Tiểu thuyết về chiến tranh Việt Nam sau 1975 dưới góc nhìn tự sự học (qua Ăn mày dĩ vãng của Chu Lai, Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh và Thời xa vắng của Lê L - Pdf 26


Tiểu thuyết về chiến tranh Việt Nam sau 1975 dưới góc nhìn tự sự học…
Nguyễn Thị Vui – Văn học Việt Nam 1

ĐA
̣
I HO
̣
C QUÔ
́
C GIA HA
̀

̣
I
TRƯƠ
̀
NG ĐA
̣
I HO
̣
C KHOA HO
̣
C XA
̃

̣
I VA
̀
NHÂN VĂN


̣
I HO
̣
C QUÔ
́
C GIA HA
̀

̣
I
TRƯƠ
̀
NG ĐA
̣
I HO
̣
C KHOA HO
̣
C XA
̃

̣
I VA
̀
NHÂN VĂN
NGUYỄN THỊ VUI


4.3. Phương pháp thống kê 17
4.4. Phương pháp nghiên cứu so sánh 17
5. Kết cấu của luận văn 17
Chương 1: Người kể chuyện và điểm nhìn trong tiểu thuyết về chiến tranh
Việt Nam sau năm 1975 17
1.1. Người kể chuyện trong tiểu thuyết về chiến tranh Việt Nam sau 1975 19
1.1.1. Khái lược về người kể chuyện 19
1.1.2. Sự đa dạng về người kể chuyện trong tiểu thuyết về chiến tranh Việt Nam
sau 1975 21
1.2. Điểm nhìn trong tiểu thuyết về chiến tranh Việt Nam sau 1975 32
1.2.1. Khái lược về điểm nhìn 32
1.2.2. Sự dịch chuyển điểm nhìn trong tiểu thuyết về chiến tranh Việt Nam sau
1975 34
Chương 2: Nghệ thuật tổ chức cốt truyện và kết cấu trong tiểu thuyết về chiến
tranh Việt Nam sau năm 1975 40
2.1. Nghệ thuật tổ chức cốt truyện trong tiểu thuyết về chiến tranh Việt Nam
sau 1975 40
2.1.1. Khái lược về cốt truyện 40

Tiểu thuyết về chiến tranh Việt Nam sau 1975 dưới góc nhìn tự sự học…
Nguyễn Thị Vui – Văn học Việt Nam 4

2.2. Kết cấu trong tiểu thuyết về chiến tranh Việt Nam sau 1975 55
2.2.1. Khái lược về kết cấu 55
2.2.2. Kết cấu truyền thống và sự phá vỡ kết cấu truyền thống trong tiểu thuyết
về chiến tranh Việt Nam sau 1975 60
2.2.2.1. Kiểu kết cấu dòng ý thức 61
2.2.2.2. Kiểu kết cấu lồng ghép, phân mảnh 69
2.2.2.3. Kết cấu truyền thống 74
Chương 3: Ngôn ngữ và giọng điệu trần thuật trong tiểu thuyết về chiến tranh

được lợi thế về dung lượng khi tiếp cận mảng hiện thực trải dàn trên một
không gian rộng lớn kéo dài từ Bắc tới Nam, từ cao nguyên tới đồng bằng,
gắn với khoảng thời gian 30 năm không hề ngắn ngủi. Trước 1975 phải kể
đến Đất nước đứng lên (Nguyên Ngọc), Sống mãi với thủ đô (Nguyễn Huy
Tưởng), Hòn đất (Anh Đức), Gia đình má Bảy (Phan Tứ), Dấu chân người
lính (Nguyễn Minh Châu), Chiến sĩ (Nguyễn Khải), Vùng trời (Hữu Mai)…
Sau 1975 các tiểu thuyết viết về chiến tranh vẫn tiếp tục ra mắt công chúng:
Họ cùng thời với những ai (Thái Bá Lợi), Đất trắng (Nguyễn Trọng Oánh),
Năm 1975 họ đã sống như thế, Chim én bay (Nguyễn Trí Huân), Nắng đồng
bằng, Ba lần và một lần, Ăn mày dĩ vãng, Vòng tròn bội bạc (Chu Lai), Nước
mắt đỏ (Trần Huy Quang), Thân phận của tình yêu (Bảo Ninh), Chuyện làng
Cuội, Thời xa vắng (Lê Lựu). Ở những tiểu thuyết này, chiến tranh dù được
đề cập đến trực tiếp hay gián tiếp thì vẫn hướng tới mục đích tái hiện một

Tiểu thuyết về chiến tranh Việt Nam sau 1975 dưới góc nhìn tự sự học…
Nguyễn Thị Vui – Văn học Việt Nam 6

thời kì lịch sử đầy sóng gió của dân tộc trong một cái nhìn mới từ cuộc sống
hiện tại sau ngày giải phóng. Người viết luận văn chọn đối tượng nghiên cứu
là tiểu thuyết viết về chiến tranh trước hết bởi đề tài chiến tranh là một đề tài
lớn, đầy sức hấp dẫn của văn học nước nhà và tiểu thuyết là một thể loại đạt
khá nhiều thành công khi khai thác mảng đề tài này. Chọn đề tài "Tiểu thuyết
về chiến tranh Việt Nam sau 1975 – dưới góc nhìn tự sự học", người viết
xuất phát từ một thực tế rằng tiểu thuyết viết về chiến tranh sau 1975 đã có
nhiều phương diện đổi mới so với tiểu thuyết trước 1975 mà trong đó sự thay
đổi về nghệ thuật tự sự là một trong những phương diện đổi mới cơ bản.
Trước 1975, chiến tranh được miêu tả bằng cái nhìn sử thi và cảm hứng lãng
mạn ngợi ca, bởi vậy tiểu thuyết thời kì này mang hơi thở của những bản
hùng ca hào sảng, tự tin, đầy khí thế. Điều này cũng dễ hiểu khi văn chương
được coi là vũ khí đắc lực để tiêu diệt kẻ thù, cổ vũ tinh thần chiến đấu của

thuyết đã có những tìm tòi, cách tân thể hiện nhiều phương diện, trong đó có
nghệ thuật trần thuật. Trong rất nhiều tác phẩm thì Nỗi buồn chiến tranh của
Bảo Ninh, Ăn mày dĩ vãng của Chu Lai, Thời xa vắng của Lê Lựu có thể coi
là những tác phẩm tiêu biểu.
2. Lịch sử vấn đề
Văn học thời hậu chiến, đặc biệt là văn học viết về chiến tranh
mang một hơi thở mới vừa lạ lẫm nhưng cũng rất đỗi quen thuộc. Quen bởi
đó là những đứa con tinh thần của những con người đi ra từ chiến trường, bởi
đó là chiến tranh, cái đã chi phối văn học suốt mấy chục năm trời. Còn lạ bởi
vì, dù viết về chiến tranh nhưng văn học nói chung, tiểu thuyết nói riêng
được nhìn nhận ở một khía cạnh hoàn toàn mới và cái khía cạnh mới ấy lại
được biểu hiện ở những phương diện cũng mới. Chiến tranh được nhìn nhận
ở nhiều khía cạnh, đặc biệt là mặt trái của chiến tranh bên cạnh việc miêu tả
và thể hiện tới số phận con người. Có lẽ vì những lẽ đó mà tiểu thuyết viết về
chiến tranh sau 1975 nói riêng, tiểu thuyết sau 1975 nói chung là đối tượng

Tiểu thuyết về chiến tranh Việt Nam sau 1975 dưới góc nhìn tự sự học…
Nguyễn Thị Vui – Văn học Việt Nam 8

của nhiều bài báo, công trình khoa học.
Từ sau năm 1975, với những thay đổi trong tư duy văn học và
việc tiếp nhận nhiều lý thuyết nghiên cứu hiện đại, tình hình nghiên cứu văn
xuôi đã có nhiều thành tựu quan trọng. Trong số những thành tựu ấy phải kể
đến những công trình tập thể và những sách chuyên luận như: Văn học Việt
Nam sau 1975 – Những vấn đề nghiên cứu và giảng dạy (Nguyễn Văn Long,
Lã Nhâm Thìn chủ biên, 2006, Nxb GD, Hà Nội); 50 năm văn học Việt Nam
sau cách mạng tháng Tám do Đại học Quốc gia Hà Nội, Trường viết văn
Nguyễn Du và Tạp chí Văn nghệ Quân đội tổ chức (1996), Nhìn lại văn học
Việt Nam thế kỉ XX của Viện Văn học (2002), Văn học Việt Nam thế kỉ XX
(Phan Cự Đệ chủ biên, 2005) v.v. đã có những đánh giá tổng kết về bức

nhìn nhận tiểu thuyết là một thể loại năng động. Tiểu thuyết Việt Nam đương
đại ngày càng tăng cường yếu tố đa thanh, tính dân chủ và tính đối thoại.
Cùng với việc tìm hiểu những công trình nghiên cứu, những bài viết
về tiểu thuyết Việt Nam sau 1975, chúng tôi tập trung khảo sát những bài
viết, nhận định về ba tác phẩm Thời xa vắng, Nỗi buồn chiến tranh và Ăn
mày dĩ vãng.
Nhận xét về nghệ thuật trần thuật trong Thời xa vắng của Lê Lựu, La
Khắc Hòa quan tâm đến người trần thuật : “Người trần thuật kể lại câu
chuyện về cuộc đời Giang Minh Sài không phải là để người đọc có dịp được
suy ngẫm, mà là để nó được nói thật to những điều hình như nó đã ngẫm nghĩ
xong xuôi. Cho nên chỗ nào nó cũng lắm lời, lời kể của nó đã lùa thùa, dài
dòng mà cái luận đề thì lộ rất rõ. Đã thế tác phẩm lại cố gò để kết thúc có hậu
{…}. Nguyên tắc trần thuật sử thi cũng để lại dấu ấn ở mối quan hệ giữa
người kể chuyện và người đọc trong Thời xa vắng. Nhưng đặt bên cạnh
những tác phẩm cùng thời, tiểu thuyết của Lê Lựu đúng là bước ngoặt của
tiến trình đổi mới văn xuôi nghệ thuật” [67] . Ngô Thảo cũng thừa nhận sự
tìm tòi sáng tạo lời văn trần thuật của Lê Lựu là một công việc cần được

Tiểu thuyết về chiến tranh Việt Nam sau 1975 dưới góc nhìn tự sự học…
Nguyễn Thị Vui – Văn học Việt Nam 10

khích lệ: “Cũng sẽ buồn cười và lố bịch nữa khi khuyên Lê Lựu chọn cách
viết chân mộc cổ điển. Chỉ có thể nghĩ là anh hiểu biết đầy đủ đối tượng khi
điều anh muốn nói là tâm đắc, sáng tỏ thì anh sẽ có được cách thể hiện thích
hợp, dù hoa mỹ bay bướm một chút hay mộc mạc thật thà cũng không quan
trọng gì” [67] . Nhiều nhà nghiên cứu thống nhất ý kiến rằng Thời xa vắng là
câu chuyện về cuộc đời Giang Minh Sài nhưng mở ra rất nhiều vấn đề, tạo
nên tính nhiều tầng bậc cho câu chuyện. Người đọc có thể tìm thấy ở đó từ
những vấn đề lớn lao đến những vấn đề vụn vặt trong đời sống. Nguyễn Bích
Thu viết : “Có lẽ to chuyện quá chăng? Nhưng Thời xa vắng là những trang

sương. Ngòi bút Lê Lựu viết về nông thôn thật là nhân hậu” [67]. Thời xa
vắng ra đời, đã gây xôn xao dư luận trong một khoảng thời gian dài. Chính vì
vậy có rất nhiều bài viết bàn luận, lý giải cũng như nghiên cứu về tác phẩm
mà luận văn chưa có điều kiện thống kê.
Nỗi buồn chiến tranh (Thân phận của tình yêu) của Bảo Ninh có một
số phận đặc biệt. Khi mới xuất hiện trên văn đàn, nó không được chào đón,
thậm chí bị lên án, phê phán mạnh mẽ. Cùng với thời gian, người ta đã phải
thay đổi cách nhìn về nó và lúc này tác phẩm lại tốn khá nhiều giấy mực của
các nhà nghiên cứu. Tác giả Đỗ Đức Hiểu trong Thi pháp hiện đại đã khẳng
định: "Trong văn học mấy chục năm nay, có thể Thân phận của tình yêu là
quyển tiểu thuyết hay về tình yêu, quyển tiểu thuyết về tình yêu xót thương
nhất", tác giả nhấn mạnh: "nỗi buồn chiến tranh thể hiện một điểm nhìn mới
về cuộc chiến tranh kéo dài 35 năm", "những cảnh tả chiến tranh, những định
nghĩa về chiến tranh la liệt trong tác phẩm" [27, 265]. Bên cạnh nỗi buồn
chiến tranh được phản ánh trong tác phẩm là nỗi buồn về tình yêu, Đỗ Đức
Hiểu nhận định: "Nỗi buồn chiến tranh và nỗi buồn tình yêu [27, 98] thấm
vào nhau. Kiên vẫn phải sống, sống một thời hậu chiến u buồn (nỗi buồn hậu
chiến) vì một "thiên mệnh mù mịt xa vời, tối tăm và đau xót, được diễn đạt
bằng đêm ("bóng đêm", "đêm hè", "đêm trường" [27, 266], "Tình yêu,

Tiểu thuyết về chiến tranh Việt Nam sau 1975 dưới góc nhìn tự sự học…
Nguyễn Thị Vui – Văn học Việt Nam 12

chiến tranh, viết tiểu thuyết, ba nhịp đó xen kẽ, đan chéo, gây chóng mặt,
bàng hoàng, nhức nhối. Mưa và đêm, chiến tranh và sáng tác; khủng khiếp và
hồn hoang. Len lỏi, bao trùm và dẫn dắt tất cả các biến động của tiểu thuyết
(mưa và đêm) là một mối tình đau xót, kéo dài, vang vọng, âm ỉ và nổ bùng,
hủy hoại tất cả" [27, 266]. Những nghiên cứu này của tác giả đã giúp chúng
tôi trong việc khảo sát so sánh và phân tích tiểu thuyết Nỗi buồn chiến
tranh. Nghiên cứu về Nỗi buồn chiến tranh ở góc độ thi pháp, tác giả Trần

đấu và vượt lên" [57, 17]. Đó là những định hướng quý báu cho chúng tôi khi
nghiên cứu so sánh tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh viết về đề tài chiến
tranh. Ngoài tập truyện ngắn và tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh, gần đây
Bảo Ninh còn viết một số bài trên báo Văn nghệ trẻ bàn về sự đổi mới của
văn học. Trong phần hai của bài viết Văn học đổi mới đến từ cuộc kháng
chiến, Bảo Ninh đã chỉ trích một số quan niệm ấu trĩ khi xử lí Cánh đồng bất
tận của Nguyễn Ngọc Tư và lý giải về việc thưởng thức văn học của độc giả.
Đồng thời, ông đã khen ngợi sự đổi mới đề tài chiến tranh của Thái Bá Lợi
(truyện ngắn) và Lê Lựu (tiểu thuyết). Tác giả viết: "Tôi nghĩ rằng họ, chẳng
hạn nhà văn Thái Bá Lợi của Hai người trở lại trung đoàn, nhà văn Lê Lựu
của Thời xa vắng, có ý chí đổi mới sáng suốt và mãnh liệt đồng thời quả cảm
và gan lỳ chẳng kém gì người nông dân gan dạ dám chọn con đường đúng
đắn nhưng đầy cay đắng và cô đơn của bí thư Kim Ngọc. Tôi tự hỏi rằng nếu
không có những người nông dân cựu chiến binh kháng chiến chống Mỹ ấy thì
liệu nền kinh tế của đất nước và đời sống của mọi người ngày hôm nay sẽ
như thế nào?". Bảo Ninh là một trong những nhà văn góp phần đổi mới văn
học viết về đề tài chiến tranh, nên ở đây thể hiện một quan niệm về sự đổi
mới cách nhìn nhận chiến tranh. Ông viết: "Nếu không có ý chí và tác phẩm
sáng ngời tinh thần đổi mới ngay từ đầu những năm 1980 của các nhà văn mà
hầu hết là cựu chiến binh thì ngày nay các nhà văn và cả độc giả nữa sẽ có
kiểu tư duy văn học kiểu gì?". Cũng trên báo Văn nghệ trẻ ở bài viết Nói hay

Tiểu thuyết về chiến tranh Việt Nam sau 1975 dưới góc nhìn tự sự học…
Nguyễn Thị Vui – Văn học Việt Nam 14

làm dở, Bảo Ninh đưa đến một quan niệm mới về việc viết văn của lớp nhà
văn sau chiến tranh. Ông dẫn ra một loạt cuộc hội thảo bàn về nhu cầu đổi
mới văn học: "Mỗi thầy mỗi khác, nhưng tựu trung đều kêu gọi và thôi thúc
chúng tôi hãy khác đi, hãy mau mau đổi mới, hãy mạnh dạn cách tân, hãy từ
bỏ lối mòn trong suy nghĩ và trong sáng tác". Gần đây cũng trên báo Văn

qua những tình huống bi kịch để chiêm nghiệm xem con người đã làm thế
nào để vượt thoát ra khỏi những tình huống bi kịch ấy ”.
Thành tựu ở đề tài số phận người tính thời hậu chiến: Có khá nhiều bài
viết về vấn đề này và đều khẳng định lòng trung thực, sự dũng cảm và khả
năng “đào sâu” tận cùng hiện thực của nhà văn phát hiện những "mảnh đời"
còn khuất lấp, từ đó rút ra những triết lí nhân sinh sâu sắc. Theo nhà văn Ma
Văn Kháng, tiểu thuyết của Chu Lai đã “đối mặt trực tiếp với những vấn đề
bức bối của đời sống xã hội hôm nay”. Trong luận văn, thạc sĩ "Tiểu thuyết
Chu Lai thời kì đổi mới", tác giả Nguyễn Văn Chung đã khẳng định Chu Lai
"Từ cái nhìn sâu sắc về hiện thực chiến tranh" đã đi đến "cái nhìn đa diện về
hiện thực thời bình”, từ "thân phận con người trong chiến tranh" đến "thân
phận con người trong cuộc sống đời thường" v.v Vấn đề đổi mới nghệ thuật
tiểu thuyết của Chu Lai là vấn đề được các nhà nghiên cứu phê bình đề cập
đến nhiều nhất. Đó là ý kiến của Gs. Phan Cự Đệ: Tiểu thuyết của Chu Lai
"không chỉ đa dạng trong các phương thức tiếp cận mà cả trong các biện pháp
nghệ thuật, kết hợp độc thoại nội tâm, “dòng ý thức”, “nghệ thuật đồng hiện
”.[LV.Th.s- Tiểu thuyết Chu Lai thời kì đổi mới].
Những công trình này đã nghiên cứu tiểu thuyết về chiến tranh Việt
Nam sau 1975 ở nhiều khía cạnh khác nhau nhưng chưa có công trình nào có
cái nhìn khái quát về vấn đề tự sự học, đặc biệt là qua ba tác phẩm Nỗi buồn
chiến tranh, Ăn mày dĩ vãng, Thời xa vắng. Nên đây vừa là cơ sở, vừa là
gợi ý để chúng tôi lựa chọn nghiên cứu về tiểu thuyết thời hậu chiến từ góc
độ tự sự học và chứng minh qua ba tác phẩm là Nỗi buồn chiến tranh của

Tiểu thuyết về chiến tranh Việt Nam sau 1975 dưới góc nhìn tự sự học…
Nguyễn Thị Vui – Văn học Việt Nam 16

Bảo Ninh, Ăn mày dĩ vãng của Chu Lai và Thời xa vắng của Lê Lựu với
nhan đề: Tiểu thuyết về chiến tranh Việt Nam sau 1975 – dưới góc nhìn tự
sự học ( qua Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh, Ăn mày dĩ vãng của Chu

4.2. Phương pháp phân tích
Trong quá trình thực hiện luận văn, chúng tôi có sử dụng một số dẫn
chứng để minh họa cho lập luận của mình. Do đó, phương pháp phân tích
được vận dụng để trình bày cặn kẽ vấn đề hoặc bình giá các vấn đề cụ thể
trong luận văn.
4.3. Phương pháp thống kê
Trong chừng mực nhất định của quá trình nghiên cứu, chúng tôi sử
dụng phương pháp thống kê xem trong mỗi yếu tố nghệ thuật tầng số xuất
hiện của những hiện tượng nào là cao, hiện tượng nào là thấp và nó có báo
hiệu điều gì không.
4.4. Phương pháp nghiên cứu so sánh
Thông qua phương pháp này, chúng tôi có cái nhìn so sánh giữa tiểu
thuyết về chiến tranh Việt Nam trước và sau 1975; đồng thời so sánh giữa các
tác phẩm để thấy bên cạnh những đặc điểm chung của thời kì, mỗi tác phẩm
lại mang những đặc điểm khu biệt, đặc sắc riêng.
5. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Người kể chuyện và điểm nhìn trong tiểu thuyết về chiến tranh
Việt Nam sau năm 1975
Chương 2: Nghệ thuật tổ chức cốt truyện và kết cấu trong tiểu thuyết về chiến
tranh Việt Nam sau năm 1975
Chương 3: Ngôn ngữ và giọng điệu trần thuật trong tiểu thuyết về chiến tranh
Việt Nam sau năm 1975
Chương 1: Người kể chuyện và điểm nhìn trong tiểu thuyết về chiến
tranh Việt Nam sau năm 1975

Tiểu thuyết về chiến tranh Việt Nam sau 1975 dưới góc nhìn tự sự học…
Nguyễn Thị Vui – Văn học Việt Nam 18

Điểm đặc biệt đầu tiên của nhân vật người lính trong tiểu thuyết hậu

Thay đổi cảm hứng nghệ thuật, chuyển từ cảm hứng sử thi sang cảm
hứng đời tư thế sự, tiểu thuyết về chiến tranh sau 1975 mang một diện
mạo mới trong cách thể hiện nội dung mới, đặc biệt là phương diện trần
thuật, từ ngôn ngữ, giọng điệu đến điểm nhìn, nhân vật trần thuật rồi cả
cốt truyện, kết cấu…
Trong truyện kể, vấn đề ai kể chuyện và câu chuyện được kể như thế
nào bao giờ cũng quan trọng hơn là ai mới thật sự là người viết nên truyện kể
ấy. Điểm nhìn trở thành cơ sở để phân biệt người kể chuyện và tác giả. Người
kể chuyện có thể mang điểm nhìn của tác giả, song tác giả không phải là trung
tâm của truyện kể và không có vai trò đáng kể trong việc tổ chức truyện.
Điểm nhìn và người kể chuyện trở thành hai phương diện không thể tách rời.
Truyện bao giờ cũng được kể từ một điểm nhìn nhất định và bởi một người kể
chuyện nào đó. Pospelov khẳng định vai trò quan trọng của điểm nhìn trần
thuật trong tác phẩm tự sự: “Trong tác phẩm tự sự, điều quan trọng là tương
quan giữa các nhân vật với chủ thể trần thuật, hay, nói cách khác, điểm nhìn
của người trần thuật đối với những gì mà anh ta miêu tả” [63].
1.1. Người kể chuyện trong tiểu thuyết về chiến tranh Việt Nam sau 1975
1.1.1. Khái lược về người kể chuyện
Theo Từ điển thuật ngữ văn học của Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn
Khắc Phi đồng chủ biên thì: trần thuật (Narrate) là phương diện cơ bản của
phương thức tự sự, là việc giới thiệu khái quát, thuyết minh, miêu tả đối với
nhân vật, sự kiện, hoàn cảnh, sự vật theo cách nhìn của người trần thuật. Trần
thuật không chỉ là lời kể mà còn bao hàm cả việc miêu tả đối tượng, phân tích
hoàn cảnh, thuật lại tiểu sử nhân vật, lời bình luận, lời ghi chú của tác giả….
Ngôn ngữ trần thuật do vậy là nơi bộc lộ ý thức sử dụng ngôn ngữ có chủ ý
của nhà văn, bộc lộ cách lý giải cuộc sống từ cách nhìn riêng và cá tính sáng
tạo của tác giả.

Tiểu thuyết về chiến tranh Việt Nam sau 1975 dưới góc nhìn tự sự học…
Nguyễn Thị Vui – Văn học Việt Nam 20

Nguyễn Thị Vui – Văn học Việt Nam 21

và trung tính. Người trần thuật được chứng kiến câu chuyện và có khả năng
kể lại toàn bộ câu chuyện theo cách riêng của mình. Lời trần thuật ở đây còn
có nhiệm vụ tái hiện và phân tích, lý giải thế giới khách quan, vật chất, sự
việc, con người…; tái hiện và phân tích, lý giải lời nói ý thức người khác.
Theo Bakhtin, lời văn trần thuật gián tiếp này (khác với lời văn trực tiếp của
nhân vật) có thể chia làm hai loại: loại thứ nhất là gián tiếp một giọng, là lời
trần thuật tái hiện, phẩm bình các hiện tượng của thế giới trong ý nghĩ khách
quan vốn có của chúng. Loại thứ hai là lời gián tiếp hai giọng, là lời trần thuật
có hấp thụ lời nhân vật, tức là trong phát ngôn của người trần thuật cùng lúc
có thể có cả lời trực tiếp hay những suy tư gián tiếp của nhân vật, nó thể hiện
sự đối thoại với ý thức khác của cùng một đối tượng miêu tả. Loại thứ hai này
cho phép tác giả di chuyển “điểm nhìn” trần thuật và tạo nên tính chất đa
thanh trong ngôn ngữ trần thuật, ngôn ngữ tiểu thuyết.
1.1.2. Sự đa dạng về người kể chuyện trong tiểu thuyết về chiến tranh Việt
Nam sau 1975
Ở Việt Nam, tiểu thuyết có nhân vật trần thuật ở ngôi thứ nhất xuất
hiện vào cuối thế kỷ XIX. Đó là tiểu thuyết “Truyện Thầy Lazaro Phiền"
(1887) của Nguyễn Trọng Quản. Tác phẩm có hình thức “truyện trong
truyện.” Thầy Lazaro Phiền đã thú nhận tội lỗi giết vợ, giết bạn của mình cho
một người bạn đồng hành và nhân vật này lại trở thành người trần thuật. Nhân
vật người kể chuyện ở đây được thể hiện ở ngôi thứ nhất.
Trong văn chương đương đại từ sau Đổi mới (1986) có nhiều tác giả
trần thuật ở ngôi thứ nhất như Nguyễn Khải, Nguyễn Minh Châu, Ma Văn
Kháng, Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài…. Với việc trần thuật ở ngôi thứ
nhất, tác giả đã viết về những điều mình đã trải qua, đã chứng kiến và nếm
trải, chiêm nghiệm. Và tất nhiên, với tính chất hư cấu của tiểu thyết, “tôi”
không hẳn là tác giả mà chỉ là một nhân vật của truyện. Lời trần thuật ở đây


giả còn để cho nhân vật tham gia trần thuật. Tác giả để riêng một phần của

Tiểu thuyết về chiến tranh Việt Nam sau 1975 dưới góc nhìn tự sự học…
Nguyễn Thị Vui – Văn học Việt Nam 23

truyện để nhân vật kể lại câu chuyện của quá khứ, đó là cậu chuyện của
viên đại úy – Tường (từ trang 294 đến trang 322). Câu chuyện của Tường
kể về sự ra đi của Hợi, chị họ của Ba Sương và đã làm mọi thắc mắc, mọi
nghi ngờ của Hai Hùng về người con gái của hiện tại - Tư Lan chính là Ba
Sương của ngày xưa. Rằng tại sao Ba Sương còn sống đến ngày hôm nay.
Tường là người đã chứng kiến câu chuyện của quá khứ; là người đã đổi xác
của Hai Hợi để cứu Ba Sương; là người đã cho Ba Sương cuộc sống ngày
hôm nay. Để Tường là người kể, câu chuyện trở nên chân thực hơn đồng
thời tạo điểm nhấn cho tác phẩm.
Trong Nỗi buồn chiến tranh tác giả cũng xen vào những đoạn mà
nhân vật tham gia kể chuyện, làm dịch chuyển điểm nhìn, câu chuyện trở
nên sống động, chân thực hơn. Đó là câu chuyện của Phán về cái chết rùng
rợn của tên Ngụy : “Anh ta kêu ằng ặc, giãy đành đạch, mắt trợn ngược lên.
mảng bom chém lìa một bàn chân, người đầm đìa máu, miệng anh ta
cũng ứa máu, hai tay run bần bật ôm lấy chỗ ruột đang phì ra nghi ngút hơi
nóng.” [50, 101] Câu chuyện của Phán trong đội tham gia tìm kiếm hài cốt
đã vẽ thêm một hình ảnh tàn bạo của chiến tranh, thêm một điểm nhìn về
cuộc chiến mà người ta đi ra khỏi cuộc chiến đó trong tâm trạng “đau đớn,
cuồng thắt” [50, 102].
Thời xa vắng được kể ở ngôi thứ ba, người kể chuyện là người “biết
tuốt”. Trong lời kể, tác giả thường xen vào những suy nghĩ trực tiếp của nhân
vật. Qua quá trình tìm hiểu, chúng tôi thống kê thì hầu hết các trang đều có
trích dẫn lời nhân vật một cách trực tiếp. Có những trang liên tiếp nhau như
các trang: 15, 16, 17, 18; 27, 28, 29, 31, 32, 33, 34, 35; 64, 65, 66, 68, 69; 83,
84, 85, 86, 87, 89; 101, 102, 103, 104, 107, 108, 109, 110, 111, 112, 113,

“một cuộc chiến tranh chưa từng được biết tới, như thể đó là cuộc chiến của
riêng anh” [50,53]. Và đây cũng là một lựa chọn văn học độc đáo: ngay cả
khi kể ở ngôi thứ ba, sự việc luôn được nhìn qua con mắt của một người duy

Tiểu thuyết về chiến tranh Việt Nam sau 1975 dưới góc nhìn tự sự học…
Nguyễn Thị Vui – Văn học Việt Nam 25

nhất – nhân vật chính. Qua Kiên, cụ thể là qua ý thức và vô thức của anh,
người đọc tham gia trực tiếp vào chiến tranh, nhìn thấu những cuộc giết chóc
kinh hoàng, chứng thực sự suy tàn, bản năng khát máu của con người. Từ
những cảm giác, ấn tượng, mộng mị, hoang tưởng của Kiên, hiện lên một vũ
trụ chiến tranh u uẩn ngột ngạt, một vũ trụ mưa: “Suối lũ rền rĩ. Mưa tầm tã
trong bóng đêm [50, 21], “Có đêm mưa nặng nề xối dội, có đêm vội vã từng
cơn rào rào, ngắt quãng, nhưng không đêm nào là đêm tạnh ráo…” [50, 30],
“Trời tạnh mưa. Không khí vẫn ủ dột, ám mầu chì” [50, 45]. Bằng một
chuyển động từ ngoài vào trong, người đọc rời thực tế cuộc chiến mò mẫm
trong thế giới nội tâm của Kiên. Buồn bã, cô đơn, mất niềm tin – những tình
cảm bị coi là “tiêu cực”, chưa bao giờ tồn tại trong văn học chiến tranh chính
thống – được Bảo Ninh mô tả một cách tinh tế: “Kiên thu mình trong tấm tơi
lá, bó gối nhìn làn nước cuồn cuộn, không muốn gì và không nghĩ ngợi gì cả
(…) và hàng ngày Kiên có thể ngồi im lìm bên suối hàng giờ, ảm đạm buông
mình theo dòng ưu tư buồn ngủ. Mùa thu não nề, lê thê, mùa thu ê ẩm” [50,
17]. Cuộc chiến của Kiên huyền ảo, hoang đường, vương vấn bóng cô hồn,
ngào ngạt khói hồng ma, vang vọng tiếng hú của loài ma núi…
Mặt khác, chiến tranh được tái hiện qua ký ức kỳ lạ của Kiên. Và đây
chính là một trong những nét hiện đại nhất trong sáng tạo của Bảo Ninh: trí
nhớ, hồi tưởng, như một cỗ máy, với phương pháp vận hành, thao tác, cách
phát động, được mô tả công phu. Đồng thời, dưới ngòi bút của Bảo Ninh, nó
ngập ngừng, lộn xộn, đầy bí ẩn. Vùi sâu trong trí não hoang vu của Kiên,
những kỷ niệm xưa gặp thực tế hậu chiến, đột ngột trỗi dậy. Hai thí dụ sau


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status