1. Trường từ vựng về đối tượng tham gia chiến tranh...76
3.1.2. Trường từ vựng về các phương tiện chiến tranh........80
3.1.3. Trường từ vựng về tính chất, hậu quả của chiến tranh
.........................................................................................................85
3.2. Vai trò của trường từ vựng về chiến tranh trong tiểu
thuyết lịch sử của Nguyễn Xuân Khánh...................................90
3.2.1. Trường từ vựng về chiến tranh trong tiểu thuyết của
Nguyễn Xuân Khánh với vai trò khắc họa hiện thực cuộc
chiến tranh xâm lược Việt Nam của thực dân Pháp..............90
3.2.2. Trường từ vựng về chiến tranh với vai trò thể hiện
thái độ của tác giả........................................................................95
3.3. Tiểu kết chương 3...............................................................100
KẾT LUẬN...................................................................................101
TÀI LIỆU THAM KHẢO...........................................................107
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài



6
Vì những lí do trên chúng tôi chọn đề tài: “Trường từ vựng - ngữ nghĩa
về tôn giáo và chiến tranh trong tiểu thuyết lịch sử của Nguyễn Xuân Khánh”
để nghiên cứu.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
2.1. Lý thuyết về trường từ vựng ngữ nghĩa đã được nghiên cứu từ lâu.
Ở Việt Nam đã có nhiều nhà ngôn ngữ học nghiên cứu về vấn đề này. Có thể
kể đến một số tác giả tiểu biểu như Giáo sư Đỗ Hữu Châu với các công trình
như Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt; Các bình diện của từ và từ tiếng Việt;
Khái niệm trường và việc nghiên cứu hệ thống từ vựng; Trường từ vựng ngữ
nghĩa và hiện tượng nhiều nghĩa; Trường từ vựng và hiện tượng đồng nghĩa,
trái nghĩa… Giáo sư Nguyễn Thiện Giáp với cuốn Từ vựng tiếng Việt. Giáo
sư Nguyễn Đức Tồn với luận án Phó Tiến sĩ Trường từ vựng bộ phận cơ thể
người. Giáo sư Lê Quang Thiêm với Lịch sử từ vựng tiếng Việt thời kì 1858
- 1945. Nguyễn Văn Tu với Từ và vốn từ tiếng Việt hiện đại. Hoàng Văn
Hành với các công trình Về tính hệ thống của vốn từ tiếng Việt; Về nghĩa của
các từ biểu thị sự nói năng trong tiếng Việt.
Vận dụng lý thuyết Trường từ vựng ngữ nghĩa để nghiên cứu các
trường từ vựng cụ thể đã có rất nhiều công trình nghiên cứu là các luận án,
luận văn, các bài báo. Các công trình có thể kể đến như:
Luận án Phó tiến sĩ của Nguyễn Đức Tồn “Trường từ vựng bộ phận cơ
thể người” (1988) đã đi sâu nghiên cứu một trường từ vựng, cụ thể là trường từ
vựng bộ phận cơ thể người, qua các tiểu trường từ vựng bộ phận cơ thể người,
tác giả đã phân tích, lý giải mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa rất lý thú.
Năm 1996, Nguyễn Thúy Khanh với luận án Phó tiến sĩ cũng nghiên
cứu một trường từ vựng tiêu biểu đó là “Đặc điểm trường từ vựng ngữ nghĩa
tên gọi động vật”. Từ các tên gọi động vật, tác giả cũng đã lý giải mối quan hệ
ngôn ngữ và văn học và có nhiều nhận xét mới mẻ về tên gọi động vật.



Nguyễn Thị Yến với “Trường nghĩa ẩm thực trong các bài báo viết về bóng
đá” (Tạp chí Ngôn ngữ và đời sống, số 7 - 2009).v.v…
2.2. Nguyễn Xuân Khánh là nhà văn tương đối “lạ” bởi vì khi bước vào
tuổi xưa nay hiếm thì ông mới thực sự nổi tiếng, các tác phẩm của ông liên
tục ra đời và liên tục nhận được các giải thưởng lớn, thu hút sự chú ý của bạn
đọc. Nghiên cứu về Nguyễn Xuân Khánh có rất nhiều bài viết như: Tại cuộc
hội thảo về tiểu thuyết Hồ Quý Ly đăng trên báo Văn nghệ, số 41 (7-10-2000),
rất nhiều nhà văn đã đọc tham luận như nhà văn Hoàng Quốc Hải với bài
Những điều khả ái trong tiểu thuyết Hồ Quý Ly của nhà văn Nguyễn Xuân
Khánh; nhà văn Trần Thị Thường đọc tham luận Những nhân vật nữ trong
tiểu thuyết Hồ Quý Ly; nhà văn Châu Diên với Tiểu thuyết Hồ Quý Ly và tư
chất nhà văn trong Nguyễn Xuân Khánh; nhà văn Hoàng Tiến đọc tham luận
Thân phận kẻ sĩ trong tiểu thuyết Hồ Quý Ly.v.v.
Tác giả Nguyễn Diệu Cầm trong bài Tiểu thuyết lịch sử đang hấp dẫn
trở lại nêu lên điểm nổi bật về thủ pháp nghệ thuật của tiểu thuyết Hồ Quý Ly
“Không phải ngẫu nhiên, Hồ Quý Ly lôi cuốn trước hết ở cấu trúc vòng tròn,
mà nhà văn Nguyễn Xuân Khánh gọi là thủ vĩ ngâm, với chương I mở đầu
bằng “Hội thề Đồng Cổ và chương XIII kết thúc bằng Hội thề Đốn Sơn”. Để
có được kết cấu tiểu thuyết khiến người đọc bị lôi cuốn không dứt ra được ấy,
Nguyễn Xuân Khánh đã phải ba lần viết đi viết lại trong nhưng năm 1978,
1985, 1995, chưa kể chính ông đã bị thu hút bởi nhân vật lịch sử Hồ Quý Ly
ngay từ những năm 1970. Cấu trúc vòng tròn trong tiểu thuyết Hồ Quý Ly đã
dẫn dụ độc giả theo dòng sự kiện lịch sử, lại theo dòng thời gian tiểu thuyết
của một lối viết hiện đại. Lối viết này vừa tuân thủ thời gian “chương hồi”
của tiểu thuyết phương Đông, vốn tôn trọng sự kiện và con người lịch sử,
nhưng lại khéo kết hợp với một cách xử lý phương Tây, khi tác giả không


9
miêu tả trực diện nhân vật chính Hồ Quý Ly từ đầu đến cuối, mà miêu tả Hồ

Quang Tốn (Văn nghệ, số 5+6+7+8, 2002).v.v.
Về tác phẩm Mẫu Thượng Ngàn cũng có hàng loạt bài viết trên cả báo
viết và báo mạng như: Trần Thị An với bài Sức ám ảnh của tín ngưỡng dân
gian trong tiểu thuyết Mẫu Thượng Ngàn đăng trên Tạp chí Nghiên cứu văn
học, số 6/2007; Sức quyến rũ của Mẫu Thượng Ngàn của tác giả Vũ Hà; Mẫu
Thượng Ngàn - Nội lực văn chương của Nguyễn Xuân Khánh trong cuộc trao
đổi giữa Việt Báo với nhà nghiên cứu - phê bình văn học Phạm Xuân
Nguyên; Nguyễn Xuân Khánh tuổi 74 và cuốn tiểu thuyết mới của tác giả
Quỳnh Châu… Trong đó, đáng chú ý có một số bài nghiên cứu đề cập đến
trực tiếp đến thủ pháp nghệ thuật và nội dung của tác phẩm:
Tác giả Trần Thị An trong bài Sức ám ảnh của tín ngưỡng dân gian
trong tiểu thuyết Mẫu Thượng Ngàn đăng trên Tạp chí Nghiên cứu văn học,
số 6/2007 đã đặt không gian của cuốn tiểu thuyết trong bối cảnh văn hoá dân
gian Việt Nam và nghiên cứu tiểu thuyết Mẫu Thượng Ngàn trong mối liên
hệ với thực tế các phong tục tập quán truyền thống xưa của dân tộc Việt.
Qua đó, bước đầu nhìn nhận quan điểm của nhà văn về tín ngưỡng của
người Việt.
Trong Sức quyến rũ của Mẫu Thượng Ngàn, Vũ Hà đã nhận xét một
cách khái quát về tiểu thuyết Mẫu Thượng Ngàn: “Là cuốn tiểu thuyết về
văn hóa phong tục Việt Nam được thể hiện qua cuộc sống và những người
dân ở một làng quê bán sơn địa Bắc Bộ cuối thế kỉ 19 đầu thế kỉ 20” và
“Mẫu Thượng Ngàn cũng là cuốn tiểu thuyết lịch sử xã hội về Hà Nội cuối
thế kỉ 19”.
Đối với Đội gạo lên chùa là một tác phẩm vừa mới trình làng khi ông
ở tuổi 80 cũng đã được đón nhận một cách nồng nhiệt nhất của độc giả.
Như bài viết Chuyện chưa kể về nhà văn “Đội gạo lên chùa” của Cúc


11
Phương trên truyền hình số VTC đã cho thấy sức lao động của nhà văn

văn thạc sĩ Thế giới nghệ thuật trong tiểu thuyết Hồ Quý Ly và Mẫu
Thượng Ngàn đã chỉ ra sự đa dạng và phong phú trong việc xây dựng thế
giới nhân vật với một số lượng đồ sộ, nhiều kiểu loại. Đặc điểm đổi mới
của Nguyễn Xuân Khánh trong tái hiện không gian và thời gian là kết hợp,
lồng ghép nhiều chiều, nhiều kiểu không gian thời gian vào nhau và giọng
điệu, kết cấu, nghệ thuật trần thuật trong Hồ Quý Ly và Mẫu Thượng Ngàn
cũng là những điểm nổi bật và đặc sắc. Tác giả Đào Thị Lý (2010) với
Luận văn thạc sĩ Nhân vật trong tiểu thuyết của Nguyễn Xuân Khánh qua
hai tác phẩm Hồ Quý Ly và Mẫu Thượng Ngàn đã khẳng định cách nhìn
mới về quá khứ dân tộc, trong đó nhân vật là những người đã được nhà văn
dành cho những tình cảm hết sức đặc biệt. Theo tác giả, Nguyễn Xuân
Khánh đề cao vai trò của người phụ nữ vì chính những đức tính, phẩm chất,
sức sống cũng như tình yêu của họ đã lý giải ngọn nguồn sức sống của tâm
hồn, văn hóa Việt Nam.
Điểm lại các công trình nghiên cứu, chúng tôi thấy đến nay đã có rất
nhiều công trình nghiên cứu về tác phẩm của Nguyễn Xuân Khánh nhưng
chưa có công trình nào nghiên cứu từ góc độ ngôn ngữ, đặc biệt chưa có công
trình nào nghiên cứu về trường từ vựng trong ba tác phẩm của ông. Vì vậy,
chúng tôi chọn Trường từ vựng ngữ nghĩa về tôn giáo và chiến tranh trong
tiểu thuyết lịch sử của Nguyễn Xuân Khánh để làm đề tài nghiên cứu.
3. Đối tượng, phạm vi và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là Trường từ vựng về tôn giáo và
trường vựng về chiến tranh trong tiểu thuyết lịch sử Nguyễn Xuân Khánh.
Vì đặc trưng của từng tác phẩm và cũng do giới hạn của một luận văn nên
chúng tôi chỉ khảo sát hai trường từ vựng này trong hai cuốn tiểu thuyết của


13
Nguyễn Xuân Khánh là “Mẫu Thượng Ngàn” và “Đội gạo lên chùa”. Đây là

của luận văn gồm ba chương:
Chương 1: Những vấn đề chung liên quan đến đề tài
Chương 2: Trường từ vựng - ngữ nghĩa về tôn giáo trong tiểu
thuyết lịch sử của Nguyễn Xuân Khánh
Chương 3: Trường từ vựng - ngữ nghĩa về chiến tranh trong tiểu
thuyết lịch sử Nguyễn Xuân Khánh


15
NỘI DUNG
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
1.1. Từ và nghĩa của từ
1.1.1. Từ
1.1.1.1. Định nghĩa từ
Vấn đề từ rất phức tạp do vậy có rất nhiều định nghĩa về từ.
V. Brondal: “Từ bao giờ và ở đâu cũng phải là một yếu tố của
thông báo”.
K. Buhler: “Các từ là những kí hiệu âm thanh của một ngôn ngữ được
cấu tạo từ các âm vị và có thể tạo thành trường”.
W. Schmidt: “Từ không phải là tổng số có tính số học của vật chất âm
thanh và ý nghĩa mà là một chỉnh thể có tổ chức, một đơn vị kết cấu tính vật
chất âm thanh và ý nghĩa”.
E. Sapir: “Từ là một đoạn nhỏ nhất có ý nghĩa hoàn toàn độc lập và
bản thân có thể làm thành một câu tối giản”.
F.F. Fortunatov: “Từ là bất cứ âm nào của lời nói, trong ngôn ngữ từ
có một ý nghĩa khác với ý nghĩa của những âm cũng là từ khác”.
Những định nghĩa ở trên, mỗi định nghĩa đều đề cập đến một mặt của
từ và có những hạn chế nhất định. Định nghĩa của V. Brondal thiên về chức
năng giao tiếp của từ, của K. Buhler thiên về ngữ âm, định nghĩa của

Vốn từ của một ngôn ngữ được phân thành các lớp khác nhau dựa vào các
cơ sở phân loại khác nhau như về cấu tạo, về nguồn ngốc, về phạm vi sử dụng.
a. Các lớp từ xét về mặt cấu tạo
Xét về mặt cấu tạo, từ tiếng Việt được phân loại thành từ đơn, từ láy, từ
ghép. Sự phân loại này tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát hiện ra cơ chế
ngữ nghĩa thống nhất trong những từ cùng thuộc một kiểu loại.


17
- Từ đơn: là những từ do một hình vị tạo nên. Đặc điểm về mặt ngữ
pháp của chúng là có thể dùng độc lập (độc lập về vị trí và độc lập về ngữ
pháp). Từ đơn có hai loại là từ đơn nguyên gốc và từ đơn suy phỏng. Xét về
mặt ý nghĩa, các từ đơn đại bộ phận đều có ý nghĩa hết sức khái quát. “Không
kể các trường hợp đồng âm, tính khái quát của các từ đơn thể hiện ở hai
phương diện: thứ nhất, có ý nghĩa loại lớn (génerique), ngoại diên (extension)
của mỗi từ bao quát rất nhiều sự vật, hiện tượng thường thì đồng tính, nhưng
cũng có khi không đồng tính; thứ hai, ở khả năng tương ứng với một số cấu
trúc biểu niệm khác nhau, sự phức hóa sẽ có tác dụng cố định hóa từng cấu
trúc biểu niệm đó” [6; 359].
- Từ láy: Phương thức láy là phương thức tác động vào một hình vị rồi
tự thân có nghĩa (hoặc một đơn vị phức hợp có nghĩa) làm xuất hiện một hình
vị láy có hình thức ngữ âm giống hoặc gần giống với nó. Hình vị có nghĩa sẽ
được gọi là hình vị cơ sở. Phương thức láy có thể tạo ra hình thái của từ, biểu
thị các ý nghĩa tình thái và quan hệ ngữ pháp hoặc tạo ra từ mới, tức là tạo ra
những từ có cấu trúc nghĩa mới, khác so với cấu trúc của đơn vị cơ sở.
Phân loại từ láy dựa vào mức độ láy ta có từ láy hoàn toàn và láy bộ
phận, dựa vào số lần láy ta có từ láy đôi, láy ba, láy tư.
- Từ ghép: Phương thức ghép tác động cùng một lúc vào hai vị trí rồi tự
thân có nghĩa, kết hợp chúng với nhau, sản sinh ra một từ mới. Sự tác động
này được tiến hành theo một số quy tắc sau.


b

=

AB

áo

+

quần

=

áo quần

đồ mặc che phần trên

đồ mặc che phần dưới

trang phục - đồ mặc

Sự tổ chức này được tiến hành theo nguyên tắc: Bước một là tổ hợp
ngữ nghĩa, đó là hợp nhất nét đồng nhất lược bỏ nét dị biệt trong cơ cấu nghĩa
của các thành tố. Bước hai chuyển di ngữ nghĩa theo hướng biểu trưng hóa,
khái quát hóa.
b. Các lớp từ xét về nguồn gốc
- Từ thuần Việt: là bộ phận từ vựng gốc của tiếng Việt. Chúng biểu thị
những sự vật hiện tượng cơ bản nhất, tồn tại từ rất lâu đời.

trong hệ thống những sự đối lập của từ này với các từ khác cùng thuộc
trường ấy”.


20
Trên đây là một số định nghĩa về nghĩa của từ. Nhìn vào những định
nghĩa đó ta thấy hiện lên những vấn đề chính sau: định nghĩa của
A.A. Reformatskiy nhấn mạnh vai trò của sự vật, hiện tượng trong việc quyết
định nghĩa của từ, bởi ngôn ngữ không phải là “một bảng tên gọi, nghĩa là
một cái bảng có bao nhiêu từ ngữ thì tương ứng với bấy nhiêu sự vật” (F.de
Saussure). Định nghĩa của Ju.D.Aprecjan lại gạt đi sự vật ra khỏi lĩnh vực ý
nghĩa của từ.
Từ hiện thực của các định nghĩa về từ, Ogden và Richard đã đi tới mối
quan hệ giữa ba nhân tố: sự vật, khái niệm về sự vật và từ trong sự hình thành
nên ý nghĩa. Tiếp nhận quan điểm đó, Stern đã vẽ ra tam giác nghĩa nổi tiếng,
cho đến nay nó vẫn được nhắc lại khi thảo luận về ý nghĩa của từ, dưới đây là
tam giác nghĩa đó đã được Ju.X.Xtepanov dẫn lại:

Hình 1.1

Hình 1.2

Từ tam giác nghĩa này, có nhiều tác giả cho rằng ý nghĩa của từ được
tạo thành từ ba nhân tố giống quan niệm của Ogden, Richard và Stern. Tuy
nhiên, sau đó nhiều thiếu sót của tam giác nghĩa này đã bị chỉ ra. Cụ thể là ba
nhân tố nghĩa tác giả đưa vào chưa thực sự cụ thể và đúng trong mọi trường


21
hợp. Như ở nhân tố từ ngữ âm, chỉ đưa mỗi nemyx, trong khi ở một số ngôn

thành ý nghĩa phong cách, liên hội, mối quan hệ với chức năng hình thành giá
trị chức năng, mối quan hệ với cấu trúc (với từ khác) sẽ tạo thành ý nghĩa cấu
trúc, và từ quan hệ giữa ý nghĩa với các thành phần hình thức mà hình thành
các ý nghĩa cấu tạo từ, các ý nghĩa ngữ pháp.
Như vậy, có thể hiểu về ý nghĩa của từ như sau: Nghĩa của từ là nội
dung tinh thần mà từ biểu hiện, nó được hình thành do sự kết hợp và tác động
của nhiều nhân tố. Trong số đó có những nhân tố nằm ngoài ngôn ngữ và
những nhân tố nằm trong ngôn ngữ. Nhân tố ngoài ngôn ngữ như: sự vật, hiện


23
tượng trong thực tế khách quan, tư duy và người sử dụng. Nhân tố trong ngôn
ngữ như: chức năng tín hiệu học, hệ thống (cấu trúc) của ngôn ngữ.
1.1.2.2. Các thành phần ý nghĩa của từ
a. Ý nghĩa biểu vật
Những sự vật, quá trình, tính chất hoặc trạng thái mà từ biểu thị được
gọi là ý nghĩa biểu vật của từ. Hay nói cách khác, ý nghĩa biểu vật của từ là
các ánh xạ của các sự vật, thuộc tính ngoài ngôn ngữ vào ngôn ngữ. Có một
điều cần chú ý là ánh xạ của các sự vật, hiện tượng trong thực tế khách quan
được phản ánh vào ngôn ngữ không hoàn toàn đồng nhất với các ánh xạ được
phản ánh trong tự nhiên.Ánh xạ trong ngôn ngữ có sự cải tạo lại, sáng tạo
những cái có trong thực tế theo cách nhận thức của từng dân tộc. Ta có thể
chứng minh điều này dựa vào phạm vi biểu vật của các thực từ trong một
ngôn ngữ cụ thể và dựa vào việc so sánh, đối chiếu phạm vi biểu vật giữa các
ngôn ngữ.
- Biểu hiện thứ nhất của sự không trùng nhau đó là: trong thực tế, sự
vật luôn luôn tồn tại trong dạng cá thể và cụ thể, còn ý nghĩa biểu vật trong
ngôn ngữ lại mang tính đồng loạt, khái quát...
- Biểu hiện thứ hai của sự không trùng nhau đó là sự chia cắt hiện thực
khách quan khác nhau về nghĩa biểu vật của các ngôn ngữ.

nghĩa có những quan hệ nhất định. Tập hợp này ứng với một số ý nghĩa biểu
vật của từ. Chính vì ý nghĩa biểu niệm của từ là một tập hợp có tổ chức, có
quan hệ, cho nên còn có thể gọi nó là cấu trúc biểu niệm.
Phân biệt ý nghĩa biểu niệm và khái niệm: Có thể chỉ ra sự khác nhau
giữa ý nghĩa biểu niệm như sau:
- Khái niệm là sản phẩm của tư duy, do đó chung cho mọi dân tộc còn ý
nghĩa của từ là riêng cho từng ngôn ngữ. Chính vì vậy, có những ý nghĩa biểu
niệm chỉ có trong ngôn ngữ này mà không có trong ngôn ngữ kia. Ví dụ, ý


25
nghĩa của các từ ghép đẳng lập phi cá thể (chợ búa, con cái, gà qué,...) hay ý
nghĩa của các từ ghép chính phụ sắc thái hóa (xanh lè, đỏ au,...) có trong tiếng
Việt mà không có trong tiếng Nga, tiếng Pháp.
- Khái niệm có chức năng nhận thức nên tiêu chuẩn đánh giá nó là
tính chân lí, chính vì vậy cho nên những dấu hiệu trong khái niệm là những
dấu hiệu phản ánh các thuộc tính bản chất của sự vật, hiện tượng trong thực
tế khách quan, đồng thời mỗi khái niệm chỉ ứng với một và chỉ một loại sự
vật, hiện tượng trong thực tế mà thôi. Còn ngôn ngữ có chức năng giao tiếp
và tư duy nên tiêu chuẩn đánh giá nó là sự phù hợp hay không phù với hệ
thống ngôn ngữ của từng dân tộc. Nghĩa biểu niệm chỉ tiếp nhận những nét
nghĩa nào cần thiết để lập nên cấu trúc nghĩa của từ trong mối quan hệ với
toàn bộ từ vựng, do đó nó chấp nhận cả hiện tượng nhiều nghĩa, đồng nghĩa.
Ví dụ, cắt trong hệ thống từ vựng tiếng Việt có quan hệ chặt chẽ với các từ
chặt, chém, cưa, thái, hái, xẻ,...; đồng thời cắt không những chỉ có thể diễn
đạt được những hoạt động có tính chất vật lí mà còn có thể diễn đạt được
những hoạt động xã hội mang tính chất trừu tượng (trong cắt hộ khẩu, cắt
quan hệ,...).
Song những điều vừa nói chỉ đúng với ý nghĩa biểu niệm của những từ
thông thường. Trường hợp thuật ngữ khoa học và kĩ thuật, ý nghĩa biểu niệm


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status