TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
===***===
LÊ THỊ LÀ
KHẢO SÁT TRƯỜNG NGHĨA
CHIẾN TRANH TRONG TIỂU THUYẾT
“NỖI BUỒN CHIẾN TRANH”
CỦA BẢO NINH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Ngôn ngữ
HÀ NỘI - 2013
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
===***===
LÊ THỊ LÀ
KHẢO SÁT TRƯỜNG NGHĨA
CHIẾN TRANH TRONG TIỂU THUYẾT
“NỖI BUỒN CHIẾN TRANH”
CỦA BẢO NINH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Ngôn ngữ
Người hướng dẫn khoa học
quả nghiên cứu của các tác giả khác. Nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu trách
nhiệm.
Hà Nội, tháng 05 năm 2013
Sinh viên
Lê Thị Là
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ....................................................................................................... 5
1. Lí do chọn đề tài ..................................................................................... 5
2. Lịch sử vấn đề ....................................................................................... 6
3. Mục đích nghiên cứu ............................................................................. 6
4. Nhiệm vụ nghiên cứu ............................................................................ 6
5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu .......................................................... 7
6. Phương pháp nghiên cứu ....................................................................... 7
7. Đóng góp của khóa luận ........................................................................ 7
8. Cấu trúc của khóa luận .......................................................................... 8
NỘI DUNG .................................................................................................... 9
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN .................................................................... 9
1.1. Những vấn đề chung về trường nghĩa .................................................. 9
1.1.1. Khái niệm ..................................................................................... 9
1.1.2. Phân loại ...................................................................................... 9
1.2. Mối quan hệ giữa trường nghĩa và ngôn ngữ văn chương .................. 14
1.2.1. Trường biểu vật và ngôn ngữ văn chương................................... 14
1.2.2. Trường biểu niệm và ngôn ngữ văn chương ................................ 15
1.2.3. Trường nghĩa ngang và ngôn ngữ văn chương ........................... 16
1.2.4. Trường liên tưởng và ngôn ngữ văn chương ............................... 16
CHƯƠNG 2: HIỆU QUẢ NGHỆ THUẬT CỦA VIỆC SỬ DỤNG CÁC
các hiện tượng ngôn ngữ bất thường.
Mỗi một tác phẩm văn học là một chỉnh thể phong phú về nội dung và đa
dạng về từ ngữ. Câu chữ trong tác phẩm văn chương không đơn thuần thực
hiện những chức năng riêng biệt mà luôn luôn có mối quan hệ mật thiết với
nhau. Giá trị của tác phẩm văn chương một phần lớn được thể hiện qua hệ
thống ngôn từ mà người nghệ sĩ sử dụng.
Tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh là câu chuyện của thân
phận, của mất mát, của tình yêu và chiến tranh. Nó đã “chạm vào mẫu số
chung của nhân loại” (Nguyễn Quang Thiều) và được bạn đọc đón nhận, chia
sẻ. Trôi dạt giữa thời gian và không gian, chuyển dịch nhuần nhuyễn giữa
những kí ức của những ngày tháng trước chiến tranh với những mô tả về các
trận đánh, cuốn tiểu thuyết mang trong mình sự bình yên và nỗi đau buồn,
chất thơ của văn học lãng mạn, sự sâu sắc của văn học hiện thực. Năm 2011
tiểu thuyết được bình chọn là sách hay nhất của Hội Nhà văn Việt Nam.
Một trong những thành công của Bảo Ninh trong “Nỗi buồn chiến tranh”
là việc sử dụng một cách tinh tế và sáng tạo hệ thống ngôn từ về cuộc chiến.
Lê Thị Là
5
Lớp K35C - Ngữ Văn
Với ý nghĩa này, chúng tôi lựa chọn đề tài nghiên cứu: Khảo sát trường
nghĩa chiến tranh trong tiểu thuyết “Nỗi buồn chiến tranh” của Bảo Ninh
để hướng tới làm rõ giá trị của những trường nghĩa này đối với nội dung tác
phẩm cũng như sự đổi mới về bút pháp của người nghệ sĩ thời hậu chiến.
2. Lịch sử vấn đề
Trường nghĩa là vấn đề thu hút sự quan tâm của các nhà Việt ngữ học
5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
5.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài này là các trường nghĩa về chiến tranh
trong tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh như trường nghĩa chỉ sự
vật trong chiến tranh, trường nghĩa chỉ tên người trong chiến tranh, trường
nghĩa chỉ các hoạt động của con người trong chiến tranh và trường nghĩa chỉ
các trạng thái tâm lí của con người.
5.2. Phạm vi nghiên cứu
Tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh.
6. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp thống kê: thống kê những từ ngữ chỉ các sự vật, hoạt
động, các từ chỉ tên người, trạng thái tâm lí của con người trong chiến tranh.
- Phương pháp so sánh, đối chiếu: phương pháp này xem xét tần số xuất
hiện giữa các trường nghĩa cụ thể cũng như những từ ngữ trong các trường
nghĩa đó.
- Phương pháp phân tích: phương pháp này dùng để phân tích đặc điểm
của các trường nghĩa về chiến tranh, từ đó rút ra được tính hệ thống ngữ nghĩa
trong trường nghĩa và giá trị của tác phẩm.
Quá trình tiến hành:
Bước 1: Nghiên cứu lí luận để nắm chắc những vấn đề về trường nghĩa
như khái niệm, phân loại, đặc điểm, hiện tượng chuyển trường nghĩa…
Bước 2: Tiến hành thu thập, thống kê tư liệu nghiên cứu. Đây là những
từ ngữ thuộc trường nghĩa về chiến tranh trong tiểu thuyết “Nỗi buồn chiến
tranh” của Bảo Ninh.
Bước 3: Viết khóa luận.
7. Đóng góp của khóa luận
- Về mặt lí luận: khóa luận góp phần làm rõ lý thuyết về trường nghĩa.
hướng chủ yếu sau:
-
Trường nghĩa là toàn bộ các khái niệm mà các từ trong ngôn ngữ
biểu thị.
-
Trường nghĩa không phải là phạm vi các khái niệm nào đó nữa mà là
phạm vi của tất cả các từ có quan hệ lẫn nhau về nghĩa.
Kiểu trường nghĩa phổ biến nhất là nhóm từ vựng - ngữ nghĩa. Đỗ Hữu
Châu là người đã nghiên cứu nhiều về vấn đề trường nghĩa. Theo ông: những
quan hệ về ngữ nghĩa giữa các từ sẽ hiện ra khi đạt được các từ nói chung (nói
cho đúng là ý nghĩa của nó) vào những hệ thống con thích hợp. Trong Từ
vựng - ngữ nghĩa tiếng Việt, Đỗ Hữu Châu cho rằng: Mỗi tiểu hệ thống ngữ
nghĩa được gọi là một trường nghĩa. Đó là những từ thống nhất với nhau về
ngữ nghĩa.
Như vậy, tìm ra một khái niệm trường nghĩa trọn vẹn và đầy đủ vẫn đang
là một vấn đề được đặt ra. Nhưng để phục vụ cho nghiên cứu, hiện nay các
nhà ngôn ngữ thống nhất khái niệm trường nghĩa như sau: Trường nghĩa là
tập hợp các từ có sự đồng nhất nào đấy về ý nghĩa - Sách giáo khoa tiếng Việt
10 (sách chỉnh lý hợp nhất năm 2000, NXB Giáo dục).
1.1.2. Phân loại
F.de.Saussure trong giáo trình Ngôn ngữ học đại cương đã chỉ ra hai
dạng quan hệ: quan hệ ngang (quan hệ hình tuyến, quan hệ tuyến tính, quan
hệ ngữ đoạn) và quan hệ dọc (quan hệ trực tuyến, quan hệ hệ hình).
Lê Thị Là
trống, có những miền có mật độ cao. Điều này khẳng định tính dân tộc và tính
ngôn ngữ của các trường biểu vật.
Lê Thị Là
10
Lớp K35C - Ngữ Văn
Khi phân lập các trường, chúng ta chú ý tới nghĩa biểu vật chứ không chú
ý đến từ. Phân lập các trường không phải là phân loại từ. Một từ có thể có
nhiều trường. Do đó ta chỉ có thể đánh giá từ: chỉ số đó là số lượng các trường
mà từ đó có thể đi vào như một thành viên. Các từ có chỉ số trường biểu vật
thấp là những từ bị quy định về biểu vật rất mạnh, trái lại những từ càng đi vào
nhiều trường thì tính bị quy định về biểu vật càng yếu, ý nghĩa càng khái quát.
Các trường biểu vật có thể “thẩm thấu, giao thoa” vào nhau. Hai trường
biểu vật giao thoa với nhau khi một số từ của trường này cũng nằm trong
trường kia. Đó là tính độc lập tương đối giữa hai trường.
Trong trường, quan hệ của các từ ngữ với một trường biểu vật không
giống nhau… Có những từ gắn rất chặt với trường (từ ngữ điển hình), có
những từ ngữ gắn bó lỏng lẻo hơn. Như vậy trường biểu vật có cái “lõi” trung
tâm quy định những đặc trưng ngữ nghĩa của trường gồm những từ điển hình
cho nó. Các lớp từ khác liên hệ với trường mờ nhạt dần.
1.1.2.1.2. Trường nghĩa biểu niệm (trường biểu niệm)
Căn cứ để phân lập các trường biểu niệm là các ý nghĩa biểu niệm của
từ. Một trường biểu niệm là một tập hợp các từ có chung cấu trúc biểu niệm.
Ví dụ: cấu trúc biểu niệm (hoạt động), (di chuyển dời chỗ): đi, chạy,
nhảy, bơi, lội, lăn, lê, bò, toài, trườn, ra, vào, lên, xuống…
Cũng như các trường biểu vật, các trường biểu niệm lớn có thể đi vào
tất cả những từ có thể kết hợp nó thành chuỗi tuyến tính (cụm từ, câu) chấp
nhận được trong ngôn ngữ.
Ví dụ: Trường nghĩa ngang của từ “tay” là búp măng, mềm, ấm, lạnh,
dẻo, dùi đục, chuối mắn, nắm, cầm, chặt, bóc, xẻ…
Các từ trong một trường tuyến tính là những từ thường xuất hiện với từ
trung tâm trong các loại văn bản. Phân tích ý nghĩa của chúng, chúng ta có thể
phát hiện được những nội dung ngữ nghĩa của các quan hệ cú pháp và tính
chất của các quan hệ đó.
Cùng với các trường nghĩa dọc, các trường tuyến tính góp phần làm sáng
tỏ những quan hệ và cấu trúc ngữ nghĩa của từ vựng, phát hiện những đặc
điểm nội tại và những đặc điểm hoạt động của từ.
Lê Thị Là
12
Lớp K35C - Ngữ Văn
1.1.2.3. Trường nghĩa liên tưởng (trường liên tưởng)
Từ không chỉ là một thực thể cấu trúc, một sự kiện của hệ thống ngôn
ngữ mà còn là một thực thể xã hội và cá nhân sống động. Các ý nghĩa liên hội
sẽ đắp “máu thịt” cho cái “lõi” biểu niệm, giảm bớt một phần nào đó tính khái
quát của ý nghĩa biểu vật của từ và đưa vào đó một tâm hồn.
Các từ trong một trường liên tưởng là sự hiện thực hóa, sự cố định bằng
từ các ý nghĩa liên hội có thể có của từ trung tâm. Các từ nằm trong một
trường liên tưởng trước hết là những từ cùng nằm trong trường biểu vật,
trường biểu niệm và trường tuyến tính tức là những từ có cấu trúc quan hệ
đồng nhất và đối lập về ngữ nghĩa với từ trung tâm.
Ví dụ: Từ con bò có thể gợi ra những từ liên tưởng sau: sự cày bừa, cái
trường biểu vật khác tạo nên hiện tượng được gọi là cộng hưởng ngữ nghĩa.
Ví dụ: từ lửa chuyển sang trường tình cảm, trạng thái tâm lý thì kéo theo
các từ hừng hực, rực, bốc, nhen nhóm, đốt, tàn… cùng chuyển sang trường đó
(nhen nhóm một tình yêu).
Trong văn chương, các từ ngữ trong một câu văn, một đoạn văn thường
kéo theo nhau theo cùng một trường để tạo ra sự phù hợp về trường nghĩa
biểu vật. Có thể nói tới hình ảnh chủ đạo (tức ẩn dụ, hoán dụ) của đoạn văn,
câu văn (hay của một tác phẩm), hình ảnh chủ đạo thuộc trường biểu vật nào
thì kéo theo các từ khác cùng trường với nó:
Không đâu, gió nén từ tám hướng đang bung ra. Một cơn bão đang đến.
Lao vào Nam Lào, con thuyền Việt Nam hóa chiến tranh của Nich Xơn đã lao
vào trung tâm một cơn bão lớn. Bão nổi ở Cha Kia, La Tương… Bão quật
sang đỉnh cao 500 xoáy vụn tiểu đoàn 39… Bão dập xuống đồi 456 xẻ nát tiểu
đoàn 3 và cuốn sạch chỉ huy lữ đoàn 4… Bão xoáy lốc trên ngọn 550 vùi luôn
tất cả những khẩu pháo hạng nặng cùng với lữ đoàn số 147… Bão dồn gió
thép về bản Đông.
(Báo Quân Đội nhân dân, ngày 9-4-1971)
Hình ảnh chủ đạo là bão táp kéo theo các từ gió, nén, hướng trung tâm,
nổi, quật, dồn, cuốn, lốc….
Hình ảnh chủ đạo có khi được nói rõ ra, có khi được hiểu ngầm qua các
từ cùng trường trong đoạn văn.
Lê Thị Là
14
Lớp K35C - Ngữ Văn
Mặt khác, với văn chương, sáng tạo trong hình ảnh ngôn ngữ thường là
Lớp K35C - Ngữ Văn
nghĩa “cường độ mạnh”: bão, nén, nổi, lao, quật, … cả đến đối tượng tức nạn
nhân của cơn bão và của các vận động mạnh mẽ, cũng là những sự vật to
khỏe: tiểu đoàn, lữ đoàn, … những khẩu pháo hạng nặng… Việc sử dụng
những tập hợp từ ngữ như trên đã tạo ra hình ảnh về quân sự với những “sức
mạnh” của một “cơn bão lớn”.
Sự cộng hưởng về ngữ nghĩa không chỉ xảy ra đối với các từ ngữ mà nó
còn có thể chi phối cấu trúc cú pháp, cả ngữ âm, tiết tấu, … Do đó, người viết
thường phối hợp tất cả các yếu tố, các phương tiện ngôn ngữ để tạo ra sự toàn
bích về hình thức cho tác phẩm của mình.
1.2.3. Trường nghĩa ngang và ngôn ngữ văn chương
Trong ngôn ngữ văn chương, có những trường nghĩa ngang vượt ngoài
chuẩn mực. Đây là những sáng tạo của các nhà văn, nhà thơ trong cách dùng
từ ngữ. Những kết hợp bất thường này có thể được chấp nhận rộng rãi, trở
thành những kết hợp bình thường. Suối, bờ, … trong ngôn ngữ thơ có thể kết
hợp với tóc thành suối tóc với vai thành bờ vai. Chúng chưa thành thành tố
của trường nghĩa ngang của hai từ tóc và vai trong khi mây đã đi vào trường
nghĩa ngang bình thường của tóc: tóc mây.
1.2.4. Trường liên tưởng và ngôn ngữ văn chương
Trường liên tưởng có hiệu lực lớn, giải thích sự dùng từ, nhất là sự dùng
từ trong các tác phẩm văn học, giải thích những hiện tượng sáo ngữ, sự ưa
thích lựa chọn những từ nào đấy để nói hay viết, sự né tránh hoặc kiêng kị
những từ nhất định.
Không nói đến những sự sai biệt về chủ đề, về tư tưởng, về các chi tiết
thực tế, về hình tượng… Chỉ riêng diện mạo ngôn ngữ cũng đủ làm chúng ta
không lẫn được một tác phẩm văn học của thời đại này với tác phẩm văn học
của thời đại khác. Một tác giả đã từng sáng tác có hiệu quả trong thời kỳ trước
TRƯỜNG TỪ NGỮ TRONG TIỂU THUYẾT “NỖI BUỒN CHIẾN
TRANH” CỦA BẢO NINH
2.1. Tình hình khảo sát
Khảo sát những từ ngữ thuộc các trường nghĩa trong tiểu thuyết “Nỗi
buồn chiến tranh” của Bảo Ninh, chúng tôi nhận thấy có 4 trường nghĩa lớn:
-
Trường nghĩa chỉ tên người trong chiến tranh
-
Trường nghĩa chỉ sự vật trong chiến tranh
-
Trường nghĩa chỉ hoạt động của con người trong chiến tranh
-
Trường nghĩa chỉ tâm lí của con người trong chiến tranh
Sự xuất hiện của các từ ngữ thuộc các trường nghĩa trong tiểu thuyết
được thể hiện ở bảng dưới đây:
Tên
Từ ngữ và tần số xuất hiện
trường
Câu văn ví dụ
đội viên, tù binh, quân chủ lực, trung
úy (2 lần), trung tướng, binh nhì, tên - Tiểu đội trưởng gào to,
ngụy (2 lần), người lái xe (2 lần), như điên, mặt tái lại…
quân tỉnh đội, quân cơ động, giao liên
(6 lần), tử sĩ (4 lần), tân binh (2 lần),
đồng chí (2 lần), đại úy, thanh niên
xung phong, binh nghiệp (2 lần), phế
- Cái tiểu đoàn bất hạnh mà
anh là một trong mươi
người còn được sống.
binh, chiến sĩ, tử thi (2 lần), đội
trưởng, liên đoàn, đại đội (4 lần),
tiểu đội trưởng (2 lần), vệ binh
(2 lần), binh sĩ, bộ binh (2 lần),
trưởng xe, bộ binh, thủ trưởng, chiến
binh,…
Rừng (73 lần), núi (19 lần), xe (9 lần), - Thân xác ra tro tàn nên
Sự vật
đồi (5 lần), cabin, võng (21 lần), hài chẳng cần huyệt mộ.
cốt (10 lần), đạn (33 lần), trực thăng
(4 lần), đại liên (4 lần), trảng (9 lần),
truông (11 lần), xác (21 lần), tiểu liên - Trong lán của các tiểu đội
(11 lần), suối (32 lần), pháo (17 lần), đều có bàn thờ cúng tế vong
mũ cối, lán (17 lần), mồ (8 lần), tàu linh đồng đội.
thuốc, lương khô (6 lần), thuốc lào,
hố (11 lần), xe tăng (3 lần), huyệt - Trong đêm đại bác thúc
động
hành quân (14 lần), thả neo, thu
của
quân, chỉnh huấn, săn, đặt bẫy, sát - Tiểu đoàn lại tụ họp trên
phạt, đào ngũ (5 lần), công phá, trảng như là để điểm danh.
người
phòng thủ ( 2 lần), khởi động, xung
phong, tiến lên, xuất kích, liệng, - Trung đoàn đã cho rưới
chạy, thiêu, khám phá, sum họp, ra xăng rồi phóng hỏa đốt sạch
lệnh (2 lần), săn lùng, đào (7 lần), rút làng đó.
lui, phản công, náu, trốn (3 lần),
Lê Thị Là
20
Lớp K35C - Ngữ Văn
nhập ngũ (3 lần), tản khai, nhào, núp
(3 lần), nã (8 lần), nổ (10 lần), ngắm, - Bọn Kiên đã chôn cất, đắp
xiết, chiến đấu (11 lần), triệu tập, lủi, điếm tử tế mồ mả cho người
tóm (2 lần), tút (2 lần), ém, tự sát ấy.
(2 lần), sát (2 lần), truy đuổi, truy
lùng, đào tẩu, truy điệu, sản xuất, - Địch quân đang khởi động,
Lê Thị Là
21
Lớp K35C - Ngữ Văn
uể oải (2 lần), bấn loạn, nhục nhã cô đơn, trơ trọi.
(2 lần), buồn đau (2 lần), mệt nhọc, - Như bị roi quật vào lòng,
bải hoải, buồn (3 lần), run rẩy đau đớn và mê loạn…
(5 lần), rung động, bàng hoàng
- Chợt sững sờ, sửng sốt,
(4 lần), tái ngoét, hoang mang, anh cứng người lại…
(2 lần), điên tiết, đau đớn, đau khổ,
hạnh phúc, sợ hãi, bất lực (3 lần), - … run lên vì lạnh, vì khiếp
tuyệt vọng (4 lần), hồi hộp, hưng đảm, vì tê dại trong lòng
phấn, ngờ vực, hi vọng, u buồn, một niềm thương thân não
dửng dưng, ơ hờ, khiếp đảm, bấn nùng…
loạn, giật mình (2 lần), xiêu lạc, lú
lẫn, mê mẩn, chếnh choáng, cô - Mặt mày ai nấy như lên
quạnh, âu sầu, xúc động, kinh sợ, xót rêu, ủ dột, yếm thế…
thương, luống cuống, hờ hững, cô
đơn, trơ trọi, ghen tị, mê loạn, chới
với, sững sờ, sửng sốt (2 lần), thờ ơ
- Sống ở đây có thể điên lên
hoặc chết rũ vì khiếp sợ.
Mỗi tác phẩm văn chương là một sản phẩm nghệ thuật bằng ngôn từ do
người nghệ sĩ sáng tạo ra. Ngôn ngữ đã giúp người nghệ sĩ đưa cuộc sống vào
trong tác phẩm của mình và người đọc, khi đến với tác phẩm văn chương,
trước hết, bao giờ cũng đến với thế giới ngôn ngữ. Qua ngôn ngữ, người đọc
không chỉ nhận thức được hiện thực mà còn nắm bắt được cả những ý tưởng
sâu xa của tác giả.
Ngôn ngữ chiếm một vị trí đặc biệt quan trọng trong sáng tác văn học.
Bởi nó vừa là tiếng nói chân thực, giàu có của đời sống hiện thực, vừa là tiếng
nói của trái tim đang xúc động. Đọc các truyện của Bảo Ninh thoạt nghe
“tưởng như vô cảm, nhưng chứa đựng trong đó là giọng văn tưng tửng, thâm
thúy và rất có duyên. Bàng bạc trong tiểu thuyết và truyện của Bảo Ninh là
nỗi buồn mang ý nghĩa sâu sắc về khoảng cách thế hệ, về vấn đề cha con…
Điều đó chứng tỏ ông vẫn thấy được vẻ đẹp thời đã qua và lưu luyến với nó”.
Nỗi buồn chiến tranh là hành trình đau đớn của một số phận dị kỳ tìm lại
quá khứ của mình. Suốt dọc hành trình sống của Kiên, số phận giống như một
Lê Thị Là
23
Lớp K35C - Ngữ Văn