1
Bộ GIáO DụC V ĐO TạO
TRƯờNG ĐạI HọC S
Ư PHạM H NộI
Nguyễn thị thanh TIểU THUYếT Về CHIếN TRANH TRONG VĂN HọC
VIệT NAM SAU 1975 NHữNG KHUYNH HƯớNG
V Sự ĐổI MớI NGHệ THUậT Chuyờn ngnh : Vn hc Vit Nam
Mó s : 62.22.34.01
LUN N TIN S NG VN
văn học Việt Nam sau 1975 qua thể loại tiểu thuyết là cần thiết đối với công
việc nghiên cứu văn học sử. Song trong khuôn khổ luận án, người nghiên cứu
không thể bao quát thấu đáo to
àn bộ thực tiễn thể loại, cho nên chúng tôi chỉ
giới hạn ở một bộ phận tiêu biểu – tiểu thuyết về chiến tranh. Trên cơ sở nắm
bắt các khuynh hướng chính và những đổi mới nghệ thuật của bộ phận tiểu
thuyết tiêu
biểu này, luận án sẽ chỉ ra đặc điểm của tư duy thể loại, đồng thời
trực tiếp đề cập tới hai vấn đề của lí luận và văn học sử: có thể viết về chiến
tranh như thế nào và có thể viết tiểu thuyết như thế nào?
1.3. Trong các trường Đại học và Cao đẳng có chuyên ngành Ngữ văn,
người học không thể bỏ qua phần văn học Việt Nam
đương đại, một phần vì
đây là giai đoạn văn học sôi nổi, có nhiều cách tân đáng chú ý; phần nữa là từ
3
quan điểm đổi mới, văn học hôm
nay đặt ra vấn đề nhìn nhận, đánh giá lại
nhiều hiện tượng trong quá khứ. Những kết quả nghiên cứu đã có vẫn cần
được tiếp tục mở rộng, đào sâu để phục vụ tốt hơn cho nhiệm vụ giáo dục và
đào tạo. Cho nên, việc nghiên cứu diễn tiến của thể loại qua bộ phận tiểu
thuyết về chiến tranh sẽ đáp ứng thiết thực nhiệm vụ giảng dạy và học tập
trong nhà trường.
Trên đây l
à những lí do để chúng tôi chọn đề tài Tiểu thuyết về chiến
tranh trong văn học Việt Nam sau 1975 – Những khuynh hướng và sự đổi
mới nghệ thuật.
2. Lịch sử vấn đề
Cho đến nay đã có khá nhiều bài báo và công trì
nh khoa học nghiên
thuật Bùi Việt Thắng nhận xét: “Trong xây dựng nhân vật người chiến sĩ,
tiểu thuyết sau 1975 đã có hướng đi sâu vào miêu tả quá trình tâm lí nhằm cá
thể hóa nhân vật” [172, tr.121-122]. Lại Nguyên Ân cũng có ý kiến khá sắc
sảo về nghệ thuật kể chuyện của Chu Văn trong Sao đổi ngôi: “Với Sao đổi
ngôi, Chu Văn dùng “thủ pháp trao quyền kể chuyện” cho nhân vật
(câu
chuyện do nhân vật chính xưng “tôi” kể lại) đã khiến cho tác phẩm vừa có
cốt cách dân gian vừa giữ được những đường nét chính của tiểu thuyết hiện
đại” [2, tr.16].
Không chỉ ghi nhận những t
hành tựu ban đầu, một số người còn chỉ ra
mặt hạn chế của tiểu thuyết về chiến tranh sau 1975. Trong bài Viết về chiến
tranh (1978), Nguyễn Minh Châu đã thẳng thắn nhận xét: “Nhìn lại những
tác phẩm viết về ch
iến tranh của ta, các nhân vật thường khi có khuynh
hướng được mô tả một chiểu, thường là quá tốt, chưa thực” [22, tr.57], “nhân
vật chỉ đóng vai trò làm đường dây để xâu các sự kiện lại với nhau”, “nhân
vật vẫn mờ nhạt” [22, tr.53]
. Còn Lại Nguyên Ân thì thấy: “Ở nhiều cuốn
tiểu thuyết thiên về chiều rộng trong văn học ta, nhiều trường hợp có thể thấy
cốt truyện đa tuyến chưa được triển khai đến mức cần thiết đã bị “teo” lại, bị
thu vào cốt truyện đơn tuyến, bút pháp tự sự khách quan bị lấn át bởi bút
pháp biểu hiện trữ tình, những mảng đời sống được dàn ra (
do ý đồ tạo nên
chiều rộng của bức toàn cảnh hoành tráng) thiếu sự “kết dính” vào một chỉnh
5
thể, trở nên c
hơi vơi, gây cảm quan về sự hời hợt, vụn vặt, làm hại đến chính
tính hoành tráng của tác phẩm” [3, tr.126]. Đánh giá về Đất miền Đông,
công là nét nhất quán ở tất cả các sáng tác này” [2, tr.15]. Bên cạnh đó,
6
nhiều nhà văn đã có “ý thức về khoảng cách” và ý thức ấy đã “dẫn tới những
cách xử lí khác nhau”; có “một số tá
c phẩm đã được xây dựng theo hướng
tiểu thuyết hóa các sự kiện thực, tuy vậy tính chất tư liệu vẫn là nét đậm”; có
tác giả “cố gắng dựng lại những trang sử hiện đại bằng ngôn ngữ tiểu
thuyết”; trường hợp của tiểu thuyết Sao đổi ngôi thể hiện “khả năng kể về
cuộc chiến đấu đã qua từ góc độ ý thức dân gian, ý thức của đám đông lính
thường và dân thường đã trải qua những ngày kháng chiến” [2, tr.16].
Trong bài Về một vài hướng tiếp cận với đề tài chiến tranh, Trần Cương
chỉ ra hai hướng tiếp cận của văn học s
au năm 1975. Hướng tiếp cận trực tiếp
có thể kể tới “Ký sự miền đất lửa, Biển gọi, Năm 1975 họ đã sống như thế,
Nắng đồng bằng, Miền cháy, Rừng lá đỏ, Đất trắng, Đất miền Đông ”. Theo
ông, ở đây, “hướng tiếp cận chủ yếu vẫn là lí giải chiến tranh, tiếp tục ngợi ca
khẳng định, và nay trong điều kiện hòa bình, còn có thêm một khía cạnh nữa là
“tính sổ”. Trong số những tác phẩm này và nhiều tác phẩm khác nữa, diện
mạo chiến tranh đã được vẽ thêm nhiều nét bút mới” [25, tr.40]. Hướng tiếp
cận thứ hai là: “Thể hiện đề tài chiến tranh một cách không trực tiếp (nghĩa là
có đan cài bổ sung giữa đề tài chiến tranh và các đề tài khác)” [25, tr.46]. Ở
hướng tiếp cận không trực tiếp, nhiều nhà văn “đều có chung ý nghĩ là tìm về
với cái muôn đời – tức là các giá trị nhân bản đíc
h thực, cụ thể - có cội rễ sâu
xa từ trong đời sống Nhân dân và lịch sử Dân tộc”. Đó là một trong những yếu
tố làm nên thành công cho tác phẩm, mà Sao đổi ngôi là một ví dụ: “Chu Văn
có một cái nhìn nhất quán, xuyên suốt, và cái nhìn này đã được triển khai trên
2.2. Tình hình nghiên cứu tiểu thuyết về chiến tranh từ đầu thập kỉ 90
đến nay
Từ đầu thập kỉ 90 trở đi, cùng với những t
hành tựu của sáng tác, lí luận,
nghiên cứu, phê bì
nh văn học cũng thực sự khởi sắc. Giới nghiên cứu đã đổi
mới phương pháp tiếp cận, chú ý nhiều hơn tới giá trị nhân văn, ý nghĩa nhân
bản và chức năng thẩm mĩ của tác phẩm văn học. Việc nghiên cứu tiểu thuyết
về chiến tranh cũng không nằm ngoài tình hình chung ấy.
Qua các bài báo có tính chất điểm s
ách (Thảo luận về tiểu thuyết Thân
phận của tình yêu [134]
, Tọa đàm về tiểu thuyết Lạc rừng của Trung Trung
Đỉnh [135], Rừng thiêng nước trong, một tiểu thuyết hay về chiến tranh [120],
8
Những bức tường lửa và sự đổi mới tiểu thuyết sử th
i [198], Xu hướng phá vỡ
cấu trúc nhân vật sử thi truyền thống trong Thượng Đức [199], Tiếng khóc
của nàng Út – Tiếng khóc của một thời [6],…), chúng tôi nhận thấy tính kịp
thời trong việc nghiên cứu, phê bình tiểu thuyết về chiến tranh.
Bên cạnh đó, ngày càng có nhiều công trình nghiên cứu mang tầm
khái
quát ở các cấp độ khác nhau. Những bài viết về một chặng phát triển của tiểu
thuyết chiến tranh có thể kể tới: Qua những cuốn sách gần đây về chiến tranh
[118], Văn học Việt Nam về chiến tranh – Hai gi
ai đoạn của sự phát triển
[32], Tiểu thuyết về đề tài chiến tranh cách mạng và lực lượng vũ trang sau
1975 – những thành tựu nghệ thuật còn bị bỏ lỡ [205], Một cách nhìn về đổi
tranh và sau chiến tranh do tác động dai dẳng của chiến tranh trong đời sống
của từng cá nhân và của toàn xã hội” [32, tr.94-95]
.
Trong bài Tiểu thuyết về đề tài chiến tranh cách mạng và lực lượng vũ
trang sau 1975 – những thành tựu nghệ th
uật còn bị bỏ lỡ, Nguyễn Thiệu Vũ
đưa ra ba nhận xét khá sắc sảo:
1. Sau 1975, các nhà t
iểu thuyết đã nỗ lực mở rộng phạm vi hiện thực
phản ánh nhưng chưa có đủ sự táo bạo cần thiết cho việc phát huy trí
tưởng tượng và giải
phóng những mãnh lực của hư cấu nghệ thuật
[205, tr.105].
2. Cố gắng tạo dựng những tính cách những số phận độc đáo, đặc biệt
nhưng còn tự giam mình trong những quan niệm nghệ thuật về con
người chưa thoát khỏi tính chất giản đơn, nhất phiến [205, tr.106].
3. Đã ưu tiên cho việc phận tích tâm lí nhưng chưa thực sự dám đối d
iện
với những bí hiểm của tâm hồn con người [205, tr.107-108].
Trong Một
cách nhìn về đổi mới tiểu thuyết chiến tranh, thông qua việc
khảo sát một số tiểu thuyết chiến tranh ra đời vào đầu thế kỉ XXI (Bến đò xưa
lặng lẽ, Rừng thiêng nước trong, Ngày rất dài, Những bức tường lửa, Khúc bi
tráng cuối cùng), Tôn Phương Lan kết luận: “Như vậy, với điểm nhìn mới,
những sáng tác viết về chiến tranh trong những năm gần đây cho chúng ta
thấy được sự đổi mới của nó: cái ác liệt của chiến tranh đã đư
ợc nhìn sâu vào
bản chất. Chúng ta dễ nhận ra việc đổi mới tư duy nghệ thuật, đổi mới cách
nhìn là cơ sở quan trọng để có được sự đa dạng về phong cách và giọng điệu
với nhiều phương thức biểu hiện mới mà
Đoàn Cầm Thi kết luận: “Các tác giả đều tập trung phân tích những tổn thất
do chiến tranh gây ra về mặt tình yêu và tình dục. ( )
khi viết về bi kịch cá
nhân trong và sau chiến tranh, các nhà văn Việt đã linh cảm được vai trò
thiết yếu của vô thức, của giấc mộng, của ám ảnh nhục dục trong tâm lý con
người” [175]. Với bài Dục vọng trong tiểu thuyết Việt Nam về chiến tranh từ
11
1986 đến 1996,
Nguyễn Thị Xuân Dung tìm hiểu về vấn đề tình dục trong các
tiểu thuyết Ăn mày dĩ vãng (Chu Lai), Nỗi buồn chiến tranh (Bảo Ninh),
Những mảnh đời đen trắng (Nguyễn Quang Lập), Bến không chồng (Dương
Hướng) và đưa ra nhận xét: “Trong tiểu thuyết viết về chiến tranh từ 1986 –
1996, ta thấy hầu như tác phẩm nào cũng có đề cập đến chuyện bản năng,
tình yêu - tình dục của con người và thể hiện nó một cách tự nhiên, chân thực.
Điều đó càng phản ánh rõ hơn bộ mặt trần trụi của chiến t
ranh và số phận
khốc liệt của con người trong hiện thực tàn bạo ấy, qua đó hợp lí hóa đời
sống bản năng của con người, đề cao nó trong một tinh thần nhân văn cao
đẹp; lên án, phê phán chiến tranh là một thế lực phi nhân tính đã tước đoạt,
cướp mất của con người quyền được sống với chính những nhu cầu bình
thường và thiết yếu của họ” [28]
. Theo chúng tôi, đây là những nhận xét
tương đối mới mẻ.
Thời gian
gần đây, một số luận văn thạc sĩ đã nghiên cứu một vài
phương diện của tiểu thuyết về chiến tranh: Quan niệm nghệ thuật về con
người trong tiểu thuyết chiến tranh sau 1975 (2003) của Ng
uyễn Thị Ngọc
Diệp, Cảm hứng bi kịch trong một số tiểu thuyết tiêu biểu về chiến tranh sau
nh nào hướng tới mục đích khái quát các khuynh hướng của
tiểu thuyết về chiến tranh sau 1975.
- Tiểu thuyết về chiến tranh sau 1975 cũng được tìm hiểu ít nhiều ở các
phương diện như nghệ thuật xây dựng nhân vật, kết cấu tác phẩm, song chưa
có công trì
nh nào nghiên cứu tổng thể về sự đổi mới nghệ thuật của mảng tiểu
thuyết này.
Như vậy, cho đến nay vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu một cách
hệ thống các khuynh hướng và sự đổi mới nghệ thuật của tiểu thuyết về chiến
tranh trong văn học Việt Nam
sau 1975, song vấn đề này đã được xem xét ở
một số cấp độ. Luận án sẽ tiếp thu thành quả của người đi trước để đạt tới
mục tiêu của mình.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Trước 1975, nhà văn Việt Nam luôn đề cao mục đích tái hiện các cuộc
chiến tranh giữ nước của dân tộc. Song sau 1975, không ít người coi chiến
tranh chỉ là phương tiện nghệ thuật chứ không phải mục đích phản ánh của tác
13
phẩm. Dựa trên cả hai đối tượng của nghệ thuật là hiện thực và con
người,
chúng tôi sẽ xếp vào đề tài chiến tranh những tiểu thuyết có một trong các tiêu
chí sau:
- Hiện thực chiến tranh được tái hiện như một nội dung cơ bản của tác
phẩm (có t
hể trực tiếp hoặc gián tiếp qua hồi ức nhân vật).
- Nhân vật chính của tác phẩm l
à người lính chiến đấu trên các mặt trận
khác nhau, hoặc l
biệt của đời sống hiện thực, cho nên luận án sẽ hướng tới mục đích nhận diện
những đặc điểm của tư duy thể loại qua một bộ phận tiểu thuyết cụ thể và thấy
được chất liệu chiến tranh – một chất liệu quen thuộc của văn học Việt Nam
–
từ sau 1975 đã được các nhà văn làm mới như thế nào.
4.2. Theo quan niệm của M.Bakhtin – một quan niệm h
iện được tín
nhiệm nhiều nhất – tiểu thuyết có những đặc trưng cơ bản để phân biệt với
các thể loại đã rắn chắc về nòng cốt nhưng ông không đặt vấn đề phân biệt
tiểu thuyết thuộc các đề tài (chất liệu) khác nhau. Luận án này không đặt
nhiệm vụ phân biệt tiểu thuyết viết về chiến tranh với tiểu thuyết sử dụng các
chất liệu khác, mà tập trung làm
rõ tiến trình vận động của nó để khảo sát tư
duy thể loại. Cho nên, những khái quát ở tiểu thuyết về chiến tranh cũng có
thể tìm thấy ở tiểu thuyết về các đề tài khác.
5. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp hệ thống – cấu trúc: Với phạm vi tư liệu trong suốt hơn
ba mươi năm
, chúng tôi luôn ý thức đặt đối tượng nghiên cứu trong cả cái
nhìn đồng đại lẫn lịch đại. Chúng tôi sẽ thống kê những tiểu thuyết tiêu biểu
về chiến tranh trong văn học Việt Nam sau 1975, dùng các thao tác phân tích,
tổng hợp, sắp xếp chúng thành những nhóm nhất định, tạo thành hệ thống để
làm sáng tỏ vấn đề một cách toàn diện.
- Phương pháp loại hình: Phương pháp l
oại hình được sử dụng để nhận
diện các khuynh hướng tiểu thuyết viết về chiến tranh trong văn học Việt
Nam
sau 1975 và phân tích sự đổi mới nghệ thuật của nó theo đặc trưng thể
loại văn học.
Nam từ 1945 đến nay.
- Chương 2: Một số khuynh hướng tiểu thuyết về ch
iến tranh trong văn
học Việt Nam sau 1975.
- Chương 3: Sự đổi mới nghệ thuật của tiểu thuyết về chiến tranh trong
văn học Việt Nam sau 1975. 16
Chương 1
TIỂU THUYẾT VỀ CHIẾN TRANH TRONG TIẾN TRÌNH
VĂN HỌC VIỆT NAM
TỪ 1945 ĐẾN NAY
Chiến tranh là một đề tài phổ biến trong văn chương nhân loại nói
chung, ở ta, nó càng trở nên quen thuộc vì chúng t
a phải trải qua nhiều cuộc
chiến tranh. Trong tiến trình văn học Việt Nam từ 1945 tới nay, cách ứng xử
với chất liệu chiến tranh có sự thay đổi qua từng giai đoạn lịch sử. Thời chiến,
văn học về chiến tranh là diễn ngôn ý t
hức hệ, diễn ngôn tự hào dân tộc, nó
đặc biệt chú trọng phản ánh phía hiện thực hào hùng với những chiến công
oanh liệt của quân dân ta. Thời bình, nó nghiêng sang phía hiện thực còn
khuất lấp: sự hi sinh, tổn thất mà dân tộc ta phải gánh chịu trong suốt ba thập
kỉ và những dư chấn nặng nề mà chiến tranh để lại. Không chỉ phản ánh, nhà
văn còn “sáng tạo hiện thực” v
à “suy ngẫm” về nó từ nhiều góc độ. Bên cạnh
diễn ngôn ý thức hệ, diễn ngôn tự hào dân tộc, văn học về chiến tranh có thêm
các diễn ngôn khác (nhân tính, dục tính, hạnh phúc cá nhân,…). Bình đẳng
với các chất liệu khác, chất liệu chiến tranh còn là phương tiện biểu hiện nghệ
tranh là “lửa thử vàng”, là môi trường tôi luyện con người mới. Trong sinh
hoạt văn nghệ, văn học viết về chiến tranh được đón nhận nhiệt tình, vì nó
trực tiếp khẳng định chính nghĩa dân tộc, khẳng định tính ưu việt của chế độ
xã hội chủ nghĩa, củng cố niềm tin cho con người. Đó chính là những t
iền đề
cơ bản làm nên vị trí quan trọng hàng đầu của đề tài chiến tranh trong văn học
Việt Nam giai đoạn 1945 - 1975.
Trong bài Mấy nét về đề tài chiến tranh và tiểu thuyết Đất trắng, Đặng
Quốc Nhật đã thống kê: “Nếu tính từ 1954 đến 1975, thì
đề tài chiến tranh
được đề cập đến ở một số lượng tác phẩm khá lớn so với các mảng đề tài
khác: 115 tập t
ruyện kí, 74 tập tiểu thuyết trong số 397 tập truyện kí, 173 tập
tiểu thuyết đã in ” [130, tr. 108].
Từ 1945 đến 1954, cuộc kháng chiến chống Pháp được t
ái hiện trong
mọi thể loại văn xuôi. Về thể kí, có thể kể tới Trận phố Ràng, Một cuộc chuẩn
bị của Trần Đăng, Ở mặt trận Nam Trung bộ, Ngược sông Thao của Tô Ho
ài,
18
Chặt gọng kìm đường số Bốn của Ho
àng Lộc, Kí sự Cao – Lạng của Nguyễn
Huy Tưởng… Về tùy bút, Đường vui và Tình chiến dịch, Tùy bút kháng chiến
của Nguyễn Tuân có một vị trí khá quan trọng trong văn xuôi giai đoạn này.
Truyện ngắn cũng để lại được một số thành công đáng kể: Đôi mắt của Nam
Cao, Làng của Kim Lân, Con đường sống của Minh Lộc Gặp gỡ của Bùi Hiển,
Tây đầu đỏ và Bên rừng cù lao Dung của Phạm Anh Tài, Truyện Tây Bắc của
Tô Hoài Giai đoạn này, tiểu thuyết còn rất hiếm hoi, tác phẩm tiêu biểu có
Tới giai đoạn 1965 – 1975, khi cuộc kháng chiến chống Mĩ lan rộng ra
cả nước, văn xuôi viết về chiến tranh càng nở rộ. Có được t
hành tựu đó là do
đội ngũ nhà văn cách mạng vừa đạt tới độ chín, vừa được bổ sung những cây
bút trẻ, xông xáo. Xuất phát từ yêu cầu phản ánh và cổ vũ kịp thời cho cuộc
chiến, nhiều nhà văn từ miền Bắc đã tăng cường cho chiến trường miền Nam
và họ nhanh chóng có được thành tựu: các tập truyện và kí Bức thư Cà Mau
của Anh Đức, Trên quê hương những anh hùng Điện Ngọc của Nguyễn Trung
Thành; các tập truyện kí Người mẹ cầm súng của Nguyễn Thi, Sống như anh
của Trần Đình Vân, Họ sống và chiến đấu của Nguyễn Khải, các tập truyện
ngắn Chiếc lược ngà, Bông cẩm thạch của Nguyễn Quang Sáng Tiểu thuyết
về chiến tranh trở thành bộ phận chủ đạo của văn học giai đoạn này. Từ quan
niệm “nếu coi thơ như là hoa, thì tiểu thuyết như là
quả của văn học” [171,
tr.313], nhà văn chọn tiểu thuyết với khát vọng phản ánh hiện thực hào hùng
ở tiền tuyến lớn và hậu phương lớn trong cuộc kháng chiến vĩ đại của dân tộc.
Một số tác phẩm tiêu biểu: Hòn Đất (1966) của Anh Đức, Rừng U Minh
(1966) của Trần Hiếu Minh, Gia đình Má Bảy (1968), Mẫn và tôi (1972) của
Phan Tứ, Vào lửa (1966) và Mặt trận trê
n cao (1967) của Nguyễn Đình Thi,
Cửa sông (1967) và Dấu chân người lính (1972) của Nguyễn Minh Châu, Đất
Quảng (1970) của Nguyễn Trung Thành, Đường trong mây, Chiến sĩ (1973)
của Nguyễn Khải, Dưới đám mây màu cánh vạc (1973) của Thu Bồn, Những
tầm cao (tập 1 – 1973) của Hồ Phương, Dòng sông phẳng lặng (tập 1 – 1974)
của Tô Nhuận Vĩ, Sao Mai (tập 1 – 1974) của Dũng Hà, Vùng trời (tập 1 –
1972, tập 2 – 1974) của Hữu Mai, Trong giai đoạn này, văn xuôi về chiến
tranh chiếm vị thế ưu trội, các tác phẩm v
iết về hậu phương cũng in đậm hơi
thở chiến trường (ví dụ: Đất làng – Nguyễn Thị Ngọc Tú, Vùng quê yên tĩnh
chiến vẫn in dấu đậm nét trong cuộc đời của nhiều người từng đi qua chiến
tranh và cả một số người sinh ra khi đất nước đã im tiếng súng. Trong bối cảnh
đất nước đổi mới và xu thế hội nhập toàn cầu, việc xác lập hệ giá trị mới là đòi
hỏi cấp bác
h, mỗi cái mới cần được nhìn trong tương quan với cái bị coi là cũ
hoặc chưa cũ nhưng đã từng xuất hiện trong điều kiện chiến tranh.
Khoảng mười năm sau 1975, văn học về chiến tranh vẫn giữ vai trò chủ
đạo. Khi cuộc chiến lùi xa, đề tài chiến tranh không còn là mối quan tâm hàng
21
đầu của người nghệ sĩ nhưng văn xuôi về chiến tranh vẫn có vị trí đáng kể
trong nền văn học đương đại. Theo Ngô Vĩnh Bình, “mảng văn học về đề tà
i
chiến tranh, đội ngũ những người viết văn trong quân đội giữ một vị trí rất
quan trọng cả về số lượng và chất lượng, góp phần chủ yếu xác định diện
mạo và thành tựu, t
ác dụng xã hội và tính đặc thù của cả giai đoạn văn học
nửa sau thế kỉ XX” [12, tr.96].
Sau 1975,
cách xử lí đề tài chiến tranh của các nhà văn rất linh hoạt.
Một số tác phẩm trực tiếp viết về chiến tranh, nhưng rất nhiều tác phẩm lồng
đề tài chiến tranh vào các đề tài khác, thậm chí hình ảnh chiến tranh chỉ thấp
thoáng trong kí ức nhân vật hoặc được thể hiện bằng điểm nhìn bên ngoài
nhưng người đọc vẫn thấy sức ám ảnh ghê gớm của nó. Thành tựu ở h
ai thể
loại kí và truyện ngắn là đối tượng mà chúng tôi quan tâm vì nó gần gũi với
tiểu thuyết.
Sau 1975,
kí về chiến tranh phong phú về cả số lượng cũng như cách
thể hiện. Chưa tính đến các hồi kí, kí sự của những người từng tham chiến
đến lúc cần đưa ra một cái nhìn khác, toàn diện hơn về con người? Một số
truyện ngắn như Bức tranh và Cỏ lau của Nguyễn Minh Châu được xem
như
những sự kiện văn học. Sau năm 1975, ít có truyện ngắn mô tả trực tiếp về
chiến tranh mà nó thường được phản chiếu qua số phận con người thời hậu
chiến. Khi m
iêu tả từ góc nhìn thế sự, đời tư, chiến tranh thường đi liền với sự
mất mát hi sinh, sự hao mòn nhân tính và những số phận bi kịch. Về nghệ
thuật, truyện ngắn đã có sự cách tân lớn ở các phương diện cốt truyện và kết
cấu, ở ngôn ngữ và giọng điệu trần thuật. Sau đây là một số truyện ngắn tiêu
biểu: Mùa trái cóc ở miền Nam, Cơn giông, Người đàn bà trên chuyến tàu tốc
hành của Nguyễn Minh Châu, Ba người trên sân ga của Hữu Phương, Truyền
thuyết Quán Tiên của Xuân Th
iều, Người sót lại của rừng cười, Biển cứu rỗi,
Dây neo trần gian, Hồn trinh nữ của Võ Thị Hảo, Chiều vô danh của Hoàng
Dân, Tiếng vạc sành của Phạm Trung Khâu, Thung lũng hoa vàng của Huỳnh
Thạch Thảo, Thảm cỏ trên trời của Ngô Thị Ki
m Cúc, Hai người đàn bà xóm
trại của Nguyễn Quang Thiều, Tiếng chuông trôi trên sông của Vũ Hồng,…
Trong các thể loại văn xuôi về chiến tranh, tiểu thuyết đạt được nhiều
thành tựu hơn cả, nó góp phần không nhỏ vào việc thay đổi d
iện mạo văn học
23
Việt Nam hiện đại. Nó vừa chứa đựng sự đổi mới quan niệm về hiện thực, về
con người, vừa là nơi thử thách bản lĩnh nghệ sĩ. Nó cùng lúc phải trả lời hai
câu hỏi: Có thể viết về chiến tranh như thế nào và Có thể viết tiểu t
huyết như
thế nào? Một số tác phẩm tiêu biểu như Chim Én bay (Nguyễn Trí Huân), Nỗi
buồn chiến tranh (Bảo Ninh), Thời của những tiên tri giả (Nguyễn Viện), Lạc
kháng chiến, phụng sự Tổ quốc, phụng sự nhân dân trước hết là công – nông
– binh” [112, tr.19]. Trong bài nói chuyện tại Đại hội Văn nghệ toàn quốc lần
thứ III, ngày 01 tháng 12 năm 1962, Trường Chinh đã chỉ rõ: “Trong c
ông
cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã hội, vị trí của anh
chị em văn nghệ sĩ là đứng trên mặt trận văn hóa và tư tưởng mà chiến đấu
cho một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu
mạnh” [112, tr.231]. Nhà văn lúc này ý thức mình như một người lính tiên
phong trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Năm 1947, với Nhận
đường, Nguyễn Đình Thi đã nêu lên nhiệm vụ chung của người nghệ sĩ: “Kẻ
cũ, người mới, kẻ hướng này, người phương khác, chúng t
a cùng quây tất cả
quanh ngọn cờ dân tộc, viết, vẽ, làm nhạc, kháng chiến trên mặt trận văn
nghệ, những mong mỏi sáng tác là một viên đạn bắn vào đầu kẻ thù” [51,
tr.114]. Theo yêu cầu của Đảng, nhà văn nhập cuộc với tinh thần nhà văn –
chiến sĩ, chấp nhận công việc của một “anh tuyên truyền” (Nam Cao – Đôi
mắt), một cán bộ tuyên huấn, sẵn sàng hy sinh cả tính mạng vì nền độc lập của
Tổ quốc. Rất nhiều người cùng chung suy nghĩ như Tô Hoài: “Chúng ta say
sưa đi trong cuộc đời, làm người chứng kiến thời đại, lại biết làm người tạo ra
thời đại, tấm lòng và mắt nhìn của chúng ta thật sâu, thật sắc, thật to rộng
không cùng” [171, tr.318]. Lời thơ của Tế Hanh chính là tâm huyết của những
nhà văn đầy trách nhiệm với vận mệnh Tổ quốc v
à cuộc sống nhân dân:
…Chúng ta đi, bom đạn chắn ngang đường
Chúng ta viết, trên mỗi dòng l
à máu
Mùa mưa ngập rừng, mùa khô lửa nấu
Những cơn đói dày vò quanh năm.
không giống nhau. Trong Xây dựng tác phẩm tiểu thuyết (Nxb Nam Sơn – Sài
Gòn, 1965), Nguyễn Văn Trung đã nêu ra ba quan niệm về tiểu thuyết. Quan
niệm thứ nhất “tiểu thuyết là một quang cảnh”. Loại tiểu thuyết này “nhằm
trình bày một tính tình, một mẫu người, hay một tình cảnh” [171, tr.206]. Ở
đây, “người đọc và người viết đều đứng ngoài, đứng trước quang cảnh để