1
2
PHẦN MỞ ĐẦU
cầu hóa và hội nhập vào nền kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng; (ii) Sự biến đổi khí
hậu trên phạm vi toàn cầu; và (iii) Sự thay đổi về chất trong phát triển kinh tế và giảm
nghèo ở Việt Nam.
2. Tổng quan nghiên cứu
Luận án đã tổng quan các nghiên cứu trong và ngoài nước về bình đẳng giới
trong tiếp cận đất sản xuất theo 2 nhóm (i) các nghiên cứu về bình đẳng giới nói
chung; (ii) các nghiên cứu về bình đẳng giới trong tiếp cận đất đai để rút ra những
hạn chế và khoảng trống nghiên cứu cho luận án, cụ thể như sau:
- Về phạm vi nghiên cứu: Hầu hết các nghiên cứu về bình đẳng giới trong tiếp
cận đất đai đều là các nghiên cứu ngoài nước do đó bối cảnh chính sách rất khác so
với Việt Nam.
- Nội dung nghiên cứu:
• Các nghiên cứu trong và ngoài nước chủ yếu nghiên cứu tiếp cận đất đai của
phụ nữ và xem việc tăng cường khả năng tiếp cận đất của phụ nữ là tăng cường bình
đẳng giới.
• Đất đai chủ yếu được xem xét dưới góc độ là một tài sản chứ không phải là
một nguồn lực sản xuất, do đó các khía cạnh và tiêu chí đánh giá chưa phản ánh
được hết nội dung của tiếp cận đất với vai trò là nguồn lực sản xuất trực tiếp.
- Dữ liệu và Phương pháp nghiên cứu:
• Dữ liệu sử dụng cho nghiên cứu phần lớn dựa trên nguồn số liệu sơ cấp thông
qua điều tra mẫu nhỏ không mang tính đại diện cho cả nước.
• Chưa có nghiên cứu sử dụng mô hình kinh tế lượng để ước lượng mức độ bất
bình đẳng giới trong tiếp cận đất đai, đồng thời chỉ ra yếu tố ảnh hưởng tới bất bình
đẳng giới trong tiếp cận đất đai.
Với những hạn chế trên, luận án: “Bình đẳng giới trong tiếp cận đất sản xuất
cạnh tác động tích cực tới nỗ lực giảm nghèo của các quốc gia, bình đẳng giới trong
tiếp cận đất sản xuất còn góp phần gia tăng các chỉ số về sức khỏe, dinh dưỡng và giáo
dục của nền kinh tế, từ đó thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
Việt Nam là một nước đang phát triển vẫn phụ thuộc vào sản xuất nông nghiệp
và tình trạng nghèo còn chiếm một tỷ lệ tương đối cao. Nhận thức được vai trò của
bình đẳng giới trong tiếp cận đất đai đối với việc cải thiện năng suất trong nông
nghiệp, bảo đảm an ninh lương thực và giúp giảm nghèo bền vững, Chính phủ Việt
Nam trong thời gian vừa qua đã có nhiều nỗ lực đổi mới các chính sách, pháp luật
nhằm tăng cường bình đẳng giới trong tiếp cận đất sản xuất điển hình như Luật Bình
đẳng giới 2006, Luật đất đai 2003. Tuy nhiên, có thể nguyên nhân sâu xa của vấn đề
bất bình đằng giới trong tiếp cận đất đai vẫn chưa được giải quyết triệt để thông qua
các chính sách hiện hành, dẫn tới nội dung này vẫn chưa được cải thiện nhiều. Chính
vì lẽ đó, việc xây dựng được khung nghiên cứu bao gồm nội hàm, tiêu chí đánh giá và
xác định các nhân tố tác động đến bình đẳng giới trong tiếp cận đất đai, đánh giá một
cách hệ thống thực trạng bình đẳng giới trong tiếp cận đất sản xuất ở Việt Nam hiện
nay để từ đó đi tìm nguyên nhân khiến bất bình đẳng giới vẫn còn tồn tại nhằm đưa
ra các chính sách giúp cải thiện được tình trạng này là cần thiết, đặc biệt trong giai
đoạn tới, Việt Nam sẽ phải đương đầu với một loạt các vấn đề có ảnh hưởng tới quá
trình phát triển và từ đó ảnh hưởng tới vấn đề bình đẳng giới, như: (i) Quá trình toàn
3
(iii) Phân tích các nguyên nhân tác động tới hiện trạng bất bình đẳng giới trong tiếp
cận đất sản xuất ở Việt Nam
(iv) Đề xuất các chính sách nhằm thực hiện bình đẳng giới trong tiếp cận đất sản
xuất – một trong các nguồn lực sản xuất quan trọng ở Việt Nam.
3.2. Câu hỏi nghiên cứu
Để thực hiện mục tiêu tổng quát trên, các câu hỏi nghiên cứu cụ thể của luận án là:
(1) Quan điểm thế nào là bình đẳng giới trong tiếp cận đất đai dưới góc độ là một
4
6. Đóng góp chính của luận án
Luận án đã có một số đóng góp chính như sau:
- Về mặt lý luận:
(i) Các nghiên cứu trước đây chủ yếu xem xét và phân tích bình đẳng giới trong
tiếp cận đất đai dưới góc độ là một yếu tố tài sản, Luận án đã xây dựng được khung
phân tích bình đẳng giới trong tiếp cận đất đai dưới góc độ là yếu tố nguồn lực sản
xuất, theo đó bình đẳng giới trong tiếp cận đất sản xuất được xem xét theo cả 2 góc độ
là khả năng được sử dụng đất để sản xuất và khả năng sử dụng đất sản xuất để thu lợi.
(ii) Luận án đã đề xuất các khía cạnh và tiêu chí đánh giá bình đẳng giới trong
tiếp cận đất sản xuất. Cụ thể, 2 góc độ phân tích bình đẳng giới trong tiếp cận đất sản
xuất được đánh giá theo 5 khía cạnh, đó là: (1) Khả năng có đất sản xuất; (2) Nguồn
gốc đất sản xuất; (3) Được đảm bảo quyền sử dụng đất; (4) Quy mô đất sản xuất sử
dụng; (5) Năng suất đất.
(iii) Trong nghiên cứu, Luận án sử dụng cách tiếp cận định lượng với phương
pháp thống kê mô tả và mô hình hồi qui dựa trên số liệu thống kê qui mô lớn, mang
tính đại diện cho cả nước để đánh giá thực trạng bình đẳng giới trong tiếp cận đất sản
xuất ở Việt Nam (trước đây các nghiên cứu chủ yếu sử dụng phương pháp định tính và
phương pháp phân tích thống kê mô tả, hầu như có rất ít nghiên cứu sử dụng mô hình
hồi qui kinh tế lượng để phân tích, nếu có cũng chỉ dựa trên số liệu điều tra với giới
hạn đối tượng điều tra trong phạm vi nhỏ).
(iv) Với các mô hình hồi quy, bên cạnh phương pháp hồi quy Probit thông
thường, luận án sử dụng phương pháp hồi quy với thủ tục Heckman 2 bước để đảm bảo
tính không chệch và vững của các giá trị ước lượng. Ngoài ra Mô hình ước lượng phân
rã Oaxaca - Blinder cũng được sử dụng để giải thích sự khác biệt trong tiếp cận đất sản
xuất giữa hộ gia đình chủ hộ nam giới và chủ hộ nữ giới
- Về mặt thực tiễn:
Dựa vào dữ liệu thống kê có tính đại diện cho cả nước (số liệu điều tra mức sống
(iv) Qua những phát hiện thực tế, luận án đưa ra các gợi ý giải pháp, chính sách
để thực hiện bình đẳng giới trong tiếp cận đất đai dưới góc độ là 1 yếu tố nguồn lực sản
xuất tại Việt Nam trong những năm tới, cụ thể: (i) Hoàn thiện thể chế chính thức đảm
bảo bình đẳng giới trong tiếp cận đất sản xuất; (ii) Đổi mới công tác truyền thông nâng
cao nhận thức của xã hội đặc biệt là phụ nữ về quyền bình đẳng giới trong tiếp cận đất
sản xuất; (iii) Nâng cao năng lực tự thân của phụ nữ (iv) Tổ chức thực hiện và theo dõi,
đánh giá thực hiện các chính sách liên quan đến quyền bình đẳng giới trong tiếp cận
đất sản xuất; (v) Thúc đẩy hoạt động của thị trường đất nông nghiệp.
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN NGHIÊN CỨU BÌNH ĐẲNG GIỚI
TRONG TIẾP CẬN ĐẤT SẢN XUẤT
1.1. Bình đẳng giới
1.1.1. Một số khái niệm
- Giới: là một thuật ngữ xã hội để chỉ vai trò xã hội, hành vi ứng xử xã hội và
những kỳ vọng liên quan đến nam và nữ. Giới được hình thành do học hỏi từ gia đình,
nhà trường, giao tiếp xã hội, nó khác nhau giữa các nước, các địa phương, thay đổi
theo thời gian và quá trình phát triển kinh tế xã hội. Nói cách khác, khi đề cập tới mối
quan hệ giới là nói đến cách thức phân định xã hội giữa nam giới và phụ nữ, liên quan
đến các vấn đề thuộc về thể chế, văn hóa và xã hội chứ không phải là mối quan hệ cá
biệt giữa một nam giới hay phụ nữ nào đó.
- Bình đẳng giới:
Luận án sử dụng khái niệm bình đẳng giới được đưa ra trong chương 1 điều 5
của Luật bình đẳng giới 2006 của Việt Nam, quan điểm này đồng nhất với quan điểm
được đưa ra trong công ước quốc tế về xóa bỏ mọi loại hình thức phân biệt đối xử với
phụ nữ (CEDAW), cụ thể:“Bình đẳng giới là việc nam, nữ có vị trí, vai trò ngang
nhau, được tạo điều kiện và cơ hội phát huy năng lực của mình cho sự phát triển của
cộng đồng, của gia đình và thụ hưởng như nhau về thành quả của sự phát triển đó”.
1.1.2. Các khía cạnh của bình đẳng giới
đến tình trạng tuyệt đối là rất quan trọng, vì sự cải thiện tuyệt đối là điều kiện cơ bản
7
8
để đảm bảo quá trình phát triển, tăng cường thêm phúc lợi cho cả nam và nữ. Nhưng
chỉ tập trung vào tình trạng tuyệt đối không thôi là chưa đủ, dù là về quyền hạn hay
việc đòi hỏi các yếu tố nguồn lực, bởi tình trạng tương đối mới thể hiện được mối quan
hệ tương đối của nữ và nam, đến lượt mình, mối quan hệ tương đối đó lại ảnh hưởng
đến khả năng tham gia, đóng góp và hưởng lợi từ quá trình phát triển của họ. Do đó khi
đánh giá bình đẳng giới cần các tiêu chí đề cập tới cả hai góc độ phân tích trên.
Tuy nhiên, theo quan điểm của luận án, việc có được một thước đo để lượng hóa
được vị thế tương đối của phụ nữ so với nam giới có thể so sánh được ở phạm vi quốc tế
là hết sức khó khăn vì cấu trúc của nền kinh tế, vai trò của thị trường, gia đình và văn
hóa là khác nhau giữa các quốc gia. Chính vì thế, các nhà nghiên cứu thường cố gắng sử
dụng các thước đo tổng hợp có sự phân biệt giới để đánh giá bình đẳng giới. Các chỉ tiêu
được biết đến nhiều nhất và phản ảnh tương đối đầy đủ các khía cạnh của bình đẳng giới
theo cách tiếp cận thực chất và quan điểm của CEDAW (1979) là:
- Chỉ số phát triển giới (Gender Developmment Index - GDI), được tính toán
dựa trên sự khác biệt về giới trong các tiêu chí của chỉ số phát triển con người
(Human Development Index - HDI);
- Thước đo quyền lực giới (Gender Empowerment Measure - GEM), đo lường
bất bình đẳng giới dưới khía cạnh khai thác cơ hội về kinh tế và chính trị.
- Chỉ số bất bình đẳng giới (GII) mới được đưa vào trong báo cáo phát triển
con người năm 2010, phản ánh sự bất lợi của phụ nữ trên ba khía cạnh: sức khỏe sinh
sản, quyền lực và thị trường lao động. Chỉ số GII có ý nghĩa quan trọng phản ánh
tổng hợp hơn hai chỉ số GDI và CEM khi đánh gia bất bình đẳng giới trên các
phương diện về phát triển con người
Bình đẳng giới về (i) Khả năng có Khả năng có đất của - Tỷ lệ phụ nữ/ nam
khả năng được sử đất
nam giới = khả năng giới có đất sản xuất
dụng đất sản xuất
có đất của nữ giới
- Tỷ lệ người có đất
là phụ nữ
(ii) Nguồn gốc Cách thức có đất
- Cơ cấu đất sản
đất sản xuất
tương đồng giữa nam xuất của nam giới/
giới và nữ giới, đặc
nữ giới theo nguồn
biệt các nguồn trung gốc đất
tính giới
- Tỷ lệ phân bổ cho nữ
giới theo mỗi nguồn
của đất sản xuất
(iii) Được bảo Khả năng được bảo
- Tỷ lệ đất sản xuất
đảm quyền sử đảm quyền sử dụng
do nam giới/ nữ giới
dụng đất
đất sản xuất của nam sử dụng có
giới = khả năng được GCNQSDĐ
bảo đảm quyền sử
- Tỷ lệ nam giới/ nữ
dụng đất sản xuất
giới đứng tên trên
của nữ giới
Từ những phân tích tổng quan các nghiên cứu, luận án tổng hợp và đề xuất 4
nhóm yếu tố tác động tới bình đẳng giới trong tiếp cận đất sản xuất, cụ thể:
10
TT
Bảng 1.2. Các yếu tố tác động tới bình đẳng giới trong tiếp cận đất sản xuất
TT
1
Yếu tố tác
động
Thể chế chính
thức
2
Thể chế phi
chính thức
3
Thị trường
Tác động tới bình đẳng giới trong
tiếp cận đất sản xuất
Mọi lĩnh vực liên quan đến - Đây là yếu tố trung tính giới,
hoạt động của nhà nước, như: nhằm bảo đảm quyền tiếp cận với
đất đai và bình đẳng giới, do đó
định kiến giới, thì sẽ tác động tiêu
• Văn hóa
cực tới bình đẳng giới nói chung
• Phong tục tập quán
và
bình đẳng giới trong tiếp cận đất
• Chuẩn mực xã hội
sản
xuất nói riêng
• Mạng lưới xã hội
Những điều kiện cho phép
- Thị trường có đặc điểm không phân
người mua và người bán trao biệt giới, do đó khi có thị trường và
đổi (quyền đối với) bất kỳ
có giao dịch liên quan đến đất sản
một loại hàng hóa, dịch vụ
xuất thì sẽ tác động tích cực tới bình
nào theo một số luật lệ nhất
đẳng giới trong tiếp cận đất sản xuất
định. Thị trường được xem
- Thị trường đất sản xuất đòi hỏi
xét ở đây tập trung vào thị
những điều kiện để có thể tham gia
trường đất sản xuất. Thị
như điều kiện về thu nhập, giấy tờ
trường đất sản xuất đóng vai bảo đảm quyền sử dụng đất
Nội dung
4
Nội dung
Đồng thời, kế thừa nghiên cứu của Ngân hàng thế giới (WB, 2012), luận án đã
sơ đồ hóa mối quan hệ giữa các yếu tố tác động tới bình đẳng giới trong tiếp cận đất
sản xuất được thể hiện trong hình 1.1 dưới đây:
Hình 1.1: Mối quan hệ giữa các yếu tố tác động tới bình đẳng giới trong tiếp cận
đất sản xuất
11
12
CHƯƠNG 2
trong tiếp cận đất đai, cũng như những thay đổi trong môi trường đó thông qua việc
ra đời của các văn bản chính sách của Chính phủ qua các giai đoạn khác nhau.
- Phương pháp phân tích thống kê mô tả
- Phương pháp mô hình hóa
Hai phương pháp phân tích thống kê mô tả và mô hình hóa được trình bày chi
tiết trong phần 2.3
2.2.2. Nguồn dữ liệu, số liệu
Luận án khai thác các nguồn dữ liệu thứ cấp bao gồm các dữ liệu đã được công
bố và các dữ liệu thô từ kết quả của các cuộc điều tra
- Khảo sát mức sống dân cư (VHLSS): Luận án khai thác dữ liệu thô ở cấp độ
hộ gia đình của cuộc điều tra khảo sát mức sống dân cư năm 2012 bằng phần mềm
STATA. Ngoài các thông tin cơ bản về nhân khẩu học, Luận án chủ yếu sử dụng
thông tin liên quan đến đất nông nghiệp và sử dụng đất nông nghiệp trong mục 04
của dữ liệu điều tra.
Xuất phát từ mục tiêu nghiên cứu và khung phân tích của Luận án đã được đề
cập tới ở trên, phương pháp nghiên cứu cụ thể được thực hiện dựa trên cơ sở vận
dụng phương pháp duy vật biện chứng làm phương pháp luận chung, bao gồm:
- Phân tích và tổng hợp: Phương pháp này được sử dụng để đánh giá các nghiên
cứu hiện có trong và ngoài nước, từ đó hình thành khung lý thuyết cho nghiên cứu của
tác giả. Phương pháp này cũng được sử dụng để đánh giá thực trạng thị trường đất sản
xuất, thể chế phi chính thức (văn hóa, phong tục tập quán) ở Việt Nam và bối cảnh cho
việc thực thi chính sách bình đẳng giới trong tiếp cận đất sản xuất trong thời gian tới.
- Phương pháp so sánh: Việc phân tích thực trạng là định vị kết quả tại một thời
điểm nghiên cứu, do đó với mục đích mô tả thực trạng bình đẳng giới trong tiếp cận
đất sản xuất tác giả sử dụng phương pháp so sánh giữa chủ hộ là nam giới và chủ hộ
là nữ giới tại cùng một thời điểm.
- Phương pháp phân tích, đánh giá các văn bản chính sách: Phương pháp này
chủ yếu được dùng để đánh giá môi trường thể chế chính thức về bình đẳng giới
13
14
Khái niệm đất sản xuất tương ứng với khái niệm đất nông nghiệp hiện áp dụng
ở Việt Nam
2.3.1. Thống kê mô tả
2.3.1.1. Phương pháp
Phương pháp áp dụng là tính trung bình của nhóm chủ hộ nam giới và nhóm
chủ hộ và kiểm định sự khác biệt giữa giá trị trung bình của hộ gia đình chủ hộ nam
giới và chủ hộ nữ giới bằng kiểm định t- test
Kiểm định T-Test là phép kiểm định giả thuyết về trung bình của tổng thể,
được dùng trong trường hợp ta muốn kiểm định giả thuyết về sự bằng nhau của 2
trung bình tổng thể dựa trên 2 mẫu độc lập rút từ 2 tổng thể này.
Để đánh giá thực trạng bình đẳng giới trong tiếp cận đất sản xuất ở Việt Nam, luận
án sử dụng bộ dữ liệu VHLSS 2012 với phần mềm Stata các phương pháp hồi quy sau:
- Hồi quy Probit để đánh giá sự khác biệt về cơ hội có đất sử dụng giữa hộ gia
đình chủ hộ nam giới và nữ giới, phương trình hồi quy như sau:
Hav_dat = β0 + β1*m1ac2 + βiXi + ei (2.3)
- Hồi quy Heckman 2 bước để đánh giá sự khác biệt trong việc sử dụng đất sản
xuất để sinh lợi, với biến phụ thuộc là lndatbq
lndatbq = β0 + β1*m1ac2 + βiXi + ei (2.4)
Trong đó m1ac2 là biến đại diện cho giới tính của chủ hộ (m1ac2=1 tương ứng
với chủ hộ là nam giới và m1ac2 = 0 tương ứng với chủ hộ là nữ giới), Xi là các biến
thứ tự 4 – 28 trong bảng 2.1
- Phân rã Oaxaca – Blinder để giải thích sự khác biệt trong tiếp cận đất sản
xuất giữa hộ gia đình chủ hộ nam giới và chủ hộ nữ giới, theo các yếu tố tác động
(các biến giải thích) được mô tả trong bảng 2.1, cụ thể:
- Phân rã Oaxaca – Blinder cho hàm phi tuyến:
Hav_dat = β0 + βiXi + ei (2.5)
- Phân rã Oaxaca – Blinder cho hàm tuyến tính:
lndatbq = β0 + βiXi + ei (2.6)
CHƯƠNG 3
THỰC TRẠNG BÌNH ĐẲNG GIỚI TRONG TIẾP CẬN ĐẤT
SẢN XUẤT Ở VIỆT NAM
3.1. Thực trạng bình đẳng giới ở Việt Nam
Mức độ bất bình đẳng giới ở Việt Nam trong những năm gần đây có sự biến động
nhưng vẫn nằm trong nhóm các quốc gia có bất bình đẳng giới ở mức trung bình.
Xét trong lĩnh vực giáo dục và y tế, mặc dù tỷ lệ biết chữ của nữ gia tăng nhanh hơn
nam giới trong những năm gần đây, song tỷ lệ nữ biết chữ vẫn thấp hơn so với nam giới,
và thấp hơn tỷ lệ biết chữ chung của toàn dân số từ 15 tuổi trở lên, đặc biệt ở khu vực
nông thôn. Tình trạng sức khỏe của nữ giới được cải thiện trong những năm trở lại đây.
Những thành tựu và hạn chế trong khía cạnh giáo dục và chăm sóc sức khỏe kể ra ở trên
đẳng giới trong tiếp cận đất sản xuất ở Việt Nam
Nhìn vào hệ thống các quy định pháp luật và chính sách hiện hành của Việt
Nam liên quan đến đất sản xuất, có thể nói rằng, về cơ bản khung pháp lý của Việt
Nam được quy định khá đầy đủ và bảo đảm quyền bình đẳng giữa nam và nữ trong
tiếp cận đất sản xuất.
Tuy nhiên, một số phát hiện mang tính nghiên cứu của luận án về những bất
cập của hệ thống thể chế chính thức tác động không tích cực đến bình đẳng giới trong
tiếp cận đất sản xuất thể hiện như sau:
- Còn một số điều khoản luật chưa đảm bảo quyền thừa kế của phụ nữ đối với
tài sản nói chung và đất đai nói riêng
- Điều khoản luật vẫn còn kẽ hở để thực hành theo phong tục tập quán, yếu tố
có xu hướng loại trừ phụ nữ trong tiếp cận đất đai.
của phần lớn người dân Việt Nam. Tư tưởng văn hóa Nho giáo đó đã hình thành nên hai
hệ tư tưởng có ảnh hưởng tiêu cực tới bình đẳng giới nói chung và bình đẳng giới trong
tiếp cận đất đai nói riêng đó là: (i) tư tưởng gia trưởng, “trọng nam, khinh nữ”; và (ii) Tư
tưởng phụ thuộc vào nam giới và xem nhẹ vị thế của mình trong nữ giới. Ngoài ra, vì tự
có tư tưởng định kiến giới là phụ nữ chỉ lo việc trong nhà còn nam giới lo việc ngoài xã
hội, nên bản thân phụ nữ còn có tâm lý ngại va chạm và có các giao dịch ngoài xã hội.
3.2.3. Thực trạng thị trường đất sản xuất ở Việt Nam
Hiện nay ở Việt Nam đã tồn tại thị trường quyền sử dụng đất nông nghiệp, mặc
dù vậy thị trường quyền sử dụng đất trong khu vực nông thôn và nông nghiệp chưa
phát triển. Theo kết quả điều tra nông nghiệp nông thôn 2011, tính đến nay, các hộ
gia đình đã được sử dụng hơn 14 triệu ha đất cho hoạt động sản xuất nông nghiệp
(chiếm 53,6% trong tổng diện tích đất nông nghiệp của cả nước, tuy nhiên bình quân
số hộ chuyển nhượng QSDĐ và thuê QSDĐ chỉ chiếm 1 - 2%. Thị trường đất đai
nông thôn ở miền Bắc kém sôi động hơn so với thị trường đất đai nông thôn tại các
tỉnh miền Nam.
Việc tồn tại thị trường giao dịch quyền sử dụng đất nông nghiệp, đặc biệt là thị
trường thứ cấp là một yếu tố có tác động tích cực tới bình đẳng giới trong tiếp cận đất
17
18
nam giới có thể sẽ tác động tích cực tới khả năng tiếp cận đất sản xuất của phụ nữ bởi
nhiều tuổi hơn thường sẽ có kinh nghiệm sản xuất nông nghiệp tốt hơn, nhưng đồng
thời nhiều tuổi cũng sẽ khiến những ảnh hưởng của văn hóa và phong tục tập quán
thiên lệch giới ăn sâu vào trong nhận thức của các chủ hộ nữ hơn tạo ra những rào
cản từ chính phía phụ nữ để nỗ lực tiếp cận đất sản xuất bình đẳng với nam giới
Khi xem xét tình trạng hôn nhân theo giới tính của chủ hộ, trong số các hộ gia đình
do phụ nữ làm chủ hộ, khoảng 40% là hiện có cả vợ và chồng, 46% ở trong tình trạng góa
bụa, trong khi con số này tương ứng của các gia đình có chủ hộ nam giới là 95,4% và
2,5% (tác giả tính toán dựa vào VHLSS 2012). Tình trạng hôn nhân của chủ hộ có ít
nhiều ảnh hưởng tới việc tiếp cận đất đai của các hộ gia đình, nhất là dưới góc độ xem xét
nguồn gốc của đất, bởi những hạn chế của các thể chế chính thức cũng như phi chính thức
hiện hành, con dâu, đặc biệt là khi ở trong tình trạng góa bụa, không được phân chia tài
sản từ phía gia đình nhà chồng
Quy mô của hộ gia đình có chủ hộ là nữ giới thấp hơn có ý nghĩa thống kê so
với các gia đình chủ hộ nam giới (3,28 người so với 4,1 người). Qui mô hộ nhỏ hơn,
tuổi trung bình của chủ hộ nữ cao hơn khiến cho tỷ lệ phụ thuộc trong các hộ gia đình
chủ hộ nữ cao hơn so với các hộ gia đình chủ hộ nam giới, theo đó tỷ lệ phụ thuộc ở
các hộ gia đình chủ hộ nữ năm 2012 là 16,5%, trong khi con số này ở các hộ gia đình
nam giới chủ hộ là khoảng 10% (tác giả tính toán theo VHLSS 2012), điều này sẽ khiến
các hộ gia đình chủ hộ nữ ít nhiều gặp bất lợi trong quá trình phát triển kinh tế hộ, ngoài
ra đây còn là một yếu tố có thể giải thích được cho khả năng tiếp cận đất sản xuất của hộ
gia đình bởi khi tiến hành giao đất lần đầu cho các hộ sản xuất nông nghiệp vào những
năm đầu thập kỷ 90 của thế kỷ 20, để đảm bảo công bằng, giảm xung đột, Nhà nước đã
giao đất cho các hộ theo chế độ bình quân (quy định diện tích đất nông nghiệp bình
quân đầu người lớn trong hộ và giao diện tích đất theo số lượng người lớn trong hộ).
Xét theo đặc điểm của các hộ gia đình theo các nhóm thu nhập, số liệu năm
giới trong tiếp cận đất đai.
Tuy nhiên, nếu so sánh tương quan với tỷ lệ các hộ gia đình do nam giới làm chủ
hộ và nữ giới làm chủ hộ, có thể khẳng định rằng, trên phạm vi cả nước, tồn tại bất bình
đẳng giới trong cơ hội tiếp cận đất sản xuất. Dựa vào bộ số liệu VHLSS 2012, hiện có
khoảng 29% tổng số hộ gia đình ở Việt Nam có sử dụng hoặc quản lý đất nông nghiệp,
trong đó, 6,6% là các hộ gia đình chủ hộ nữ có đất, còn lại 22,7% là các hộ gia đình chủ
hộ nam. Từ đó cũng cho thấy, trong số những hộ gia đình hiện đang quản lý và sử dụng
đất, chỉ có 22,5% có chủ hộ là nữ, còn lại 77,5% thuộc về các chủ hộ là nam giới. Tỷ lệ
hộ gia đình hiện sử dụng hay quản lý đất sản xuất có chủ hộ là nữ thấp hơn tỷ lệ hộ gia
đình có chủ hộ nữ trong tổng số hộ gia đình hiện nay (26,14%).
Kiểm soát các yếu tố tác động khác tới việc tiếp cận đất đai của các hộ gia
đình, mô hình hồi quy Probit cho thấy, tính trên phạm vi cả nước, khi các yếu tố khác
không đổi, xác suất có đất của các hộ gia đình có chủ hộ là nam giới chỉ cao hơn các hộ
gia đình chủ hộ nữ giới là 0,037 (3,7%). Mức độ chênh lệch về khả năng có đất sản
xuất giữa các hộ gia đình có chủ hộ là nam giới và nữ giới cũng giảm đi khi xem xét
riêng ở khu vực nông thôn, cụ thể mức chênh lệch xác suất có đất sản xuất giữa hộ gia
đình chủ hộ nam và chủ hộ nữ chỉ còn là 0,023 (2,3%)
Kết quả ước lượng phân rã Oaxaca – Blinder (bảng 3.8) cũng cho thấy có sự
chênh lệch trong khả năng có được đất sản xuất giữa các hộ gia đình có chủ hộ là nam
giới và nữ giới trên phạm vi cả nước, theo đó tỷ lệ hộ gia đình chủ hộ nữ có đất sản xuất
thấp hơn 5,1 điểm phần trăm so với các hộ gia đình chủ hộ nam giới.
19
20
Kết quả cũng chỉ ra khoảng cách giới trong khả năng có đất sản xuất của các hộ
gia đình chủ yếu do các yếu tố quan sát được (E +EC chiếm 93,3% trong tổng sự
khác biệt). Điều này là hoàn toàn phù hợp với bối cảnh của Việt Nam. Bên cạnh đó, mặc
20% ở mỗi hình thức phân bổ đất), nhưng có sự khác biệt đáng kể giữa các tỉnh. Theo
tính toán của tác giả dựa vào VARHS, các tỉnh vùng đồng bằng, có tỷ lệ dân số dân
tộc Kinh cao thì tỷ lệ phân bổ cho các hộ gia đình chủ hộ nữ cao hơn so với các tỉnh
miền núi phía Bắc hay Tây nguyên. Điều này một lần nữa cho thấy ảnh hưởng của
các yếu tố văn hóa, phong tục tập quán tới khả năng có được đất sản xuất của các hộ
gia đình theo giới tính của chủ hộ là khá lớn.
3.3.1.3. Bình đẳng giới về bảo đảm quyền sử dụng đất
Việc có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giữa các hộ có chủ hộ là nam giới và
các hộ có chủ hộ là nữ giới cũng có sự khác nhau một cách đáng kể, với thực trạng là tỷ
lệ đất có sổ đỏ ở các hộ gia đình do nữ giới làm chủ cao hơn so với các hộ gia định do
nam giới làm chủ. Tuy nhiên, khi nhìn vào cơ cấu người đứng tên trong sổ đỏ số liệu
điều tra cho thấy, các hộ gia đình có chủ hộ nữ, tỷ lệ chủ hộ đứng tên trên giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất thấp hơn với các hộ gia đình chủ hộ nam, trong khi 8,6% sổ đỏ
của các hộ gia đình chủ hộ nữ đứng tên chồng của chủ hộ, tỷ lệ này ở các gia đình chủ
hộ nam giới chỉ là 2,8%. Các hộ gia đình chủ hộ nữ còn dễ bị tổn thương trong việc tiếp
cận đất đai khi có tới 19,5% hộ gia đình có chủ hộ là nữ có giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất đứng tên người khác (không có mối quan hệ họ hàng với gia đình).
3.3.2. Bình đẳng giới về khả năng sử dụng đất sản xuất để thu lợi
3.3.2.1. Bình đẳng giới về quy mô đất sản xuất sử dụng
Trong khía cạnh này, hiện nay ở Việt Nam còn tồn tại bất bình đẳng giới giữa
các hộ gia đình có chủ hộ là nam giới và chủ hộ là nữ giới, theo đó các hộ gia đình có
chủ hộ là nam giới có diện tích đất sản xuất lớn hơn đáng kể và có ý nghĩa thống kê
so với các hộ gia đình có chủ hộ là nữ giới.
Dựa vào VHLSS 2012, tính trung bình cả nước, với các hộ hiện đang sử dụng
đất sản xuất, tổng diện tích đất sử dụng của các hộ gia đình có chủ hộ là nữ chỉ đạt
3.434,75 m2, thấp hơn mức bình quân của cả nước và bằng khoảng 58% so với diện
tích đất trung bình của các hộ gia đình có chủ hộ nam giới.
Kiểm soát các yếu tố tác động, diện tích đất bình quân đầu người của các hộ
gia đình nam giới làm chủ hộ cao hơn khoảng 28% so với các hộ gia đình chủ hộ nữ,
chỉ đạt khoảng 27 triệu đồng/ ha đất sản xuất (tính toán của tác giả dựa vào VHLSS
2012). Bên cạnh sự bất lợi trong thu nhập từ nông nghiệp của các hộ gia đình chủ hộ
là nữ giới do diện tích đất sản xuất nhỏ hơn, khoảng cách giới trong thu nhập nông
nghiệp bình quân giữa các hộ gia đình còn được lý giải thông qua sự khác biệt trong
hoạt động sản xuất của các hộ gia đình có chủ hộ là nam giới và chủ hộ là nữ giới
3.4. Đánh giá bình đẳng giới trong tiếp cận đất sản xuất ở Việt Nam
3.4.1. Những khía cạnh tích cực và nguyên nhân
Thứ nhất, khả năng có đất sản xuất nông nghiệp của các hộ gia đình có sự
khác biệt không đáng kể giữa các hộ có chủ hộ là nam giới và nữ giới
Thứ hai, khả năng có đất sản xuất là tương đối bình đẳng ở khu vực nông thôn,
khu vực sản xuất nông nghiệp của nền kinh tế.
Kết quả trên có được một phần là nhờ các đổi mới trong chính sách đất nông
nghiệp của Việt Nam kể từ đổi mới đến nay, cũng như các chính sách pháp luật đảm bảo
quyền bình đẳng giới. Ngoài ra, Kết quả ước lượng từ mô hình nghiên cứu định lượng đã
chỉ ra rằng việc các hộ gia đình chủ hộ là nữ có các hoạt động sản xuất và nguồn thu
nhập ngoài hoạt động nông nghiệp cũng góp phần thu hẹp khoảng cách giới trong khả
năng tiếp cận đất sản xuất các hộ gia đình.
3.4.2. Những khía cạnh hạn chế và nguyên nhân
Thứ nhất, các hộ gia đình chủ hộ là nữ hiện đang nắm giữ và quản lý đất đai
chiếm tỷ lệ thấp
Thứ hai, bất bình đẳng giới tồn tại trong tất cả các hình thức tiếp cận với đất sản
xuất, đặc biệt các hộ gia đình có chủ hộ nữ gặp bất lợi nhất trong kênh thừa kế từ gia đình
Thứ ba, Các chủ hộ nữ gặp bất lợi lớn hơn tương đối trong việc được bảo đảm
quyền sử dụng đất so với nam giới, điều này khiến các chủ hộ nữ dễ bị tổn thương
hơn trong khả năng được sử dụng đất cho sản xuất.
Thứ tư, quy mô đất sản xuất do các gia đình chủ hộ là nữ đang sử dụng nhỏ
hơn nhiều so với các gia đình có chủ hộ là nam
Thứ năm, bất bình đẳng giới trong tiếp cận đất đai diễn ra dưới khía cạnh năng
suất đất.
Thứ tư: Lấy hiệu quả sử dụng đất và nâng cao thu nhập hộ gia đình là dấu hiệu
hoàn thiện các chính sách thực hiện bình đẳng giới trong tiếp cận đất sản xuất
23
24
Thứ năm: Thực hiện chính sách bình đẳng giới trong tiếp cận đất đai phải chú
trọng yếu tố đặc trưng vùng miền và văn hóa
Thứ sáu: Mục tiêu cải thiện tình trạng bình đẳng giới trong tiếp cận đất sản
xuất trong thời gian tới trước hết là tập trung vào khắc phục những điểm bất cập đang
trở nên phổ biến hiện nay ở Việt Nam
4.3. Khuyến nghị giải pháp tăng cường bình đẳng giới trong tiếp cận đất sản xuất
4.3.1. Hoàn thiện thể chế chính thức đảm bảo bình đẳng giới trong tiếp cận đất đai
- Luật Đất đai và luật Dân sự được điều chỉnh theo hướng đảm bảo quyền bình
đẳng giới trong tiếp cận đất đai
- Các văn bản dưới luật được hoàn thiện theo hướng ban hành các qui định chặt
chẽ đảm bảo quyền bình đẳng giới trong tiếp cận đất đai
4.3.2. Đổi mới công tác truyền thông nâng cao nhận thức của xã hội về quyền bình
đẳng giới trong tiếp cận đất sản xuất
- Xác định đúng nhóm đối tượng cần truyền thông
- Xây dựng nội dung truyền thông phù hợp với đối tượng
- Cách thức truyền thông phù hợp với nội dung và đối tượng cần truyền thông
- Thời điểm thực hiện hoạt động truyền thông phù hợp với nội dung và đối
tượng cần truyền thông
- Đảm bảo ngân sách thực hiện hoạt động truyền thông
4.3.3. Nâng cao năng lực tự thân của phụ nữ
- Tăng cường khả năng tiếp cận pháp luật và các dịch vụ pháp lý liên quan đến
đất đai cũng như quyền bình đẳng giới cho phụ nữ
của các hộ gia đình theo giới tính của chủ hộ, điều này không phản ánh được hết
những khác biệt trong cơ hội tiếp cận của phụ nữ và nam giới nói chung và đồng thời
cũng che lấp sự phức tạp của cac mối quan hệ giới tính bên trong hộ.
(ii) Bên cạnh đó, dữ liệu điều tra mức sống hộ gia đình (VHLSS) mặc dù là
nguồn dữ liệu có chất lượng, mang tính đại diện cả nước, song dữ liệu này không
cung cấp các thông tin chi tiết, do đó, dựa vào bộ số liệu này, luận án chưa thực hiện
được đầy đủ các nội dung phân tích để đánh giá toàn diện và sâu hơn các khía cạnh
tiếp cận đất sản xuất của các hộ gia đình.
(iii) Việc sử dụng duy nhất cách tiếp cận phân tích định lượng cũng hạn chế
việc đưa ra được những minh chứng cụ thể mang tính thực tiễn khi giải thích các yếu
tố ảnh hưởng tới khía cạnh nghiên cứu.
(iv) Nghiên cứu mới dừng ở việc đánh giá thực trạng bình đẳng giới trong tiếp
cận đất sản xuất và các nguyên nhân đây ra bất bình đẳng giới trong lĩnh vực này mà
chưa đánh giá tác động của bất bình đẳng giới trong tiếp cận đất sản xuất tới thu nhập
của hộ gia đình cũng như các khía cạnh phúc lợi khác.
Những hạn chế trên đây sẽ là chủ đề cho hướng nghiên cứu tiếp theo của tác
giả trong quá trình theo đuổi hướng nghiên cứu về bình đẳng giới- một hướng nghiên
cứu ngày càng được quan tâm cả về lý luận và thực tiễn của lĩnh vực Kinh tế phát
triển. Tác giả rất mong muốn nhận được ý kiến đóng góp và sự giúp đỡ tích cực của
các chuyên gia, các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước để hoàn thiện và phát triển
thêm nghiên cứu của mình.