BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI
NGUYỄN THỊ THÚY HẰNG CON NG-êi c¸ nh©n trong tiÓu thuyÕt
Vµ truyÖn ng¾n viÖt nam sau 1975
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 62.22.01.21
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN
viện Trường Đại học sư phạm Hà Nội.
Vào hồi…. giờ, ngày…. Tháng…. Năm 2013
Có thể tìm đọc luận án tại:
- Thƣ viện Đại học Quốc gia
- Thƣ viện Trƣờng Đại học Sƣ phạm Hà Nội.
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ
1. Nguyễn Thị Thúy Hằng (2008), “Khai thác yếu tố ngôn ngữ trong giảng
dạy văn học Việt Nam sau 1975”, Tạp chí giáo dục, số 189, tr. 40-42
2. Nguyễn Thị Thúy Hằng (2008), “Cái hài và bi kịch của người trí thức trong
truyện ngắn Vũ điệu của cái bô”, Tạp chí nhà văn, số 4, tr. 78-84.
3. Nguyễn Thị Thúy Hằng (2010), “Về người kể chuyện trong Cánh đồng bất
tận”, Kỉ yếu Hội nghị khoa học Nghiên cứu sinh, Trường Đại học sư phạm
Hà Nội, lần thứ II, tập 1, tr. 203-213
4. Nguyễn Thị Thúy Hằng (2012), “Vài nét về con người tự vấn trong văn
xuôi Việt Nam sau 1975”, Tạp chí Khoa học công nghệ, Trường Đại học
một thời điểm quan trọng mở ra một giai đoạn phát triển mới của văn học dân
tộc. Sự phát triển vượt trội của hai thể loại tiểu thuyết và truyện ngắn đưa văn
xuôi lên vị trí “thống trị” văn đàn, giữ vai trò quan trọng trong việc tạo ra gương
mặt mới cho văn học sau 1975.
1.2. Cuộc sống thời bình tạo điều kiện cho con người trở lại với nhu cầu tự
nhiên, cùng với những chủ trương mở cửa, hội nhập về kinh tế và từng bước mở
rộng giao lưu văn hóa với thế giới đã thúc đẩy sự xuất hiện trở lại của ý thức cá
nhân, tác động mạnh mẽ đến tư tưởng và sự sáng tạo của nhà văn. Trong sự đổi
mới ý thức nghệ thuật thì sự đổi mới quan niệm nghệ thuật về con người là cốt
lõi. Vượt qua nhận thức hạn hẹp, giản đơn về con người, văn học sau 1975 nhìn
nhận nó như một thực thể phức tạp và còn đầy bí ẩn. Con người được khám phá
ở nhiều vị thế, trong tính đa chiều của mọi mối quan hệ, được soi chiếu dưới
nhiều bình diện, tầng bậc khác nhau. Con người được nhìn nhận như một cá thể,
một số phận giữa cuộc sống đời thường.
Sự thay đổi trong quan niệm nghệ thuật về con người làm biến đổi mọi bình
diện của sáng tác, từ cảm hứng, chủ đề, hệ thống nhân vật đến cơ cấu thể loại.
Mấu chốt của những đổi mới này suy cho cùng vẫn xuất phát từ ý thức về cá nhân
và quan niệm con người cá nhân, cá thể. Con người cá nhân trong tiểu thuyết và
truyện ngắn Việt Nam sau 1975 vì vậy là một đối tượng khảo sát, nghiên cứu thực
sự cần thiết. Đi sâu vào vấn đề này, luận án có cơ hội tiếp cận và lí giải đặc điểm
cơ bản chi phối sự biến đổi trên các phương diện nội dung và nghệ thuật của văn
xuôi sau 1975.
1.3. Sự trở lại của con người cá nhân ở văn học đương đại là tiếp nối tinh
thần nhân bản của truyền thống văn học dân tộc, gắn với quá trình trưởng thành
ý thức cá nhân trong những điều kiện văn hóa, lịch sử mới.
1.4. Văn xuôi sau 1975 ngày càng có vị trí đáng kể trong chương trình hầu
hết các cấp học, bậc học. Tìm hiểu những tác phẩm văn xuôi giai đoạn này từ
góc độ con người cá nhân là mở ra một hướng tiếp cận với những giá trị nền tảng
của nền văn học đang trên hành trình phát triển. Việc nghiên cứu Con người cá
nhân trong tiểu thuyết và truyện ngắn Việt Nam sau 1975 do đó không chỉ có ý
như sản phẩm của lịch sử, con người duy ý chí, ảo tưởng, con người mang
thuộc tính nhân loại, con người là sản phẩm của tự nhiên và con người của
đời sống tâm linh. Nguyễn Văn Long chú ý đến vị thế, tính đa chiều trong
cách khám phá và thể hiện con người của tiểu thuyết và truyện ngắn. Mai
Hải Oanh phân tích, lí giải các loại hình nhân vật chính trong tiểu thuyết
sau 1975 như nhân vật tự ý thức, nhân vật bi kịch, nhân vật tha hóa, nhân
vật dị biệt. Quan tâm đến con người trong cấu trúc bản thể, các tác giả khác
bước đầu đặt vấn đề về các loại hình nhân vật: con người tự thú, sám hối,
tự ý thức (Tôn Phương Lan, Mai Hải Oanh), con người tự nhiên, tâm linh
và con người xã hội (Bích Thu). Con người với cảm thức cô đơn, cảm thức
lạc loài thu hút nhiều sự quan tâm nhất của các nhà nghiên cứu (Bùi Việt
Thắng, Nguyễn Thị Bình, Bích Thu, Tôn Phương Lan, Lê Thị Hường, Trần
Hạnh Mai …). Nhân vật tự nhiên bản năng, nhân vật kì ảo, nhân vật gắn
liền với các yếu tố vô thức tiềm thức, tâm linh cũng được nhắc tới trong
một số công trình chung về văn xuôi sau 1975 và ở một số chuyên đề, bài
báo khác (Nguyễn Thị Bình, Võ Thị Thanh Hà, Mai Hải Oanh, Bùi Thanh
Truyền). Các nhà nghiên cứu khẳng định tiểu thuyết, truyện ngắn sau 1975
đã nhìn nhận con người với cả ở những khát vọng bản năng, tầng sâu vô
thức.
Thế giới nhân vật vô cùng đa dạng và mỗi nhà nghiên cứu đều có
cách tiếp cận riêng ở những góc độ nhất định. Trong phạm vi luận án,
chúng tôi mới chỉ bao quát những ý kiến, những nhận định chung về tiểu
thuyết và truyện ngắn. Ngoài ra còn có nhiều nghiên cứu luận giải về thế
giới nhân vật của những tác giả, tác phẩm cụ thể. Sự quan tâm đến con
người cá nhân trong các công trình nói trên là những gợi dẫn cần thiết cho
chúng tôi khi đi sâu vào vấn đề này.
2.3. Về các phƣơng thức nghệ thuật thể hiện con ngƣời cá nhân trong
tiểu thuyết và truyện ngắn sau 1975
Đổi mới trên phương diện nghệ thuật thể hiện được rất nhiều bài báo,
công trình, các chuyên luận quan tâm. Tuy nhiên, nhìn nó như là kết quả
Nhằm làm rõ con người cá nhân trong tiểu thuyết, truyện ngắn từ sau
1975, cần sự đối sánh với văn học đoạn trước đó. Vì vậy, đề tài mở rộng phạm vi
tư liệu khảo sát đến văn xuôi trước 1975 trong những trường hợp cần thiết.
4. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
4.1. Mục tiêu nghiên cứu
Luận án đề ra mục tiêu nhận diện, phân tích các dạng cơ bản của con
người cá nhân trong tiểu thuyết và truyện ngắn Việt Nam từ sau 1975, từ đó
khẳng định và lí giải sự xuất hiện trở lại của con người cá nhân, đồng thời chỉ ra
những đổi mới nghệ thuật tự sự trên phương diện thể hiện con người cá nhân ở
hai thể loại này.
4.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
4.2.1. Xây dựng cơ sở lí luận của đề tài, cụ thể là xác định khái niệm công
cụ: con người cá nhân.
4.2.2. Tìm hiểu những tiền đề xuất hiện trở lại và sự vận động của con
người cá nhân trong tiểu thuyết, truyện ngắn Việt Nam sau 1975.
4.2.3. Phân tích các dạng biểu hiện cơ bản của con người cá nhân trong
tiểu thuyết, truyện ngắn Việt Nam sau 1975.
4.2.4. Phân tích những đổi mới trong nghệ thuật thể hiện con người cá
nhân trong tiểu thuyết, truyện ngắn Việt Nam sau 1975.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này chúng tôi sử dụng phối hợp các phương pháp sau
đây: Phương pháp loại hình, phương pháp tiếp cận thi pháp học, phương pháp
so sánh, phương pháp phân tích tác phẩm theo đặc trưng thể loại. Ngoài ra,
chúng tôi còn vận dụng phương pháp liên ngành. Sự phối kết hợp các phương
pháp xã hội học, văn hóa học, tâm lí học… trong quá trình nghiên cứu giúp
chúng tôi đáp ứng tốt hơn mục tiêu của luận án.
6. Những đóng góp mới của luận án
6.1. Luận án là công trình đầu tiên nghiên cứu một cách chuyên biệt và
tương đối toàn diện về con người cá nhân trong tiểu thuyết và truyện ngắn Việt
Nam sau 1975; nhận diện và phân tích những dạng thức cơ bản của con người cá
một nhấn mạnh vào bản chất xã hội, ý thức xã hội của con người.
1.1.2. Quan niệm “con ngƣời cá nhân” và quá trình phát triển của con
ngƣời cá nhân trong lịch sử
Con người cá nhân là con người được biểu hiện trong phẩm chất sinh lí
và tâm lí riêng biệt; gắn liền với ý thức về bản thể, về cá tính, về sự sống của
bản thân. Đó là ý thức về cái tôi với sự độc lập tương đối trong hành động, suy
nghĩ, tình cảm, là ý thức về quyền lợi và nghĩa vụ mà nó đặt ra cho chính bản
thân mình. Cái tôi ấy có khả năng phản tỉnh, phê phán, khả năng hành động,
thực hiện khát vọng của riêng nó. Cái tôi đó – với trải nghiệm riêng biệt, mang
tính cá thể - nên nó cũng nhiều khả năng sai lầm, ấu trĩ hoặc vấp váp trong hành
động, nhưng đó lại chính là động cơ thúc đẩy hành động tiếp theo của cái tôi.
Và trong thế giới của riêng nó, cái tôi dễ rơi vào cảm thức cô đơn, trống trải.
Con người cá nhân có lịch sử hình thành và quá trình phát triển của
nó. Các nhà nghiên cứu cơ bản thống nhất trong quan điểm: cá nhân xuất
hiện đã lâu. Nó được thể hiện hết sức khác nhau và mang tính đặc thù
trong mỗi thời đại lịch sử. Tuy nhiên, phải đến thế kỉ Ánh sáng, nó mới
thực sự được ý thức đầy đủ. Từ đó về sau, ý thức cá nhân đã phát triển
gắn liền với sự phát triển của xã hội. Trong mỗi không quyển văn hóa
đặc thù, ý thức cá nhân luôn có những đặc tính riêng nổi trội. Điều đó
được phản chiếu khá rõ trong văn học. Thời hiện đại, quan niệm về con
người cá nhân được mở rộng trong quá trình tiếp tục đào sâu khám phá
bản thể, tạo ra những giá trị độc đáo hơn về con người.
1.2. Con ngƣời cá nhân trong văn học Việt Nam trƣớc 1975 – một cái
nhìn khái quát
Luận án khái quát những đặc điểm cơ bản nhất về con người cá nhân
trong văn học trước 1975 nhằm làm rõ một trong những tiền đề cho sự phát
triển của con người cá nhân trong tiểu thuyết và truyện ngắn sau 1975.
1.2.1. Con ngƣời cá nhân trong văn học cổ trung đại
Trong suốt 10 thế kỉ tồn tại, xã hội phong kiến Việt Nam đã trải qua nhiều
giai đoạn khi hưng thịnh, khi khủng hoảng nhưng vẫn có một môi trường văn
trị, kinh tế, văn hóa đã dẫn đến sự xuất hiện kiểu con người cá nhân mang tính
hiện đại với ý thức mới về cá nhân.
Ở giai đoạn đầu, ý thức cá nhân trỗi dậy mạnh mẽ, thể hiện khá đậm đặc
trong các sáng tác thuộc khuynh hướng lãng mạn. Đầu tiên là Tản Đà và sau
đó là phong trào Thơ Mới làm náo động thi đàn bởi cái tôi khao khát mãnh liệt
được sống thực là mình, với mọi cảm xúc, mọi rung động trong tình yêu, trước
vẻ đẹp của tự nhiên Trong lĩnh vực văn xuôi, tiểu thuyết Tự lực văn đoàn
cũng thực hiện một cuộc “cách mạng” táo bạo trong tư tưởng và nghệ thuật. Ý
thức về con người cá nhân đã được nâng lên thành một vấn đề xã hội. Đó là khát
vọng bài trừ Nho giáo, vượt lên trên những ràng buộc của xã hội phong kiến;
giương cao lá cờ tự do yêu đương và tự do hôn nhân; ý thức về sự bình đẳng
giới, về quyền bảo vệ nhân phẩm và danh dự; tìm sự giải thoát trong tình yêu,
trong những ước mơ cải cách xã hội. Trong giai đoạn đầu của trào lưu văn học
hiện thực, các nhà văn dành mối quan tâm cho con người giai cấp. Đến Nam
Cao, ý thức cá nhân đã thực sự phát triển. Nhiều tác phẩm của Nam Cao thể hiện
sự bừng tỉnh sâu sắc về giá trị cá nhân trong thái độ nghiêm túc nhìn lại, mổ xẻ
hành vi, nhìn nhận những gì mình đã làm được và những gì mình đang khao
khát.
Nhìn lại thòi kì văn học, có thể nhận thấy ý thức cá nhân được phát triển
theo chiều hướng từ con người cá thể đến con người bản thể, đạt được đến chiều
sâu của giá trị nhân bản.
1.2.2.2. Giai đoạn từ 1945 – 1975
(*) Văn học cách mạng
Hai cuộc kháng chiến trường kì chống Pháp và chống Mĩ đã cuốn dân tộc
Việt Nam, muôn người như một vào mặt trận chống giặc ngoại xâm và xây dựng
chủ nghĩa xã hội. Chiến tranh tạo nên gương mặt mới cho lịch sử dân tộc: gương
mặt chiến tranh với màu sắc sử thi bi tráng. Ngay từ những ngày đầu kháng
chiến chống Pháp, hoàn cảnh lịch sử đặc biệt đã tác động đến sự thức tỉnh của
con người về sức mạnh và giá trị cộng đồng. Cái tôi cá nhân – cá thể gần như bị
phủ nhận. Cái tôi đã hòa vào cái ta. Con người tìm thấy mình trong tập thể.
trong gia đình, khi bị đổ vỡ niềm tin, rơi vào tình thế tuyệt vọng và luôn bị
ám ảnh bởi cái chết (Ngày qua bóng tối – Nguyễn Thị Hoàng; Chim hót
trong lồng - Nhật Tiến, Mưa trên cây sầu đông – Nhã Ca…).
+) Con người nổi loạn:
Sự hoài nghi, nỗi thất vọng tạo ra con người nổi loạn, nổi loạn trong
tư tưởng và nổi loạn trong hành động. Con người luôn ngờ vực, thắc mắc,
dằn vặt, chán chường và bất tín với tất cả (Vực nước mắt – Nguyễn Thị
Hoàng, Thú hoang – Nguyễn Thị Thụy Vũ). Con người có thể trốn chạy
khỏi gia đình, hoặc bất cần, hoặc phá phách, hoặc hành động ngược lại
quan niệm thông thường mà không màng tới hậu quả, thậm chí sống bất
chấp, thác loạn, điên rồ (Con đường – Nguyễn Đình Toàn, Mù khơi –Thanh
Tâm Tuyền, Sám hối – Minh Đức Hoài Trinh, Tóc mây – Lệ Hằng).
+) Con người bản năng:
Thể hiện con người trong yếu tố bản năng, nhiều tác giả tập trung
khai thác những ham muốn, ẩn ức dục tình. Một số tác giả nữ mạnh dạn thể
hiện xúc cảm ái ân, đặc biệt là ý thức đả phá quan niệm “tòng thuộc”,
khẳng định quyền được làm chủ, ngay cả trong những chuyện riêng tư nhất
(Ngày qua bóng tối, Vòng tay học trò – Nguyễn Thị Hoàng, Hơi thở rướn cong -
Túy Hồng), Nhang tàn thắp khuya - Thụy Vũ)…
Nhìn tổng quát, con người cá nhân thể hiện khá rõ trong văn học
Việt Nam từ đầu thế kỉ XX. Tùy vào từng giai thời cụ thể mà màu sắc cá
nhân có những biểu hiện rất khác nhau. Riêng giai đoạn 1945 – 1975, do
đặc điểm của một nền văn học vệ quốc, sự thể hiện con người cá nhân trong
văn học miền Bắc gần như “đứt gãy” bởi sự lấn át của con người sử thi.
Văn học đô thị miền Nam đã ít nhiều tái hiện chân dung con người cá nhân
trong một thời kì đặc biệt của lịch sử.
1.3. Bối cảnh lịch sử, văn hóa mới sau 1975 và sự thay đổi quan niệm
nghệ thuật về con ngƣời
1.3.1. Hoàn cảnh thời bình tạo điều kiện nảy sinh những nhu cầu mới,
những quan niệm thẩm mĩ mới hình thành nên những lớp công chúng mới. Ý
Từ giữa những năm 80 đến những năm đầu của thập kỉ 90, tiểu thuyết
và truyện ngắn thể hiện những khám phá tự giác hướng vào chiều sâu bản thể
con người. Con người cá nhân hiện lên với nhiều phương diện, tầng bậc. Bên
cạnh việc tiếp tục chỉ ra một cách thấm thía bi kịch cá nhân dưới áp lực của
lịch sử, cộng đồng, con người được thể hiện trong chiều sâu bản ngã: con
người cô đơn, lạc loài; con người bản năng tự nhiên cùng với con người
tâm linh, vô thức (Một cõi nhân gian bé tí, Đám cưới không có giấy giá thú,
Tướng về hưu, Không có vua, Ăn mày dĩ vãng, Nỗi buồn chiến tranh, Mảnh
đất lắm người nhiều ma…).
Từ giữa những năm 90 đến nay con người cá nhân có thêm sắc thái mới:
con người được nhận thức ở sự phức tạp, tính đa trị và nhất là ở nguy cơ nhòe
mờ cá tính, ở sự cô độc, mất phương hướng, mất khả năng giao tiếp, giao cảm.
Đó là cảnh báo về sự biến mất của cái tôi. Điều này thể hiện khá rõ trong sáng
tác của Nguyễn Bình Phương, Nguyễn Ngọc Tư, Đoàn Minh Phượng,
Thuận,…
Không nằm ngoài lộ trình trưởng thành của văn xuôi, con người cá nhân
cũng được thể hiện trong quá trình vận động phù hợp với từng giai đoạn lịch
sử. Với cái nhìn linh hoạt và toàn diện về con người, văn xuôi sau 1975 đã
minh chứng một điều: nhà văn không chỉ biết yêu, không chỉ hiểu con người
mà còn biết “buồn và đau cho con người, vì con người theo tinh thần “tôi là
con người, và không cái gì thuộc về con người lại xa lạ với tôi”.
CHƢƠNG 2
NHỮNG KIỂU CON NGƢỜI CÁ NHÂN
TRONG TIỂU THUYẾT VÀ TRUYỆN NGẮN VIỆT NAM SAU 1975
Dựa trên quan niệm về con người cá nhân, qua khảo cứu, chúng tôi
nhận thấy bốn kiểu loại điển hình, nổi trội nhất của con người cá nhân: kiểu
con người tự ý thức, kiểu con người cô đơn, con người tự nhiên và con
người vô thức, tâm linh.
2.1. Con ngƣời tự ý thức
gái thủy thần…)
2.1.3. Nhận thức về cá nhân trong sự phân rã của các mối quan hệ gia
đình, xã hội
Xã hội hiện đại với sự phát triển cao của ý thức cá nhân cũng đồng thời
nảy sinh mặt trái, đó là sự lỏng lẻo của các mối quan hệ, sự cực đoan trong
những đòi hỏi vị kỷ của cá nhân, những áp lực của công việc, của mưu sinh… đã
đẩy con người đến chỗ phân rã, rơi vào bi kịch bị tha hóa, bị “tẩy trắng”, “biến
mất” khỏi cộng đồng. Hàng loạt tác phẩm: Mùa lá rụng trong vườn, Thiên sứ
(Phạm Thị Hoài), Không có vua (Nguyễn Huy Thiệp), Kịch câm (Phan Thị Vàng
Anh), Trí nhớ suy tàn, Ngồi (Nguyễn Bình Phương), China town (Thuận), Cánh
đồng bất tận (Nguyễn Ngọc Tư),… đưa ra nhận thức mang tính cảnh báo này.
Có thể nói, tự ý thức là phẩm chất của con người trong đời sống. Khi còn ý
thức về bản thể, về nhân vị, khát vọng kiếm tìm còn tiếp tục thiêu đốt họ. Khi
phản ánh khát vọng tự vấn, kiếm tìm của con người, văn xuôi sau 1975 đã thực
sự khẳng định được giá trị nhân bản của nó.
2.2. Con ngƣời cô đơn
Quan sát sự thể hiện con người cá nhân trong tiểu thuyết và truyện ngắn
sau 1975, chúng tôi nhận thấy, con người có thể rơi vào một trong hai trạng thái:
bị cô đơn và tự cô đơn.
2.2.1. Bị cô đơn
Kiểu nhân vật cô đơn lạc thời, bất hòa với môi trường sống trở thành
một mẫu người tương đối phổ biến trong tiểu thuyết và truyện ngắn, đặc
biệt xuất hiện nhiều trong tác phẩm của những nhà văn viết ở cả hai giai
đoạn trước và sau 1975. Đó là những nhân vật lạc thời, bế tắc trước biến
động của gia đình và thời đại (tác phẩm của Nguyễn Khải, Nguyễn Minh
Châu, Nguyễn Huy Thiệp); những nhân vật trở về từ chiến tranh không thể
hòa nhập (sáng tác của Bảo Ninh, Chu Lai, Võ Thị Hảo, Trần Huy
Quang…); mặc cảm cô độc của thế giới đàn bà (sáng tác của các tác giả
nữ); những con người bị ruồng bỏ, bị hắt hủi, bị khuyết tật, dị dạng
(Nguyễn Huy Thiệp), bị lưu lạc, lưu vong (Nguyễn Ngọc Tư, Thuận, Đoàn
Bản năng tính dục được xem như một vấn đề thường hằng của đời
sống, một phương diện không thể thiếu trong mỗi một con người. Hơn nữa,
bản năng tính dục còn được xem như một đối tượng thẩm mĩ đặc thù, gắn
liền quan niệm nhân bản và cái nhìn có chiều sâu triết học về con người.
Tiểu thuyết và truyện ngắn Việt Nam sau 1975 đã phơi mở những ẩn
ức tính dục, hành vi tình dục, hoạt động tính giao trong hàng loạt sáng tác.
Nhiều tác giả đồng thuận trong quan niệm tính dục là một nguồn sống tự
nhiên vô cùng trong trẻo, thầm thào mà mãnh liệt trong mỗi một con người
(Đám cưới không có giấy giá thú, Bến không chồng, Gia đình bé mọn…).
Có tác giả nhấn mạnh tình dục như một trạng thái sống có ý nghĩa nhất, một
trạng thái hiện sinh đầy nhục cảm và đam mê, là con đường giải thoát
những ám ảnh, ẩn ức, cô độc (Người đi vắng, Ngồi, ). Ở một số nhà văn,
bản năng tính dục được nhìn như một ẩn dụ, là phương tiện biểu đạt một tư
tưởng nghệ thuật (Vân Vy, Song song, Bóng đè, Nháp,…).
2.3.2. Con ngƣời với bản năng sinh tồn và bản năng xâm hại
Bản năng sống (hay bản năng sinh tồn) : là cội nguồn của ý chí sinh
tồn, đem lại nghị lực, khát vọng sống mãnh liệt, giúp con người có thể vượt
qua cả những hoàn cảnh ngặt nghèo nhất (Ăn mày dĩ vãng, Nỗi buồn chiến
tranh, Người sông Mê, )
Bản năng xâm hại (Bản năng chết) xuất hiện khi “cá thể tồn tại
những khuynh hướng vô thức tự hủy hoại bản thân…, biểu hiện ra bên
ngoài thông qua những hành vi xâm kích đối với bản thân hoặc với các đối
tượng khác”. Trong chiều hướng tiêu cực, bản năng này sẽ dẫn đến sự tự
hủy diệt của cá thể (Hoàn - Người đi vắng; Chu Quý, Thảo Miên, Tiến sĩ N,
Ông Bân – Đi tìm nhân vật, Tính – Thoạt kì thủy…).
2.4. Con ngƣời vô thức, tâm linh
2.4.1. Giấc mơ và những ám ảnh
Các nhà văn sau 1975 khám phá cõi vô thức của con người trong
những giấc mộng và những ám ảnh không chủ định. Ở đó, ẩn ức, ám ảnh,
ham muốn, mong ước, đau khổ, tuyệt vọng, âu lo… đã được kí gửi và mang
CON NGƢỜI CÁ NHÂN VÀ NHỮNG ĐỔI MỚI
NGHỆ THUẬT TỰ SỰ TRONG TIỂU THUYẾT VÀ TRUYỆN NGẮN
VIỆT NAM SAU 1975
Khi đi vào thể hiện con người cá nhân, tiểu thuyết và truyện ngắn sau 1975
đã có những biến đổi toàn diện trong nghệ thuật tự sự, nổi bật là ở nghệ thuật xây
dựng nhân vật, nghệ thuật trần thuật, kết cấu và tổ chức ngôn ngữ. Luận án
không nhằm khảo sát một cách đầy đủ từng phương diện trên đây mà chỉ tập
trung tìm hiểu những khía cạnh liên quan trực tiếp đến việc thể hiện con người cá
nhân.
3.1. Nghệ thuật xây dựng nhân vật
3.1.1. Phi điển hình hóa trong xây dựng nhân vật
Đây là cách thức các nhà văn làm cho nhân vật trở nên “nhòe mờ”
trong tính khái quát nhưng đậm đặc trong tính cá thể, tính độc đáo và tính
không lặp lại. Trong nhiều tác phẩm, nhân vật chỉ tồn tại thực bằng những
ám ảnh tâm thức (Người sông Mê, Trí nhớ suy tàn, Thoạt kì thủy…).Thủ
pháp phi điển hình hóa được thể hiện khá nổi trội trên hai phương diện: mờ
hóa tiểu sử, nhân dạng và phá vỡ những khung tính cách của nhân vật
(Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành, Mùa lá rụng trong vườn, Thoạt kì
thủy, Người đi vắng, Người sông Mê,…).Xây dựng con người là những cá
thể không giống ai, chỉ đại diện cho chính bản thân mình với những ứng xử
thật khác biệt, các nhà văn cho thấy sự tồn tại cùng một lúc nhiều bản ngã
trong một con người, biểu hiện tính chất sinh động của chính nó trong đời
sống thực tại.
3.1.2. Độc thoại nội tâm và kĩ thuật dòng ý thức
Đi sâu vào miêu tả nội tâm nhân vật, tiểu thuyết và truyện ngắn Việt
Nam sau 1975 hết sức chú trọng đến độc thoại nội tâm và kĩ thuật dòng ý
thức. Khai thác sức mạnh của độc thoại nội tâm và dòng ý thức, các nhà
văn sau 1975
thể hiện được “tính chất tức thì của dòng tâm tư (Và đó chính
góc khuất trong đời sống của nhân vật (Nỗi buồn chiến tranh, Hồ Quý Ly,
Thiên thần sám hối…)
3.2.2. Tƣơng tác giữa điểm nhìn ngƣời kể chuyện và điểm nhìn nhân
vật
Tiểu thuyết, truyện ngắn hiện đại với tinh thần gia tăng tính đối thoại
đã thực hiện sự thay đổi tương quan hết sức quan trọng: nhân vật ngang
hàng với người kể chuyện, bình đẳng phát ngôn, bình đẳng thể hiện quan
điểm. Chính tại đây, ta nhận ra mối tương tác giữa điểm nhìn của người kể
chuyện và nhân vật trong tác phẩm. Hai trường nhìn: trường nhìn của chủ
thể trần thuật và trường nhìn của nhân vật song song tồn tại, thậm chí nhiều
khi giao hòa, nhập vào nhau tùy theo chủ ý của nhà văn.
Với sự soi chiếu của trường nhìn người kể chuyện và trường nhìn
nhân vật, con người cá nhân hiện lên không khuôn cứng một chiều, không
đơn trị. Ngược lại, nó sinh động trong tính đa chiều, đa trị, đủ đầy các yếu
tố của con người theo đúng nghĩa của nó với phẩm chất của con người tự
nhiên, con người xã hội và con người tâm linh (Chiếc thuyền ngoài xa, Cỏ
lau, Nỗi buồn chiến tranh, Cơ hội của Chúa…).
3.2.3. Điểm nhìn không gian và điểm nhìn thời gian
Con người cá nhân với cảm thức cô đơn được thể hiện rõ nhất dưới
điểm nhìn không gian với những không gian đặc trưng là không gian cá
nhân tù đọng, bế tắc, không gian lưu lạc, vô định (Thiên sứ, Đám cưới
không có giấy giá thú, Cánh đồng bất tận, China town, Và khi tro bụi,
Quyên…)
Con người còn được soi chiếu từ điểm nhìn thời gian mang dấu ấn cá
nhân. Thời gian nhiều chiều và liên tục chuyển đổi, luân phiên, gấp khúc
thay thế lẫn nhau, cách dán ghép bởi nhiều mảnh vỡ xen lồng giữa quá khứ
và hiện tại khiến cho cấu trúc truyện nhiều khi trở nên “rối bời”, khó đọc,
nhưng hết sức phù hợp với việc thể hiện dòng ý thức của nhân vật (Cánh
đồng bất tận, Nỗi buồn chiến tranh, Trí nhớ suy tàn).
3.3. Kết cấu
mới”- gửi gắm quan niệm hiện đại về con người và thế giới. Rõ nét nhất là các
sáng tác “giả cổ tích”, “giả truyền thuyết”, “giả lịch sử” với đậm đặc các chi tiết
Liêu trai, các huyền tích, mô típ “huyền kì” quen thuộc, thậm chí dùng chính
huyền thoại để giải thiêng, khiến con người không còn ảo tưởng về cái có thực,
đồng thời dùng ảo giác về cái không có thực để làm cơ sở kiểm định đạo đức và
tâm linh của con người. Phạm Thị Hoài, Nguyễn Huy Thiệp, Hồ Anh Thái,
Võ Thị Hảo là những tác giả tiêu biểu có sử dụng kết cấu này.
3.4. Tổ chức ngôn ngữ hƣớng tới tính đa thanh, tính cá thể
Mang đặc trưng riêng của văn học giai đoạn mới, dân chủ và cởi mở, văn
xuôi sau 1975 vì vậy khá phóng túng trong ngôn ngữ trần thuật. Trong ngôn ngữ
không còn tồn tại duy nhất tiếng nói toàn tri của nhà văn - người biết hết. Ngược
lại, tổ chức ngôn ngữ văn xuôi hướng đến tính đa giọng, đa thanh, tính cá thể.
Chính nhờ đặc điểm này, văn xuôi có cơ hội thể hiện cái nhìn nhiều chiều, dân
chủ, bình đẳng, độc lập về con người cá nhân.
3.4.1. Ngôn ngữ đa thanh – sự thể hiện nhu cầu đối thoại cá nhân
Tiểu thuyết và truyện ngắn sau 1975 khá thành công khi tạo dư âm
đối thoại nhiều chiều về con người cá nhân và đời sống hiện thực từ việc tổ
chức những tiếng nói xã hội khác nhau, những tiếng nói cá nhân khác nhau
trong tác phẩm.
Trong xu hướng nhấn mạnh đến con người cá nhân, các nhà văn hiện
đại ưu tiên nhường lời cho nhân vật, làm nổi bật nhân vật thay vì người kể
chuyện (như văn học sử thi giai đoạn trước). Nhà văn hết sức nhạy bén, tinh
tế khi khai thác sắc thái đa dạng, những biến đổi của ngữ điệu trong tác
phẩm. Từ đó, người đọc vừa “nghe” thấy nhân vật, vừa “nghe” thấy người
kể chuyện. Nội dung, tư tưởng được truyền nhận trong tác phẩm vì vậy
hoàn toàn khách quan, tính hoàn tất đối với những gì được đánh giá cũng bị
phá bỏ. Sự dân chủ trong ngôn ngữ được thiết lập, tạo ra những hiệu ứng
thẩm mỹ nhiều chiều đối với độc giả.
Tiêu biểu cho khuynh hướng sử dụng ngôn ngữ đa thanh trong tiểu
thuyết và truyện ngắn sau 1975 có thể kể đến là Nguyễn Minh Châu, Phạm
Thu Huệ, Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Ngọc Tư ….
Khảo sát tiểu thuyết và truyện ngắn sau 1975, chúng tôi hướng sự chú ý
đến những cách tân cơ bản trong nghệ thuật thể hiện con người cá nhân ở những
phương diện cụ thể. Thủ pháp phi điển hình hóa gắn bó khá chặt chẽ với tính đa
ngã, cá biệt, đặc biệt là sự tẩy trắng cá tính, dấu hiệu biến mất của con người cá
nhân trong tiểu thuyết và truyện ngắn. Đi sâu vào miêu tả tâm lí nhân vật, thủ
pháp độc thoại nội tâm và kĩ thuật dòng ý thức được vận dụng đến tối đa. Gắn
với con người tâm linh, vô thức, thủ pháp huyền thoại hóa phát huy mạnh mẽ
khả năng khai thác những bí ẩn khó đoán của con người. Thể hiện cái nhìn dân
chủ, gia tăng tính đối thoại, tôn trọng tối đa nhận thức cá nhân, tiểu thuyết và
truyện ngắn sau 1975 hết sức linh động trong tổ chức điểm nhìn trần thuật. Chú
trọng miêu tả thế giới nội tâm, kết cấu dòng ý thức giống như một tất yếu nghệ
thuật, cuốn hút người đọc và giới nghiên cứu. Ảnh hưởng bởi chủ nghĩa hậu hiện
đại, chủ nghĩa giải cấu trúc, kết cấu phân mảnh thể hiện tính phân rã, riêng lẻ của
các cá thể, đặc biệt là trạng thái cô đơn của con người. Bên cạnh đó, tổ chức
ngôn ngữ hướng tới tính đa thanh, tính cá thể góp phần mở ra cái nhìn nhiều
chiều về con người cá nhân trong trạng thái hiện sinh của chính nó.
Trên thực tế, những đổi mới trong nghệ thuật thể hiện con người cá nhân
còn đa dạng, phong phú hơn nhiều. Tuy nhiên, nó đòi hỏi một sự đầu tư kĩ càng
trong một công trình nghiên cứu chuyên sâu khác.