(TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC) PHÁP LUẬT VỀ MUA BÁN DOANH NGHIỆP Ở VIỆT NAM - Pdf 40

1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

TRẦN THỊ BẢO ÁNH

PHÁP LUẬT VỀ MUA BÁN DOANH NGHIỆP
Ở VIỆT NAM

Chuyên ngành : Luật Kinh tế
Mã số

: 62 38 01 07

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2014


2
Công trình được hoàn thành tại:
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

Người hướng dẫn khoa học:

1. PGS.TS Nguyễn Viết Tý
2. TS Phan Chí Hiếu


nhập doanh nghiệp tương đối rõ ràng, trong khi đó các quy định pháp luật
về mua bán doanh nghiệp chưa thống nhất, thiếu tính toàn diện. Hầu hết
các công trình nghiên cứu về mua bán doanh nghiệp dưới góc độ hẹp như
mua bán công ty (không nghiên cứu mua bán doanh nghiệp tư nhân, hợp
tác xã) hoặc nghiên cứu về hợp đồng mua bán doanh nghiệp trong các bài
viết hội thảo chưa đánh giá được tổng thể pháp luật về mua bán doanh
nghiệp. Từ đó đặt ra yêu cầu cần phải có các công trình khoa học pháp lý
chuyên sâu hơn nghiên cứu về mua bán doanh nghiệp. Vì vậy, nghiên cứu
pháp luật về mua bán doanh nghiệp là một đề tài gợi mở ý tưởng cho nghiên
cứu sinh lựa chọn để triển khai thành công trình luận án tiến sĩ luật học.
Hai là, ở góc độ cạnh tranh, mua bán doanh nghiệp được hiểu là hành
vi tập trung kinh tế gắn với quá trình mà số lượng các doanh nghiệp độc
lập cạnh tranh trên thị trường bị giảm đi thông qua các hành vi sáp nhập,
hợp nhất, mua lại doanh nghiệp, liên doanh và các hành vi tập trung kinh
tế khác. Các Mác đã phát hiện ra quy luật đầy tính nghịch lý: Cạnh tranh
làm phát sinh tập trung kinh tế nhưng tập trung kinh tế đến một mức độ
nhất định lại tiêu diệt cạnh tranh và bắt buộc Nhà nước phải điều chỉnh


4
pháp luật đối với tập trung kinh tế. Đó cũng là một lý do cần phải có công
trình nghiên cứu luật học đánh giá pháp luật và tình hình thực thi pháp luật
cạnh tranh để kiểm soát các thương vụ mua bán doanh nghiệp nhằm bảo vệ
cạnh tranh trên thị trường và phúc lợi chung của xã hội.
Với những lý do đó tôi lựa chọn "Pháp luật về mua bán doanh nghiệp
ở Việt Nam" làm đề tài luận án tiến sĩ.
2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án
Đối tượng nghiên cứu của luận án là hoạt động mua bán doanh nghiệp
ở Việt Nam hiện nay.
Phạm vi nghiên cứu của luận án: Với tính chất là luận án tiến sĩ Luật

mua bán doanh nghiệp được nghiên cứu dưới hình thức chủ sở hữu doanh
nghiệp chuyển nhượng toàn bộ cổ phần, phần vốn góp chi phối cho bên
mua. Vì vậy, các hình thức doanh nghiệp tăng vốn điều lệ và bên góp vốn
vào vốn điều lệ nhằm mục đích chi phối, kiểm soát hoạt động kinh doanh
của doanh nghiệp không thuộc phạm vi nghiên cứu của luận án.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
Mục đích của luận án:
Mục đích của luận án là nghiên cứu hoạt động mua bán doanh nghiệp
dưới góc độ pháp lý và xây dựng một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về
mua bán doanh nghiệp ở Việt Nam.
Để đạt được mục đích trên, luận án đặt ra những nhiệm vụ cơ bản sau:
Thứ nhất, phân tích cơ sở lý luận của hoạt động mua bán doanh nghiệp
bằng việc làm rõ quan niệm về mua bán doanh nghiệp ở một số quốc gia
và quan niệm mua bán doanh nghiệp ở Việt Nam; làm rõ đặc điểm mua
bán doanh nghiệp trong mối quan hệ so sánh với một số quan hệ pháp luật
khác; phân tích các nội dung cơ bàn của pháp luật về mua bán doanh nghiệp.
Trong quá trình phân tích, hoạt động mua bán doanh nghiệp được xem xét
dưới góc độ so sánh với quy định của một số nước trên thế giới làm phong
phú hơn cũng như toàn diện và hệ thống hơn về hoạt động này.
Thứ hai, nghiên cứu quy định của pháp luật hiện hành về hoạt động
mua bán doanh nghiệp, chỉ ra những tồn tại bất cập của hệ thống pháp luật
về mua bán doanh nghiệp và phân tích, bình luận những kinh nghiệm điều
chỉnh pháp luật về mua bán doanh nghiệp ở một số quốc gia; Phân tích,
đánh giá thực tiễn hoạt động mua bán doanh nghiệp làm nền tảng để đề ra
giải pháp phù hợp.
Thứ ba, đề xuất giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về mua bán doanh
nghiệp ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
4. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận án
Luận án được hình thành trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa
Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng và Nhà nước

mua bán doanh nghiệp đáp ứng nhu cầu phát triển các hoạt động mua bán
doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường, đặc biệt trong xu thế hội nhập
kinh tế quốc tế.
6. Kết cấu của luận án
Ngoài Lời nói đầu, Phần tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài luận
án, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, luận án gồm có 3 chương, cụ
thể như sau:


7
Chương 1: Những vấn đề lý luận về mua bán doanh nghiệp và pháp
luật về mua bán doanh nghiệp.
Chương 2: Thực trạng pháp luật về mua bán doanh nghiệp ở Việt Nam.
Chương 3: Yêu cầu và giải pháp hoàn thiện pháp luật về mua bán
doanh nghiệp ở Việt Nam.
PHẦN TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
Có khá nhiều công trình khoa học từ giáo trình luật học, sách tham
khảo, luận án, luận văn, các bài báo đến bài tham luận tại các hội thảo đã
nghiên cứu về mua bán doanh nghiệp. Có thể kể điển hình như:
M&A- Mua lại và sáp nhập căn bản, các bước quan trọng trong quá
trình mua bán doanh nghiệp và đầu tư của tác giả Michael E.S. Frankel,
Nxb Tri thức, Hà Nội (2009) và Mua lại và sáp nhập từ A đến Z của
Andrew J.Sherman, Milledge A. Hart, Nxb Tri thức, Hà Nội (2009); Cuốn
sách M&A- Mua lại và sáp nhập thông minh, kim chỉ nam trên trận đồ sáp
nhập và mua lại của tác giả Scott Moeller & Chris Brady, Nxb Tri thức,
Hà Nội (2009); Bài viết: Các vấn đề cần lưu ý khi tham gia giao dịch
M&A tại Việt Nam của Luật sư nước ngoài Gregoty Crovo (Công ty
Kelvin ChiaPartnership); Báo cáo tập trung kinh tế tại Việt Nam- Hiện
trạng và dự báo (2012), Cục quản lý cạnh tranh, Bộ Công thương, Hà Nội;

quy định pháp luật về mua bán doanh nghiệp, quy định về M&A của một
số nước. Đây là nội dung tiếp cận mua bán doanh nghiệp của luận án khác
với nghiên cứu về mua bán doanh nghiệp của các công trình khoa học của
các tác giả trong và ngoài nước.
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ MUA BÁN DOANH NGHIỆP VÀ
PHÁP LUẬT VỀ MUA BÁN DOANH NGHIỆP
1.1. Khái quát về mua bán doanh nghiệp
1.1.1. Quan niệm về mua bán doanh nghiệp
Trên cơ sở phân tích cách hiểu và về mua bán doanh nghiệp ở một số
quốc gia, quy định của Luật Cạnh tranh (2004), Luật Doanh nghiệp
(2005), luận án đã đưa ra quan niệm về mua bán doanh nghiệp như sau:
Mua bán doanh nghiệp là việc chủ sở hữu doanh nghiệp chuyển
nhượng toàn bộ vốn hoặc chuyển nhượng phần vốn góp, cổ phần chi phối
cho bên nhận chuyển nhượng. Bên nhận chuyển nhượng có quyền sở hữu


9
toàn bộ hoặc một phần doanh nghiệp và kiểm soát được hoạt động kinh
doanh của doanh nghiệp được mua lại.
1.1.2. Đặc điểm của mua bán doanh nghiệp
Một là, đối tượng của quan hệ mua bán là doanh nghiệp với tính chất
là “hàng hóa” đặc biệt trong quan hệ mua bán doanh nghiệp.
Hai là, hệ quả của mua bán doanh nghiệp là bên mua phải kiểm soát
được hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp mục tiêu.
Ba là, chủ thể có quyền bán doanh nghiệp phải là chủ sở hữu doanh
nghiệp, chủ thể mua doanh nghiệp là các tổ chức, cá nhân có nhu cầu mua
doanh nghiệp và có quyền mua doanh nghiệp.
Bốn là, hình thức pháp lý ghi nhận các quan hệ mua bán doanh nghiệp
là hợp đồng, có thể là hợp đồng mua bán doanh nghiệp; hợp đồng chuyển

tài sản là tài sản của doanh nghiệp mục tiêu. Mua bán tài sản của doanh
nghiệp chỉ làm thay đổi quyền sở hữu phần tài sản nào đó của từ bên bán
sang bên mua tài sản. Đối tượng của quan hệ mua bán doanh nghiệp là
doanh nghiệp.
Hai là: Chủ thể bán tài sản và chủ thể có quyền bán doanh nghiệp
khác nhau
Doanh nghiệp chỉ là đối tượng của quan hệ mua bán doanh nghiệp,
doanh nghiệp không thể tự bán mình được. Vì vậy, chủ thể có quyền
bán doanh nghiệp là chủ sở hữu doanh nghiệp đó. Khác với mua bán
doanh nghiệp, theo lý thuyết chung về quyền của chủ sở hữu tài sản đối
với tài sản thì chủ thể có quyền bán tài sản của doanh nghiệp chính là
doanh nghiệp.
Phân biệt mua bán doanh nghiệp và sáp nhập doanh nghiệp
Đối tượng của mua bán và sáp nhập doanh nghiệp khác nhau: Mua
bán doanh nghiệp là việc chuyển quyền sở hữu toàn bộ hoặc một phần
doanh nghiệp mục tiêu cho bên mua. Sáp nhập doanh nghiệp là việc
chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của doanh
nghiệp bị sáp nhập sang doanh nghiệp nhận sáp nhập.
Hệ quả pháp lý sau khi sáp nhập và mua bán doanh nghiệp khác nhau:
Doanh nghiệp bị sáp nhập chấm dứt sự tồn tại sau khi thực hiện sáp nhập.
Khác với sáp nhập doanh nghiệp, doanh nghiệp là đối tượng trong thương
vụ mua bán vẫn tồn tại trước và trong và sau quá trình mua bán.
Phân biệt mua bán doanh nghiệp và các hình thức đầu tư tài chính
thông qua chuyển nhượng cổ phần, phần vốn góp của thành viên, cổ đông
của công ty.
Chỉ được coi là mua bán doanh nghiệp khi việc chuyển nhượng phần
vốn góp dẫn đến hệ quả bên nhận chuyển nhượng cổ phần, phần vốn góp
kiểm soát, chi phối được hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp mục tiêu.



vụ mua bán doanh nghiệp. Cụ thể, pháp luật về mua bán doanh nghiệp
theo nghĩa hẹp với nội hàm: quy định về các hình thức mua bán doanh
nghiệp; quy định về chủ thể với vai trò là bên bán, bên mua doanh nghiệp;
quy định về hợp đồng mua bán doanh nghiệp; quy định về thủ tục mua bán


12
doanh nghiệp; quy định về kiểm soát doanh nghiệp dưới góc độ của pháp
luật cạnh tranh
1.2.2. Nội dung pháp luật về mua bán doanh nghiệp
Nội dung của pháp luật về mua bán doanh nghiệp được hiểu theo
nghĩa hẹp như đã trình bày ở nhóm tiểu mục 1.2.1 bao gồm các quy định
cụ thể sau: Quy định về các hình thức mua bán doanh nghiệp, quy định về
chù thể mua bán doanh nghiệp; Quy định về hợp đồng- phương thức thực
hiện các giao dịch mua bán doanh nghiệp và quy định về thủ tục mua bán
doanh nghiệp
Kết luận chương 1
1. Mua bán doanh nghiệp không chỉ làm thay đổi tình trạng sở hữu doanh
nghiệp mà còn làm thay đổi hoạt động quản trị điều hành doanh nghiệp.
2. Đối tượng mua bán doanh nghiệp là doanh nghiệp. Doanh
nghiệp là đối tượng của thương vụ mua bán phải giữ nguyên tư cách
pháp lý và sau thương vụ mua bán doanh nghiệp chỉ thay đổi về chủ sở
hữu doanh nghiệp.
3. Các hình thức mua bán doanh nghiệp ở Việt Nam bao gồm: (i) mua
bán toàn bộ doanh nghiệp thông qua việc chủ sở hữu doanh nghiệp chuyển
nhượng toàn bộ phần vốn góp, cổ phần cho bên mua; (ii) mua bán một
phần doanh nghiệp là việc chủ sở hữu chuyển nhượng phần vốn góp chi
phối để bên nhận chuyển nhượng có thể kiểm soát hoạt động của doanh
nghiệp. Tỷ lệ vốn chi phối để kiểm soát được hoạt động của doanh nghiệp
được quy định tại các văn bản pháp luật hoặc quy định tại Điều lệ doanh

bán các tổ chưc tín dụng… Lý do để Nhà nước xây dựng các quy định
pháp lý điều chỉnh hoạt động mua lại doanh nghiệp trong một số lĩnh vực
đặc thù như mua bán tổ chức tín dụng nhằm bình ổn nền kinh tế quốc gia
trong những thời kỳ suy thoái hoặc hạn chế những tác động tiêu cực của
kinh tế thị trường tới nền kinh tế- xã hội .
2.1.2. Mua bán một phần doanh nghiệp
Mua bán một phần doanh nghiệp là việc chủ sở hữu doanh nghiệp
chuyển quyền sở hữu một phần doanh nghiệp cho bên mua để bên mua có
quyền kiểm soát doanh nghiệp mục tiêu. Hình thức mua bán một phần
doanh nghiệp bao gồm: các thành viên, cổ đông công ty chuyển nhượng
phần vốn góp, cổ phần chi phối (gọi chung là phần vốn góp chi phối) cho
bên nhận chuyển nhượng để bên nhận chuyển nhượng phần vốn góp có thể
kiểm soát hoạt động của doanh nghiệp mục tiêu. Tỷ lệ phần vốn góp chi
phối do pháp luật hoặc Điều lệ doanh nghiệp quy định. Bên mua một phần
doanh nghiệp trở thành các đồng chủ sở hữu và phải thực hiện thủ thủ tục


14
đăng ký thay đổi chủ sở hữu theo quy định của pháp luật. Cơ sở pháp lý để
thực hiện hình thức mua bán toàn bộ doanh nghiệp là quy định của pháp
luật về doanh nghiệp, pháp luật chứng khoán và pháp luật đầu tư.
Mua bán chi nhánh, đơn vị hạch toán phụ thuộc của doanh nghiệp
không phải là mua bán doanh nghiệp bởi vì: (i) đơn vị hạch toán phụ
thuộc, đơn vị trực thuộc của doanh nghiệp sẽ không có tư cách pháp nhân,
không phải là một chủ thể pháp lý độc lập, không phải là doanh nghiệp;
(ii) Trên bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp thì chi nhánh, đơn vị hạch
toán phụ thuộc cũng không được thể hiện là tài sản của doanh nghiệp.
Tùy từng trường hợp mua bán bộ phận doanh nghiệp có thể được coi là mua
bán doanh nghiệp phụ thuộc vào hình thức pháp lý của bộ phận doanh nghiệp.
2.1.3. Mua bán tài sản của doanh nghiệp

khác biệt.
Đối với các doanh nghiệp không phải là doanh nghiệp 100% vốn nhà
nước, pháp luật không có quy định cụ thể về đối tượng nào được quyền
mua doanh nghiệp. Vì vậy, một câu hỏi được đặt ra là: những đối tượng
không được quyền thành lập, quản lý doanh nghiệp tại Việt Nam theo quy
định tại khoản 2 Điều 13 Luật Doanh nghiệp (2005) có quyền mua doanh nghiệp
không? Về lý thuyết, các đối tượng trên chỉ bị cấm thành lập doanh nghiệp mà
không bị cấm mua bán doanh nghiệp nên họ vẫn có quyền mua doanh nghiệp
với lập luận mua doanh nghiệp nhưng không tiếp tục kinh doanh.
Khái niệm nhà đầu tư nước ngoài trong các văn bản pháp luật của Việt
Nam chưa thống nhất, nhà đầu tư nước ngoài bị giới hạn sở hữu cổ phần
trong một số lĩnh vực, ngành nghề kinh doanh.
Thứ nhất, cách hiểu về nhà đầu tư nước ngoài trong các văn bản pháp
luật hiện hành chưa thống nhất.
Thứ hai, mặc dù đã có cam kết gia nhập WTO nhưng vẫn tồn tại một
số quy định pháp luật hiện hành chưa xác định rõ ràng về việc nhà đầu tư
nước ngoài có thể gia nhập thị trường thông qua hoạt động mua bán doanh
nghiệp không? Ví dụ: Trong lĩnh vực phân phối, kể từ ngày 1/1/2009, các
doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài sẽ được quyền phân phối tại
Việt Nam. Tuy nhiên, giới hạn cho các doanh nghiệp này chỉ được phép
mở một cơ sở phân phối. Như vậy nếu nhà đầu tư nước ngoài mua lại
doanh nghiệp phân phối của doanh nghiệp Việt Nam có hơn một cơ sở
phân phối thì sẽ vận dụng pháp luật điều chỉnh như thế nào?
2.3. Quy định về hợp đồng - phương thức thực hiện các giao dịch
mua bán doanh nghiệp
2.3.1. Các loại hợp đồng- phương thức thực hiện các giao dịch mua
bán doanh nghiệp
Tùy thuộc vào quan niệm về mua bán doanh nghiệp mà quy định về
các loại hợp đồng mua bán doanh nghiệp ở các quốc gia có thể khác nhau.


Nghị định số 109/2008/NĐ- CP về bán, giao doanh nghiệp 100% vốn nhà
nước; Điều 43 Nghị định số 43/2010/NĐ-CP ngày 15/04/2010 về đăng ký
doanh nghiệp; Điều 44 Nghị định số 43/2010/NĐ-CP ngày 15/04/2010 về
đăng ký doanh nghiệp.
2.4. Quy định về thủ tục mua bán doanh nghiệp
2.4.1. Kiểm soát mua bán doanh nghiệp dưới góc độ điều chỉnh của
pháp luật cạnh tranh


17
Một là, việc sử dụng tiêu chí thị phần kết hợp đến một tỷ lệ nhất định
trên thị trường liên quan làm căn cứ để kiểm soát tập trung kinh tế cho
thấy Luật Cạnh tranh chỉ kiểm soát các trường hợp tập trung kinh tế theo
chiều ngang. Thị trường liên quan bao gồm thị trường sản phẩm liên quan
và thị trường địa lý liên quan. Vì vậy, hành vi tập trung kinh tế (trong đó có
mua lại doanh nghiệp) theo chiều dọc, tập trung kinh tế hỗn hợp không cùng
thị trường liên quan sẽ không chịu sự kiểm soát của pháp luật cạnh tranh.
Hai là, pháp luật cạnh tranh căn cứ vào tiêu chí thị phần kết hợp để
yêu cầu các doanh nghiệp phải thực hiện thủ tục thông báo tập trung kinh
tế tại Cục quản lý cạnh tranh là một quy định khó khăn cho doanh nghiệp
trong quá trình doanh nghiệp thực thi pháp luật cạnh tranh. Lý do là vì mỗi
một doanh nghiệp chỉ có thể biết về doanh số của mình mà không có nghĩa
vụ phải biết về doanh số của các đối thủ cạnh tranh trên thị trường liên
quan để làm căn cứ tính tỷ lệ thị phần của từng doanh nghiệp từ đó tính tới
tỷ lệ thị phần kết hợp của các doanh nghiệp tham gia tập trung kinh tế.
Ba là, cách thức kiểm soát tập trung kinh tế theo quy định tại Điều 18
Luật Cạnh tranh (2004) chưa thực sự hiệu quả.
Bốn là, quy định về chủ thể tập trung kinh tế tại khoản 1 Điều 2 Luật
cạnh tranh (2004) không tương thích với quy định chủ thể tập trung kinh tế
tại điểm b (2004) chủ thể này.

hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh. Quy định về hợp đồng mua bán
doanh nghiệp ở Việt Nam đơn giản, sơ sài so với quy định về hợp đồng
mua bán doanh nghiệp ở các quốc gia khác.
Chương 3
YÊU CẦU VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT
VỀ MUA BÁN DOANH NGHIỆP Ở VIỆT NAM
3.1. Yêu cầu đối với việc hoàn thiện pháp luật về mua bán doanh
nghiệp ở Việt Nam
3.1.1. Hoàn thiện pháp luật về mua bán doanh nghiệp phải trên cơ sở
đổi mới tư duy quản lý nhà nước và đảm bảo sự công bằng, tiến bộ xã hội
3.1.2. Hoàn thiện pháp luật về mua bán doanh nghiệp ở Việt Nam
phải phản ánh thực tiễn mua bán doanh nghiệp và đặt ra yêu cầu hoàn
thiện pháp luật về mua bán doanh nghiệp phải đảm bảo tính khả thi,
đáp ứng đòi hỏi thực tiễn
3.1.3. Hoàn thiện pháp luật về mua bán doanh nghiệp phải đảm
bảo tính minh bạch, thống nhất
3.1.4. Hoàn thiện pháp luật về mua bán doanh nghiệp ở Việt Nam
phải đáp ứng các yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế


19
3.2. Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về mua bán doanh
nghiệp ở Việt Nam
Qua việc phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến mua bán doanh nghiệp
và yêu cầu của việc hoàn thiện pháp luật về mua bán doanh nghiệp, luận
án đề ra các giải pháp sau:
3.2.1. Nhóm giải pháp chung
)Hoàn thiện quy định pháp luật về quản lý nhà nước đối với hoạt động
mua bán doanh nghiệp: phân công trách nhiệm và sự phối hợp trong hoạt
động quản lý mua bán doanh nghiệp của các cơ quan hữu quan

chính thức, thống nhất về các thương vụ mua bán doanh nghiệp trên thực
tế. Môt số công ty có hoạt động thu tập dữ liệu về mua bán doanh nghiệp
nhưng các dữ liệu này chỉ mang tính tham khảo, chưa đươc thừa nhận
chính thống của Nhà nước. Vì vậy, song song với việc xây dựng hệ thống
cơ sở dữ liệu quốc gia về đăng ký doanh nghiệp, việc xây dựng một hệ
thống cơ sở dữ liệu quốc gia về mua bán doanh nghiệp nhằm phục vụ hoạt
động tư vấn, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước và hiệu quả thực thi pháp
luật về mua bán doanh nghiệp. Ví dụ: khi cơ quan đăng ký kinh doanh
nhận được hồ sơ thay đổi đăng ký kinh doanh của doanh nghiệp do thực
hiện tập trung kinh tế thì cơ quan đăng ký kinh doanh có thể tra cứu các dữ
liệu về thị phần của doanh nghiệp đó trên thị trường.
Hoàn thiện pháp luật về kế toán, kiểm toán doanh nghiệp nhằm minh
bạch, công khai về doanh thu của doanh nghiệp trên thị trường liên quan.
3.2.2. Nhóm giải pháp cụ thể
3.2.2.1. Hoàn thiện các quy định của pháp luật cạnh tranh điều chỉnh
mua bán doanh nghiệp (được coi là một hành vi tập trung kinh tế) nhằm
nâng cao hiệu quả kiểm soát tập trung kinh tế
Hoàn thiện các quy định của pháp luật cạnh tranh về kiểm soát tập
trung kinh tế
Một là, thay đổi quy định về tiêu chí kiểm soát tập trung kinh tế từ tiêu
chí thị phần sang tiêu chí doanh thu kết hợp tiêu chí thị phần.
Kiểm soát tập trung kinh tế qua tiêu chí thị phần không bị thay đổi về
thời gian. Việc sử dụng tiêu chí thị phần để xác định ngưỡng thông báo tập
trung kinh tế sẽ giúp cơ quan cạnh tranh có được đánh giá ban đầu chính
xác hơn về khả năng gây hạn chế của vụ việc. Tuy nhiên, thực sự là khó
khăn cho doanh nghiệp khi phải tiến hành công việc xác định được thị
phần kết hợp để thực hiện thủ tục thông báo tập trung kinh tế. Bởi vì muốn
xác định được thị phần thì công việc đầu tiên doanh nghiệp phải xác định
là xác định được thị trường liên quan. Xác định thị trường liên quan đòi
hỏi thời gian và chi phí cũng như nghiệp vụ chuyên môn mà ngay cả cơ

đổi lại, nội hàm khái niệm doanh nghiệp sẽ không bao gồm các chủ thể
kinh doanh hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên không
phải đăng ký kinh doanh.
Sửa đổi khái niệm mua lại doanh nghiệp tại Luật Cạnh tranh theo
hướng mua lại doanh nghiệp là việc chuyển quyền sở hữu doanh nghiệp
thông qua hình thức chuyển nhượng cổ phần, phần vốn góp của chủ sở
hữu doanh nghiệp
Theo lý thuyết chung của Luật Doanh nghiệp thì góp vốn để tạo thành
vốn điều lệ của doanh nghiệp tại thời điểm thành lập doanh nghiệp hoặc
trong quá trình doanh nghiệp hoạt động là cách để chủ thể góp vốn trở
thành chủ sở hữu doanh nghiệp. Chủ thể nào muốn mua lại doanh nghiệp


22
thì chủ thể đó phải “mua lại” toàn bộ hoặc phần vốn góp chi phối của chủ
sở hữu doanh nghiệp đủ để tham gia vào bộ máy quản trị doanh nghiệp và
kiểm soát được doanh nghiệp đó. Áp dụng nguyên lý góp vốn để trở thành
chủ sở hữu doanh nghiệp thì mua lại tài sản không phải là cách thức hình
thành tư cách chủ sở hữu mới của doanh nghiệp bán tài sản; bên mua tài
sản không thể tham gia quản trị và kiểm soát hoạt động kinh doanh của
doanh nghiệp đã bán tài sản. Vì vậy, quy định về mua lại tài sản của Luật
Cạnh tranh phải sửa đổi theo hướng mua lại doanh nghiệp là phải mua lại
phần vốn góp của chủ sở hữu doanh nghiệp đến tỷ lệ chi phối đủ để kiểm
soát được hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp mục tiêu.
3.2.2.3. Bổ sung quy định chủ thể có quyền mua doanh nghiệp
Ngoài các quy định tại các một số văn bản pháp luật và điều ước quốc
tế trên, hiện nay chưa có quy định về tổ chức, cá nhân nào có quyền mua
doanh nghiệp (doanh nghiệp đó không phải doanh nghiệp 100% vốn nhà
nước). Nhằm giải quyết những vướng mắc về khoa học và quá trình thực
thi pháp luật khi xác định chủ thể có quyền mua doanh nghiệp để thực hiện

mua bán doanh nghiệp tư nhân
Một là, sửa đổi quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2005 về việc
bên mua doanh nghiệp tư nhân phải “đăng ký kinh doanh lại” bằng cụm
từ bên mua thực hiện “đăng ký thay đổi chủ doanh nghiệp tư nhân”.
Sửa đổi quy định của Luật Doanh nghiệp theo hướng giống như quy
định thay đổi chủ sở hữu doanh nghiệp tư nhân tại Điều 44 Nghị định
43/2010/NĐ- CP ngày 15/4/2010 là hợp lý vì: (i) quy định sửa đổi theo
kiến nghị sẽ phản ánh đúng bản chất của quan hệ mua bán doanh nghiệp là
việc chủ doanh nghiệp tư nhân bán tài sản thuộc sở hữu của mình và
chuyển tư cách pháp lý của doanh nghiệp tư nhân cho bên mua doanh
nghiệp; (ii) đảm bảo sự bình đẳng trong hoạt động mua bán doanh nghiệp
giữa chủ doanh nghiệp tư nhân và chủ sở hữu công ty trách nhiệm hữu hạn
một thành viên do một cá nhân làm chủ bán toàn bộ doanh nghiệp thì bên
mua doanh nghiệp đều phải thực hiện thủ tục thay đổi chủ sở hữu doanh
nghiệp; (iii) đơn giản hóa các thủ tục gia nhập thị trường cho các nhà đầu
tư kinh doanh thông qua việc thực hiện mua bán doanh nghiệp tư nhân.
Hai là, bổ sung quy định về chuyển đổi doanh nghiệp tư nhân thành
công ty cổ phần; chuyển đổi công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên
thành công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên.
Theo các nghị định hướng dẫn Luật Doanh nghiệp (2005) thì chủ
doanh nghiệp tư nhân có quyền bán một phần doanh nghiệp tư nhân cho
người khác thông qua chuyển đổi doanh nghiệp tư nhân thành công ty
trách nhiệm hữu hạn. Tuy nhiên, pháp luật không quy định về trường hợp
doanh nghiệp tư nhân bán doanh nghiệp của mình để hình thành một
doanh nghiệp mới là công ty cổ phần. Do vậy, hiện nay, doanh nghiệp tư
nhân muốn chuyển đổi thành công ty cổ phần phải chuyển đổi qua hai giai
đoạn: giai đoạn một là chuyển đổi doanh nghiệp tư nhân thành công ty


24

các doanh nghiệp tương tự như doanh nghiệp đã bán và làm bên mua
mất khả năng cạnh tranh trên thương trường nhằm bảo đảm lợi ích của
bên mua doanh nghiệp.
Kết luận chương 3


25
1. Việc đề ra các yêu cầu và giải pháp hoàn thiện pháp luật về mua
bán doanh nghiệp là đòi hỏi khách quan và cần thiết khi khung khổ pháp lý
điều chỉnh về mua bán doanh nghiệp ở Việt Nam vẫn chưa đồng bộ, các
quy định về mua bán doanh nghiệp nằm rải rác trong các văn bản pháp luật
và tồn tại nhiều bất cập. Yêu cầu hoàn thiện pháp luật về mua bán doanh
nghiệp phải phù hợp với đặc thù của nền kinh tế thị trường Việt Nam; phải
đảm tính thống nhất, minh bạch và khả thi của pháp luật mua bán doanh
nghiệp đồng thời đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế.
2. Những giải pháp này sẽ góp phần nâng cao hiệu quả điều chỉnh
pháp luật về mua bán doanh nghiệp và thúc đẩy sự phát triển bền vững của
hoạt động mua bán doanh nghiệp trên thị trường mua bán doanh nghiệp ở
Việt Nam.
KẾT LUẬN
1. Mua bán doanh nghiệp là một hoạt động đầu tư xuất hiện ở Mỹ từ
đầu thế kỷ XX và đến nay đã phát triển trên phạm vi toàn cầu. Mua bán
doanh nghiệp có tác động khác nhau tới nền kinh tế- xã hội. Một mặt, mua
bán doanh nghiệp điều tiết nguồn vốn kinh doanh diễn ra hợp lý, hiệu quả
hơn. Mặt khác, mua bán doanh nghiệp ngày càng diễn ra dưới các hình
thức đa dạng phức tạp, có thể gây hạn chế cạnh tranh trên thị trường. Vì
vậy, pháp luật điều chỉnh mua bán doanh nghiệp ở các quốc gia chủ yếu
nhằm kiểm soát mua bán doanh nghiệp dưới giác độ điều chỉnh của pháp
luật cạnh tranh. Bên cạnh đó, các quy định pháp luật về doanh nghiệp, dân
sự, thương mại là khung khổ pháp lý ghi nhận quyền tự do mua bán doanh


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status