Từ láy trong tiểu thuyết nỗi buồn chiến tranh của bảo ninh - Pdf 29


TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
****************************************
Vò THÞ HOµI
VŨ THỊ HOÀI

TỪ LÁY TRONG TIỂU THUYẾT
NỖI BUỒN CHIẾN TRANH
CỦA BẢO NINH

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Ngôn ngữ học

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học

Th.S LÊ THỊ THÙY VINH

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan khóa luận được hoàn thành là kết quả nghiên cứu của
riêng tôi dưới sự giúp đỡ của Th.S Lê Thị Thùy Vinh.
Khóa luận chưa từng được công bố trong bất kì công trình nghiên cứu
nào khác.
Hà Nội, tháng 05 năm 2014
Tác giả Vũ Thị Hoài

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1
1. Lí do chọn đề tài 1

TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC

1

MỞ ĐẦU

1. Lí do chọn đề tài
1.1. Láy là một phương thức tạo từ đặc sắc của tiếng Việt. Từ láy là sự
hòa phối ngữ âm giữa các yếu tố của các âm tiết và có tác dụng biểu trưng
hóa. Vì thế nội dung ngữ nghĩa chứa đựng trong mỗi từ láy có những đặc
điểm rất riêng. Mỗi từ láy chứa đựng trong mình một sự thể hiện rất tinh tế và
sinh động về sự cảm thụ chủ quan, về cách đánh giá và thái độ của người nói
trước sự vật và hiện tượng của đời sống xã hội. Cho nên về phương diện sử
dụng, từ láy là phương tiện tạo hình đắc lực của văn học nghệ thuật.

công trình nghiên cứu khá công phu về hiện tượng từ láy trong tiếng Việt. Tác
giả coi láy là một hiện tượng ngôn ngữ phức tạp và đa dạng. Láy là một cơ
chế hòa phối ngữ âm, cơ chế “đối” và “điệp”. Từ việc coi láy là một cơ chế,
tác giả tiếp tục tìm hiểu về các kiểu cấu tạo từ láy, các kiểu cơ cấu nghĩa của
từ láy và sau đó rút ra giá trị sử dụng của từ láy.
- Từ láy được hình thành do phương thức láy tác động vào hình vị cơ
sở vì thế khi xem xét ý nghĩa của các từ láy cần phải đối chiếu ý nghĩa của nó
với hình vị cơ sở.
- Từ láy bao gồm nhiều kiểu loại nhỏ khác nhau. Theo cấu tạo, từ láy
có thể phân chia thành từ láy hoàn toàn, từ láy phụ âm đầu, từ láy vần.
- Từ láy là một trong năm lớp từ giàu màu sắc biểu cảm mà giá trị của
chúng dựa trên sự đối lập với những từ đồng nghĩa hoặc tương đồng về nghĩa.
2.2. Từ láy trong văn chương là một phương tiện tạo hình hữu hiệu. Có
lẽ vì thế các nhà thơ, nhà văn thường ưa dùng loại từ này để thể hiện cảm thụ
và cách đánh giá của mình. Đã có nhiều công trình nghiên cứu về từ láy trong
tác phẩm văn chương như “Giá trị nghệ thuật và các phương thức sử dụng
3

hiện tượng láy trong thơ ca Việt Nam” (Luận án Tiến sĩ Ngữ văn của Nguyễn
Thị Thanh Hà, 2002), “Giá trị sử dụng của từ láy trong thơ Xuân Diệu”
(Khóa luận tốt nghiệp Đại học của Trương Thị Thu Thảo, 2009)…
Trong khóa luận này, chúng tôi xem xét và tìm hiểu “Từ láy trong tiểu
thuyết Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh” nhằm đánh giá giá trị sử dụng
và biểu trưng của loại từ này, trên cơ sở đó góp phần khẳng định nội dung tư
tưởng của tác phẩm cũng như phong cách nhà văn.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Làm rõ bản chất của từ láy và giá trị sử dụng của từ láy trong tiểu
thuyết Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh. Trên cơ sở đó góp phần khẳng
định ý nghĩa tư tưởng của tác phẩm và phong cách Bảo Ninh. 5

NỘI DUNG
Chƣơng 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN
1.1. Khái niệm
Xoay quanh vấn đề từ láy tiếng Việt từ trước đến nay đã có rất nhiều
công trình nghiên cứu và đề cập đến. Mỗi công trình nghiên cứu lại nhìn nhận
từ láy ở phương diện khác nhau. Từ điển từ láy tiếng Việt coi láy là phương
thức tạo từ đặc sắc. Phong cách học tiếng Việt lại nhìn nhận từ láy từ phương
diện màu sắc biểu cảm… Trong khóa luận này, chúng tôi lựa chọn khái niệm
của Đỗ Hữu Châu làm cơ sở. Từ láy là những từ được cấu tạo theo phương
thức láy, đó là phương thức láy lại toàn bộ hay bộ phận hình thức âm tiết (với
thanh điệu giữ nguyên hoặc biến đổi theo quy tắc biến thanh tức là quy tắc
thanh điệu biến đổi theo hai nhóm gồm nhóm cao: thanh hỏi, thanh sắc,
thanh ngang và nhóm thấp: thanh huyền, thanh ngã, thanh nặng) của một
hình vị hay đơn vị có nghĩa.[1; 14]
1.2. Đặc điểm từ láy tiếng Việt
1.2.1. Đặc điểm về kiểu cấu tạo
Sau khi loại ra ngoài những từ có những âm tiết GS Phan Ngọc đã
chứng minh không phải là âm tiết láy, thì từ láy là những từ phức do phương
thức láy tác động vào một hình vị cơ sở (kí hiệu C) làm xuất hiện một hình vị
thứ sinh được gọi là hình vị láy (kí hiệu L). Hình vị láy có đặc điểm như sau:
Về hình thức ngữ âm, cũng là một âm tiết như hình vị cơ sở, có hình
thức ngữ âm và nghĩa giống toàn bộ hay bộ phận với hình vị cơ sở.
Hình vị láy có thể giống hình vị cơ sở về toàn bộ âm tiết, hoặc về phụ

cũng thế”
Thứ hai là nghĩa khái quát như nghĩa các từ: máy móc, mùa màng, da
dẻ… Nghĩa này gần giống với nghĩa các từ ghép đẳng lập chuyên loại như:
đường sá, chợ búa, bếp núc…
7

Các từ láy có nghĩa tổng hợp, khái quát thường có thêm sắc thái mỉa
mai, chê bai, đánh giá thấp. Tất cả các từ láy mà hình vị láy có vần /-iêc/, /-
ung/ đều có nghĩa như vậy: sách siếc, lớp liếc, trường triếc, học hiếc… báo
bung, tiệc tùng… Một số từ láy khác người ngợm, ngựa nghẽo… cũng có
nghĩa như vậy.
1.2.2.2. Nghĩa sắc thái hóa
Sắc thái hóa là làm thay đổi nghĩa của hình vị cơ sở bằng cách thêm
cho nó những sắc thái khác nhau. Các sắc thái thêm vào có thể là: trạng thái
hóa, nghĩa là chuyển một tính chất, một vận động thành một trạng thái diễn ra
trong một khoảng thời gian nhất định: xa → xa xôi, xịch → xục xịch…; kéo
dài, dàn trải tính chất, lặp đi lặp lại vận động trong một khoảng thời gian, ví
dụ: gật → gật gù, khểnh → khấp khểnh…; hạn chế về phạm vi sự vật, thí dụ
xấu là hình vị cơ sở được dùng với rất nhiều sự vật khác nhau, nhưng xấu xí
chỉ dùng cho cái xấu về hình thức, còn xấu xa chủ yếu nói về cái xấu theo tiêu
chuẩn đạo đức; xanh cũng có cách dùng rộng, nhưng xanh xao thường dùng
với nước da của người bệnh. Nghĩa sắc thái hóa có thể chỉ các ấn tượng cảm
tính: thính giác, xúc giác, vị giác, khứu giác, thị giác, vận động và các nghĩa
đánh giá xấu, tốt, mạnh, yếu, nặng, nhẹ mà từ láy mang lại cho nghĩa của hình
vị cơ sở.
Vì các từ láy sắc thái hóa có thêm các nét nghĩa như vừa nói cho nên
khi giảng nghĩa những từ này cần chỉ rõ các nét nghĩa đó ra. Thí dụ giảng
nghĩa từ phất phơ chúng ta dựa vào nghĩa của hình vị phất rồi nói thêm “đưa
qua đưa lại theo chiều dọc, nhẹ nhàng, mềm mại, gây ấn tượng đẹp, đáng
yêu…”.

Khuôn vần – ung của các hình vị láy điệp âm ở sau cũng biểu thị nghĩa
khái quát như ý nghĩa do khuôn vần –iêc biểu thị nhưng sắc thái coi thường,
khinh rẻ nhẹ hơn: báo bung, tiệc tùng, làm lụng, nhớ nhung, mịt mùng…
9

Khuôn vần –ăn của các hình vị láy điệp âm ở sau biểu thị nghĩa hợp với
mức độ được mọi người xem là chuẩn mực, không quá tốt cũng không thiên
về xấu: đầy đặn, thẳng thắn, ngay ngắn, vuông vắn, nhũn nhặn, nhọc nhằn,
nhiều nhặn…
Trên đây là một số khuôn vần của hình vị láy đã xác định được nghĩa.
Phương thức láy tiếng Việt sử dụng gần một trăm khuôn vần để tạo các hình
vị láy nên việc tìm ra nghĩa của mỗi khuôn vần còn rất khó khăn. Cần hết sức
thận trọng để tránh những kết luận thiếu sức khái quát và mâu thuẫn.
Láy là một phương thức tạo từ đặc sắc của tiếng Việt. Mỗi từ láy là một
nốt nhạc về âm thanh, gợi ra một bức tranh cụ thể về các đặc tính cảm quan:
thị giác, thính giác, xúc giác, vị giác, khứu giác và vận động kèm theo những
ấn tượng về cảm thụ chủ quan, những cách đánh giá, những thái độ của người
nói, người viết trước sự vật, hiện tượng, đủ sức thông qua các giác quan
hướng ngoại và hướng nội của người nghe, người đọc mà tác động đến họ.
Cho nên từ láy là những công cụ “tạo hình” rất đắc lực cho nghệ thuật văn
học, nhất là nghệ thuật thơ.
1.3. Phân loại
Các từ láy được phân loại thành hai kiểu lớn: Láy hoàn toàn nếu toàn
bộ âm tiết của hình vị cơ sở được láy lại. Láy bộ phận nếu một bộ phận ngữ
âm của âm tiết hình vị cơ sở được láy lại.
Ở các từ láy hoàn toàn, hình vị cơ sở thường ở sau và mang trọng âm.
Hình vị láy ở trước và được phát âm lướt, do đó có thể xảy ra sự biến thanh
và biến vần theo phân tích của GS Nguyễn Tài Cẩn. Khi thanh điệu của hình
vị cơ sở là thanh trắc chuyển thành thanh bằng cùng nhóm thì có sự biến
thanh. Thí dụ đo đỏ, nằng nặng… Nếu phụ âm cuối của hình vị cơ sở là /p/,

(phối hợp với phụ âm đầu của hình vị cơ sở)
11

Lầu bầu, lềnh bềnh, lúng búng, lèm bèm… Phụ âm đầu /l/ của hình vị
láy đi với phụ âm đầu /b/ của hình vị cơ sở.
Lờ đờ, là đà, long đong… Phụ âm đầu của hình vị láy /l/ đi với phụ âm
đầu /đ/ của hình vị cơ sở.
Lằng nhằng, lây nhây, láo nháo, lô nhô… Phụ âm đầu /l/ của hình vị
láy đi với phụ âm đầu /nh/ của hình vị cơ sở.
Bối rối, bịn rịn… Phụ âm đầu /b/ của hình vị láy đi với phụ âm đầu /r/
của hình vị cơ sở.
Càu nhàu, kèm nhèm, kè nhè… phụ âm đầu /k/ của hình vị láy đi với
phụ âm đầu /nh/ của hình vị cơ sở.
Chờn vờn, chới với, chênh vênh, chơi vơi… Phụ âm đầu /ch/ của hình
vị láy đi với phụ âm đầu /v/ của hình vị cơ sở.
Táy máy, tò mò, tơ mơ, tờ mờ, tẩn mẩn… Phụ âm đầu /t/ của hình vị láy
đi với phụ âm đầu /m/ của hình vị cơ sở.
Tồng ngồng, tần ngần, tủn ngủn, (tun ngủn)… Phụ âm đầu /t/ của hình
vị láy đi với phụ âm đầu /ng/ của hình vị cơ sở.
Tất bật, tanh bành, tơi bời… Phụ âm đầu /t/ của hình vị láy đi với phụ
âm đầu /b/ của hình vị cơ sở.
Áy náy, ăn năn… Phụ âm đầu của hình vị láy vắng đi với phụ âm đầu
/n/ của hình vị cơ sở.
Trên đây chỉ dẫn một số kiểu láy đôi (láy hai âm tiết) để làm mẫu, căn
cứ vào đó mà tìm ra các kiểu từ láy đôi khác.
1.4. Sự vận dụng từ láy trong đời sống và văn học
Như đã nói trên, từ láy là một phương tiện biểu đạt quan trọng, chứa
đựng nhiều giá trị biểu cảm, chính vì thế, nó được sử dụng nhiều không chỉ
trong văn học mà còn trong đời sống hàng ngày.
Từ láy được xem là chất liệu để xây dựng văn bản nghệ thuật, làm

cũng xếp vào nhóm từ láy (láy vắng khuyết phụ âm đầu).
13

Ví dụ: ồn ào, ầm ĩ, ấm áp, im ắng, ước ao, yếu ớt,…
- Các từ có một hình vị có nghĩa và một hình vị không có nghĩa có phụ
âm đầu được ghi bằng những con chữ khác nhau nhưng có cùng cách đọc
(c/k/q ; ng/ngh ; g/gh ) cũng được xếp vào nhóm từ láy.
Ví dụ: cuống quýt, cũ kĩ, ngốc nghếch, gồ ghề,…
Lƣu ý: Trong thực tế, có nhiều từ ghép (gốc Hán) có hình thức ngữ âm
giống từ láy, song thực tế các tiếng đều có nghĩa nhưng rất khó phân biệt. Ví
dụ: bình minh, cần mẫn, tham lam, bảo bối, ban bố, căn cơ, hoan hỉ, chuyên
chính, chính chuyên, chân chất, chân chính, hảo hạng, khắc khổ, thành
thực,…
14

Chƣơng 2
TỪ LÁY TRONG TIỂU THUYẾT NỖI BUỒN CHIẾN TRANH
CỦA BẢO NINH

2.1. Tình hình khảo sát thống kê tƣ liệu
Ngôn ngữ là yếu tố thứ nhất của văn học như màu sắc đối với hội họa,
âm thanh đối với âm nhạc, hình khối đối với kiến trúc. Nói cho cùng, văn học
là nghệ thuật của ngôn từ. Những nghệ sĩ lớn đều là những nhà ngôn ngữ trác
tuyệt. Trong lao động nghệ thuật, người nghệ sĩ có một sự lao tâm khổ tứ về

Các từ láy được Bảo Ninh vận dụng trong từng câu văn ở những thời
điểm và ngữ cảnh cụ thể tạo nên giá trị nội dung phong phú của tác phẩm.
15

2.2. Giá trị ngữ nghĩa của từ láy trong việc thể hiện nội dung tác phẩm
Chiến tranh luôn là đề tài cho văn học hậu chiến khai thác và phản ánh.
Mặc dù chiến tranh đã lùi xa nhưng vẫn để lại trong lòng mỗi người dân đất
Việt những ám ảnh khôn nguôi. Và, với một độ lùi thời gian cần thiết cho
phép những người tham gia cuộc chiến có cái nhìn và cảm nhận mới về những
gì đã xảy ra. Hòa cùng với sự thay đổi của đất nước, văn học hậu chiến nói
chung và loại tiểu thuyết nói về đề tài chiến tranh nói riêng cũng có những
thay đổi phù hợp với xu thế chung của dân tộc. Giai đoạn này xuất hiện nhiều
tác phẩm nổi tiếng như Thời xa vắng của Lê Lựu, Ăn mày dĩ vãng của Chu
Lai, Phố của Chu Lai,…đặc biệt phải kể đến sự ra đời của tiểu thuyết Nỗi
buồn chiến tranh của Bảo Ninh. Ngay từ khi ra đời, tác phẩm đã gây được
tiếng vang lớn đối với giới nghiên cứu, phê bình, độc giả trong và ngoài nước.
Tác phẩm đem đến cho người đọc cái nhìn mới về hiện thực chiến tranh. Quá
khứ chiến tranh được nhìn từ nhiều phía. Người lính trong tác phẩm được
nhìn nhận trong mối quan hệ đa chiều với nhiều phẩm chất khác nhau mà các
tiểu thuyết ra đời trước đó không thể hiện rõ. Tác phẩm thể hiện sự đổi mới cả
về nội dung lẫn tư tưởng nghệ thuật, đặc biệt là những cách tân trong tư duy
tiểu thuyết của nhà văn. Tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh được coi là “hiện
tượng văn học” của thế kỉ XX.
Trong khóa luận, chúng tôi đề cập đến việc sử dụng từ láy trong tiểu
thuyết Nỗi buồn chiến tranh. Bảo Ninh đã sử dụng rất nhiều từ láy và những từ
láy ấy có tác dụng lớn trong việc thể hiện thiên nhiên và khắc họa tâm trạng. Để
tiện cho việc nghiên cứu và theo dõi, người viết sẽ đi theo hướng tìm hiểu
tác dụng vai trò của từ láy trong việc thể hiện thiên nhiên và khắc họa tâm
trạng riêng.


17

nhiên mà “não nề” còn gợi tâm trạng con người. Nỗi buồn từ cảnh vật ùa vào
lòng người hay nỗi buồn từ lòng người thấm sang cảnh vật. Thiên nhiên sầu
buồn lại diễn ra trong thời gian “lê thê”. Từ láy “lê thê” diễn tả “thời gian dài
quá đáng đến mức như không biết đến đâu mới dứt” [7; 667]. Trạng thái thiên
nhiên hay nỗi buồn trong lòng người đến bao giờ mới chấm dứt được. Thời
gian này, trung đội của Kiên “khổ sở vì đói, vì sốt rét triền miên, thối hết cả
máu, vì quần áo bục nát tả tơi và vì những lở loét cùng người như phong hủi,
cả trung đội chẳng còn ai trông ra hồn thằng trinh sát nữa” [10; 23]. Chính
vì vậy, ngày trở nên “não nề” “lê thê” đến vậy. Tất cả chìm ngập trong chiến
tranh, chìm ngập trong sự chết chóc, hủy diệt không lối thoát. Bệnh tật khủng
khiếp và đói khổ triền miên đã tận diệt cuộc sống nơi đây.
Đối với những người lính đã từng chiến đấu nơi chiến trường thì những
cơn mưa rừng đã trở thành ám ảnh, nó khắc sâu vào tâm hồn người lính
những kỉ niệm không thể nào quên. Bảo Ninh đã sử dụng tài tình một hệ
thống từ láy để miêu tả mưa rừng khiến cho thiên nhiên nơi rừng sâu càng
thêm ảm đạm thê lương, những ngày chiến đấu càng trở nên dài dằng dặc.
“Cuộc chiến có vẻ như bị vùi lấp trong biển mênh mông mù mịt của mùa mưa,
thế nhưng nếu cứ để tâm lắng nghe mãi tiếng mưa rơi trên mái rừng và ngước
nhìn mãi bầu trời thâm xám, thấp và tối như vòm hang thì người ta chỉ có thể
nghĩ tới duy nhất nó mà thôi: chiến tranh, chiến tranh” [10; 21]. Từ láy
“mênh mông” có nghĩa là “rộng lớn đến mức như không có giới hạn” [7; 751].
Theo lẽ thường, mưa gợi tâm trạng buồn trong lòng người, hơn nữa ở đây lại
đặt trong khung cảnh rừng núi, hoàn cảnh chiến tranh thì lại càng trở nên sầu
thảm. Những cơn mưa rừng nhiều dường như không có giới hạn. Và nghe
tiếng mưa, nhìn lên bầu trời thâm xám người ta chỉ có thể nghĩ tới chiến
tranh. Chiến tranh cũng rộng lớn và không giới hạn và con người dường như
không thể thoát ra được. Từ láy “mù mịt” nghĩa là “ở trạng thái hoàn toàn bị
18

vắng nọ, trong khu trại tăng gia của huyện đội 67 đã nhiều năm bị bỏ quên
bên bờ thác nước ấy chỉ có mỗi ba cô gái, chỉ ba cô mà thôi đang sống và
đang hằng đêm chờ đợi, mong ngóng bước chân những người lai vãng” [10;
38]. Và mỗi đêm sau khi từ chỗ ba cô gái trở về, “các gã trai thở hổn hển, bê
bết bùn và run rẩy trong cái mát lạnh của trận mưa phùn ban mai” [10; 37].
Tiếng mưa dường như cũng là tiếng những bước chân vội vã, những tiếng
động nhỏ đan xen vang lại từ những chiến hữu của Kiên.
Như vậy với việc sử dụng từ láy để miêu tả những cơn mưa rừng, Bảo
Ninh đã vẽ lên một bức tranh buồn bã tăm tối của thiên nhiên trong chiến
tranh. Không gian trong tiểu thuyết chủ yếu là cảnh rừng nơi trung đội của
Kiên chiến đấu, chính vì vậy thế giới rừng sâu được tác giả miêu tả một cách
vô cùng sống động.
Ngay trong tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh Bảo Ninh viết “Có thể nói
không khí truyện của Kiên là bầu không khí của những khu rừng tăm tối,
ngùn ngụt tử khí và lam chướng, mờ mịt bóng yêu tà” [10; 108]. Chiến tranh
đã nhuốm màu đau thương buồn bã, âu sầu, ảo não cho bức tranh thiên nhiên
khiến cho thiên nhiên trong chiến tranh dưới con mắt của tác giả là một thiên
nhiên “tăm tối”. Từ láy “tăm tối” xuất hiện trong tiểu thuyết với tần số cao.
“Tối tăm, ẩm ướt, hoang rợn, đất trời như bị bưng kín, bị đè nghẹt” [10; 30],
“ chốc chốc, ánh chớp lại phá thinh không gian tăm tối và dữ dội dựng đứng
rừng lên trong khoảnh khắc” [10; 34], “cái truông núi vô danh mịt mù lam
chướng này thì từ bấy có tên là Gọi Hồn, cái tên nghe dựng cả tóc gáy”
[10;12]. Từ láy “tăm tối”, “mờ mịt” hay “mịt mù” được sử dụng nhiều để thể
hiện bức tranh thiên nhiên trong chiến tranh. Khói lửa chiến tranh đã khiến
cho bầu không khí trở nên như vậy. “Tối tăm” hay “tăm tối” tức là “tối, thiếu
ánh sáng, thường dùng để ví cảnh sống không có hi vọng, không có tương lai”
[7; 1216]. Trong bầu không khí tăm tối như vậy, tất cả đều trở nên “mờ mịt”,
20

“mịt mù”, cảnh rừng “ở trạng thái bị bao phủ dày đặc trong một khoảng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status