VĂN HỌC VIỆT NAM SAU 1975 - Pdf 31

Contents VHVN sau 1975
Contents VHVN sau 1975..........................................................................................1
Dân chủ hóa - một trong những thành tựu của văn học thời kỳ đổi mới....................2
Sự đa dạng về bút pháp nghệ thuật trong tiểu thuyết Việt Nam thời kỳ đổi mới.......8
1. Bút pháp tả thực mới...............................................................................................9
2. Bút pháp phúng dụ, huyền thoại...........................................................................11
3. Bút pháp trào lộng, giễu nhại................................................................................11
4. Bút pháp tượng trưng............................................................................................12
Thơ Việt nam sau 1975 - từ cái nhìn toàn cảnh........................................................13
1. Quan điểm tiếp cận...............................................................................................13
2. Ba mươi năm và hai chặng đường thơ..................................................................14
2.1. Những chuyển đổi về tư duy nghệ thuật trong thơ giai đoạn 1975-1985..........14
2.2. Giai đoạn sau 1986 và ý thức “cởi trói” để xác lập một quan niệm mới về nghệ
thuật...........................................................................................................................16
3. Các khuynh hướng nổi bật....................................................................................17
3.1. Xu hướng viết về chiến tranh qua những khúc ca bi tráng về số phận của dân
tộc..............................................................................................................................18
3.2. Xu hướng trở về với cái tôi cá nhân, những âu lo của đời sống thường nhật....18
3.3. Xu hướng đi sâu vào những vùng mờ tâm linh đậm chất tượng trưng siêu thực
...................................................................................................................................19
3.4. Xu hướng hiện đại (và hậu hiện đại)..................................................................20
4. Sự biến đổi về thể loại..........................................................................................21
4.1. Sự nới lỏng cấu trúc các thể thơ truyền thống...................................................21
4.2. Thơ tự do và thơ văn xuôi..................................................................................22
4.3. Sự nở rộ của trường ca.......................................................................................22
5. Những động hình ngôn ngữ mới trong thơ...........................................................23
5.1. Ngôn ngữ đậm chất đời thường.........................................................................23
5.2. Ngôn ngữ giầu chất tượng trưng........................................................................24
5.3. Những “trò chơi” ngữ nghĩa trong thơ...............................................................24
5.4. “Ngôn ngữ thân thể” trong thơ..........................................................................25
Xu hướng nhìn nhận lại một số hiện tượng văn chương thời kỳ đầu Đổi mới.........26

Văn xuôi Việt Nam hiện nay, lô-gích quanh co của các thể loại, ..........................119
những vấn đề đang đặt ra, và triển vọng.................................................................119
Dân chủ hóa - một trong những thành tựu của văn học thời kỳ đổi mới
Văn học Việt Nam thời kỳ đổi mới là một bộ phận trong công cuộc đổi mới đất
nước, vừa là kết quả vừa là động lực của công cuộc đổi mới ấy. Từ 1986 đến nay,
nền văn học đã có những biến đổi sâu sắc trên nhiều mặt, từ ý thức nghệ thuật
đến sáng tác, từ nội dung đến phương thức biểu đạt, từ lý luận, phê bình đến sự
tiếp nhận của công chúng.
Nhìn lại 20 năm văn học đổi mới, có thể nhiều người còn băn khoăn vì chưa có
nhiều thành tựu xuất sắc trong sáng tác, chưa có nhiều tài năng văn học có tầm cỡ.
Những băn khoăn ấy không phải là không có lý. Điều quan trọng, theo chúng tôi, là
nền văn học trong 20 qua đã vận động theo xu hướng mới, tích cực và phù hợp với
xu thế của thời đại. Đồng thời, xu hướng vận động tích cực ấy đã thúc đẩy sự tìm
tòi, sáng tạo và đã có không ít thành công.
Nhìn trên tổng thể tiến trình văn học Việt Nam trong thế kỷ XX và cho đến nay, có
thể thấy ba thời kỳ lớn với xu hướng vận động khác nhau ở mỗi thời kỳ. Từ đầu thế
kỷ XX đến năm 1945, văn học vận động theo hướng hiện đại hóa, và đó là đặc điểm
bao trùm toàn bộ nền văn học thời kỳ này, làm nên sự thay đổi cơ bản về phạm trù
văn học từ trung đại sang hiện đại. Trong 30 năm tiếp theo, từ năm 1945 đến năm
1975, có thể nói đại chúng hóa và cách mạng hóa là xu hướng vận động cơ bản của
nền văn học cách mạng trong hoàn cảnh chiến tranh. Còn từ sau năm 1975, nhất là
từ giữa những năm 80 trở đi, dân chủ hóa là xu thế lớn của xã hội và trong đời sống
tinh thần của con người, cũng đã trở thành xu hướng vận động bao trùm của nền
văn học. Xu hướng ấy hình thành ngay trong chặng đầu thời kỳ đổi mới, phải vượt
qua nhiều trở ngại, nhưng đã ngày càng mạnh mẽ, thấm sâu vào mọi cấp độ và biểu
hiện trên các bình diện của đời sống văn học, làm thay đổi căn bản diện mạo và đặc
điểm của nền văn học nứoc nhà.
Trên bình diện ý thức nghệ thuật, đã có những biến đổi quan trọng theo hướng dân
chủ hóa của các quan niệm về vai trò, vị trí và chức năng của văn học, về nhà văn
và quan niệm về hiện thực. Văn học trong giai đoạn trước chủ yếu được nhìn nhận

đời sống của chính người viết. Cố nhiên, tư tưởng và kinh nghiệm riêng của mỗi
người viết không phải lúc nào cũng đúng đắn, chính xác. Nhưng người đọc ngày
nay tìm đến văn học không phải để tiếp nhận những chân lý hiển nhiên đã rõ ràng,
mà tìm đến ở tác phẩm sự mời gọi đối thoại, kích thích suy nghĩ, tìm kiếm chân lý
đời sống. Trong hàng ngũ đông đảo các nhà văn thuộc nhiều thế hệ của văn học
nước ta hiện nay, đã có thể nhận ra những cây bút có được tư tưởng, quan niệm,
cách nhìn riêng, tạo nên những phong cách rõ nét. Số đông người viết chưa phải đã
được như vậy, nhưng ý thức về cá tính, sự chăm lo để có bản sắc riêng vẫn là điều
có thể thấy rõ ở hầu hết mọi người cầm bút.
Cùng với những biến đổi trong quan niệm văn học và quan niệm về nhà văn thì mối
quan hệ giữa văn học với công chúng, nhà văn với độc giả cũng có những thay đổi
theo hướng dân chủ hóa. Trong thời kỳ chiến tranh, văn học cách mạng coi trọng
chức năng giáo dục, đề cao nhiệm vụ cổ vũ, tuyên truyền, củng cố niềm tin của
quần chúng vào sự nghiệp đấu tranh và thắng lợi cuối cùng. Người đọc đến với tác
phẩm văn chương cũng với tâm thế để được động viên, khích lệ từ những tấm
gương cao cả, tuyệt đẹp, để củng cố niềm tin tưởng và quyết tâm phấn đấu cho sự
nghiệp chung, cho mục tiêu chung của dân tộc và cách mạng. Trong hoàn cảnh lịch
sử và tâm lý tiếp nhận như thế, mối quan hệ giữa văn học và công chúng, nhà văn
và độc giả mang tính một chiều truyền đạt - tiếp nhận. Trong tinh thần dân chủ thì
nhà văn chủ yếu giữ vai trò là người đối thoại, đưa ra những nhận xét, đề nghị với
người đọc, để cùng suy nghĩ, tìm kiếm, có thể cả tranh luận. Không ít tác phẩm mà
trong đó người đọc không thể tìm thấy lời giải đáp sẵn có, thậm chí người viết đưa
ra nhiều cách nhìn, nhiều quan niệm khác nhau, những biểu tượng đa nghĩa. Vì thế,
người đọc ngày nay cũng không thể là một độc giả thụ động, chỉ quen tiếp nhận và
đánh giá văn học theo những quan niệm và giá trị đã quen thuộc tưởng như bất
biến. Mối quan hệ nhà văn - bạn đọc đã trở nên bình đẳng và dân chủ hơn, người
đọc được tôn trọng hơn, nhưng vì thế mà cũng phải tự nâng mình lên và thay đổi
chính mình, để trở thành chủ thể tiếp nhận sáng tạo.
Một trong những biểu hiện tập trung của xu thế dân chủ hóa trong văn học đổi mới
chính là sự mở rộng quan niệm về hiện thực và biến đổi trong quan hệ văn học với

không còn là mục tiêu của sáng tác, mà là nghiền ngẫm, đề xuất những giả thuyết
về hiện thực. Kiểu tư duy hiện thực chủ nghĩa và bút pháp miêu tả hiện thực như nó
vốn có cũng không còn vị trí độc tôn. Nhiều cây bút ưa thích sử dụng thủ pháp kỳ
ảo, huyễn tưởng, huyền thoại hóa, vượt qua quy luật lôgíc thông thường, để đạt tới
sự khái quát hóa cao về đời sống. Bên cạnh cái điển hình, trong văn học cũng xuất
hiện ngày càng phổ biến những hình tượng cá biệt, nghịch dị. Hiện thực không chỉ
được thể hiện trong tính quy luật hợp lý, mà còn hiện ra trong cả vô số những ngẫu
nhiên bất thường, nghịch lý. Sự thay đổi quan niệm về hiện thực, như nói ở trên, đã
mở rộng và làm biến đổi hệ thống đề tài, chủ đề trong văn học. Không dừng lại ở
cái hiện thực bề mặt, bên trên và những hiện tượng mang tính thời sự, văn học cố
gắng đào xới vào những tầng sâu của đời sống, khám phá những mạch ngầm, khái
quát những vấn đề và quy luật của lịch sử, của nhân sinh, cả trong quá khứ và hiện
tại. Trong xu thế mở rộng quan niệm về hiện thực, cũng không tránh khỏi những
hiện tượng cực đoan, rơi vào sự thiên lệch, chỉ nhấn mạnh mặt tiêu cực đưa đến một
cái nhìn bi quan, thái độ hoài nghi con người và xã hội. Lại có những trường hợp
miêu tả con người chỉ khai thác sâu vào phần vô thức, tuyệt đối hóa bản năng hoặc
nhân danh sự giải phóng cá nhân mà vứt bỏ mọi chuẩn mực đạo đức nhân cách.
Xu hướng dân chủ hóa của văn học đã mở ra một không gian rộng rãi cho sự tìm
tòi, thể nghiệm mọi phương thức biểu đạt, hình thức nghệ thuật trong các thể loại
văn học. Từ khát vọng đổi mới xã hội, văn học ngày càng có ý thức tự đổi mới
chính mình. Các thể loại văn học đều có những biến đổi rất đáng kể trong cấu trúc
và thi pháp thể loại. Nhiều khuynh hướng nghệ thuật đa dạng với mọi thủ pháp
nghệ thuật xuất hiện. Trong sự giao lưu văn hóa, văn học được mở rộng, những ảnh
hưởng của các trào lưu nghệ thuật trên thế giới, kể cả các trào lưu hiện đại chủ
nghĩa và hậu hiện đại ở phương Tây, đã có tác động và ảnh hưởng đáng kể đến
những tìm tòi, thể nghiệm cách tân của văn học Việt Nam vài mươi năm lại đây,
đặc biệt là với thế hệ người viết xuất hiện từ thời kỳ đổi mới. Trong văn xuôi ngày
nay, các thủ pháp như dòng ý thức, kết cấu ghép mảnh, xáo trộn trật tự thời gian,
không gian, các yếu tố kỳ ảo, biểu tượng... đã ngày càng được sử dụng rộng rãi và
không còn xa lạ với người đọc. Từ đầu những năm 90 của thế kỷ trước và cho đến

Đại hội Đảng lần thứ VI (1986) đã vạch ra con đường đưa nước ta ra khỏi
sự khủng hoảng và bước vào thời kì phát triển mới.Khủng hoảng kinh tế được ngăn
chặn, giao lưu với các nước trên thế giới được tăng cường, xã hội có nhiều thay đổi
theo hướng tích cực.Tất cả tạo nên một vận hội mới của lịch sử dân tộc.
Cùng với sự đổi mới về hoàn cảnh lịch sử, xã hội - văn hoá – tư tưởng cũng
có những biến chuyển nhất định. Đứng trước thực tại đó, văn học với chức năng
phản ánh hiện thực cần phải đổi mới. Sự đổi mới trong văn học đã được manh nha
vào cuối những năm 1970 qua các cuộc trao đổi viết về chiến tranh, qua những tìm
tòi và thể nghiệm cả trên hoạt động sáng tác, phê bình văn học. Nhu cầu đổi mới
văn học đã thật sự trở thành đòi hỏi chung của cả giới sáng tác, lí luận lẫn công
chúng. Cuộc đổi mới văn học là hệ quả vừa là động lực thúc đẩy công cuộc đổi mới
toàn diện đất nước. Chính trong khi hướng tới mục tiêu đổi mới xã hội, văn học
thấy cần phải và có thể đổi mới chính mình.
3.4.2. Các giai đoạn phát triển
Dựa vào bối cảnh lịch sử, có thể chia sự phát triển của văn học Việt Nam từ
sau 1975 đến nay ( xét đến hết thế kỉ XX) thành các giai đoạn: từ 1975 -1985; từ
1986 – nay.
a. Từ 1975 – 1985: đây là chặng đường chuyển tiếp từ nền văn học trong
chiến tranh sang nền văn học sau chiến tranh. Tính chất chuyển tiếp này thể hiện rõ
ở cả đề tài, cảm hứng, các phương thức nghệ thuật và cả quy luật vận động của văn
học. Đề tài và khuynh hướng sử thi vẫn nổi trội, tuy đã có những tìm tòi và có
những bước phát triển mới.
b. Từ năm 1986 –nay:
Có thể phân chia giai đoạn này thành hai mốc nhỏ: từ 1986 -1992 (hoặc đến
đầu những năm chín mươi) và từ 1992 đến nay ( hoặc từ giữa những năm 90).
Cho đến đầu những năm chín mươi, khuynh hướng nhận thức lại hiện thực
và cảm hứng phê phán trên tinh thần nhân bản phát triển mạnh mẽ, tuy nhiên có lúc
bị đẩy tới cực đoan, lệch lạc, người viết bộc lộ một cái nhìn hoài nghi, thiên lệch.
Tiếp cận cuộc sống trên bình diện thế sự - đời tư, nhiều cây bút đã đi vào thể hiện
mọi khía cạnh của đời sống cá nhân và những quan hệ thế sự chằng chịt, đan

toàn vẹn hơn về con người mà hạt nhân cơ bản của quan niệm ấy là tư tưởng nhân
bản. Con người trong giai đoạn này không còn là con người nhất phiến, đơn trị mà
là con người đa diện, đa trị, lưỡng phân; trong con người, đan cài, chen lấn, giao
tranh bóng tối và ánh sáng, cao cả và tầm thường, thiên thần và quỷ dữ. Nhưng trên
nền tảng tư tưởng nhân bản, văn học không đi đến hoài nghi, hạ thấp hay phủ nhận
con người. Văn học luôn cảm thông, nâng đỡ và đòi hỏi con người luôn thức tỉnh để
hướng tới cái thiện.
c. Văn học phát triển phong phú, đa dạng, phức tạp, hướng tới tính hiện đại
Xu hướng dân chủ hoá và sự thức tỉnh cá nhân đa đưa tới sự phát triển
phong phú, sôi nổi đa dạng của văn học Việt Nam từ sau 1975, đặc biệt là từ thời kì
đổi mới của đất nước. Sự đa dạng và phong phú được thể hiện trên nhiều bình diện
của văn học: đa dạng về đề tài, phong phú về thể loại, nhiều tìm tòi về thủ pháp
nghệ thuật, đa dạng về phong cách và khuynh hướng thẩm mĩ. Nhưng sự phong
phú, đa dạng cũng đi liền với tính phức tạp và không ổn định. Sự phức tạp, không
ổn định là đặc điểm tất yếu của một giai đoạn văn học mang tính giao thời, nhưng
cũng còn một nguyên nhân khác, đó là sự chi phối của cơ chế thị trường.
Trong xu thế hội nhập, sự giao lưu với đời sống văn hoá, văn học thế giới
ngày càng mở rộng, cùng với những nhu cầu nội tại của đời sống văn hoá tinh thần
trong nước, văn học đã ngày càng gia tăng tính hiện đại. Văn xuôi có nhiều đổi mới
về nghệ thuật tự sự như sự thay đổi điểm nhìn trần thuật đến nghệ thuật xây dựng
nhân vật, ngôn ngữ đối thoại, độc thoại nội tâm và dòng ý thức, tính đa thanh và
giọng điệu…Trong thơ, sự cách tân mang đến nhiều thể nghiệm theo hướng hiện
đại chủ nghĩa, thu hút sự quan tâm của giới sáng tác và công chúng.
Tóm lại, văn học Việt Nam sau 1975 có một vị trí quan trọng trong tiến trình
văn học dân tộc thế kỉ XX: văn học của thời kì sau chiến tranh và thời kì đổi mới.
Văn học Việt Nam từ sau 1975, nhất là từ sau đổi mới đã có những bước đi vững
chắc trên con đường hiện đại hoá văn học dân tộc và hội nhập vào nền văn học thế
giới. Giai đoạn văn học sau 1975 không chỉ hoàn tất tiến trình Văn học Việt Nam
thế kỉ XX mà còn mở ra một viễn cảnh mới cho văn học Việt Nam thế kỉ XXI.
Sự đa dạng về bút pháp nghệ thuật trong tiểu thuyết Việt Nam thời kỳ đổi

hội chủ nghĩa hoặc tả chân xã hội chủ nghĩa) cũng từng được Hải Triều nói đến
trong cuộc tranh luận nghệ thuật năm 1936-1939, sau đó được đưa vào Đề cương
về văn hóa Việt Nam 1943 và trên thực tế đã trở thành nguyên tắc cơ bản của văn
học cách mạng giai đoạn 1945-1975. Tuy nhiên, bên cạnh nhiều tiểu thuyết có giá
trị nghệ thuật cao, không ít tiểu thuyết thời kỳ này rơi vào công thức, khuôn sáo.
Sau 1975, nhất là từ 1986 đến nay, khi văn học tự “cởi trói” để hướng tới sự đa
dạng thì bút pháp tả thực mới phát huy tối đa tác dụng. Điều đó gắn liền với nhu
cầu “nói thẳng, nói thật” trong quá trình tiến hành đổi mới tư duy. Nhu cầu nói
thẳng nói thật trong văn học thời đổi mới cần được hiểu ít nhất trên ba phương diện:
thứ nhất, không thi vị hóa đời sống mà nhìn cuộc sống trong tính phức tạp, đa chiều
như nó vốn có; thứ hai, không còn những đề tài cấm kị, tất cả đều được hiện lên
trong thanh thiên bạch nhật; thứ ba, nhà văn tự do nói lên chính kiến của cá nhân
chứ không nhân danh tập thể, cộng đồng để trình bày quan điểm.

Về cơ bản, tả thực trong tiểu thuyết sau 1986 khác với tả thực theo quan niệm
truyền thống. Các tiểu thuyết gia hiện đại không muốn dừng lại ở vai trò “thư ký”
thời đại hoặc coi văn học là tấm gương thuần túy mà cố gắng soi chiếu hiện thực từ
nhiều góc nhìn khác nhau. Nhà văn có thể sử dụng bút pháp tả thực bằng cái nhìn
khách quan, có thể tả thực theo cái nhìn giễu nhại... Điều quan trọng là bên cạnh
thông tin về sự thật, người đọc phải tìm thấy trong thế giới nghệ thuật của nhà văn
lượng thông tin thẩm mĩ phong phú. Đó là chưa nói đến chuyện, sự thật trong văn
học tuy thống nhất với sự thật ngoài đời nhưng hai thứ đó không phải là một. Sự
đồng nhất giữa hai loại sự thật này, dù chỉ là vô tình, cũng làm phương hại đến sự
lung linh, đa nghĩa của nghệ thuật. Bởi thế, chỉ một khi hai yếu tố thông tin sự thật
và thông tin thẩm mĩ kết hợp hài hòa thì tác phẩm mới có cơ tồn tại lâu dài. Hàng
loạt tiểu thuyết của Lê Lựu (Thời xa vắng, Chuyện làng Cuội), Nguyễn Khắc
Trường (Mảnh đất lắm người nhiều ma), Chu Lai (Vòng tròn bội bạc), Dương
Hướng (Bến không chồng) với bút pháp tả thực mới đã đem lại cho công chúng
nhiều nhận thức mới mẻ về hiện thực.


nhuần nhuyễn và điều đó đã khiến cho tiểu thuyết vẫn còn giàu chất ký sự báo chí
mà Đứng trước biển, Cù lao Tràm (Nguyễn Mạnh Tuấn) là một điển hình. Nhưng
đến giai đoạn sau, bút pháp tả thực được kết hợp với nhiều thủ pháp nghệ thuật
khác và hệ quả, tác phẩm trở nên hấp dẫn hơn. Điều đó có thể nhìn thấy qua sáng
tác của Nguyễn Khải, Ma Văn Kháng, Nguyễn Khắc Trường, Chu Lai, Tô Hoài...
2. Bút pháp phúng dụ, huyền thoại

Đây là bút pháp nghệ thuật được rất nhiều nhà tiểu thuyết thời kỳ đổi mới sử dụng.
Sự có mặt của bút pháp huyền thoại vừa cho phép nhà văn nhìn sâu hơn vào thế
giới, vừa tạo ra sự lạ hóa để thu hút người đọc. Những Thiên sứ (Phạm Thị Hoài),
Thiên thần sám hối (Tạ Duy Anh), Cõi người rung chuông tận thế (Hồ Anh
Thái), Người sông Mê (Châu Diên), Giàn thiêu (Võ Thị Hảo)... đã đem đến cho
người đọc nhiều cảm xúc mới mẻ về một hiện thực nghiệt ngã và phức tạp qua
những huyền thoại giàu chất tưởng tượng. Các nhà văn đã tìm đến các môtip huyền
thoại như một phương tiện nghệ thuật hữu hiệu để truyền đến người đọc những cách
tiếp cận hiện thực một cách sinh động. Theo đó, người đọc không nhìn về thế giới
theo chiều tuyến tính mà nhận ra sự đa dạng chính là bản chất cuộc sống. Trong
nhiều tiểu thuyết, bút pháp huyền thoại có khả năng tạo nên những hình tượng
mang tính ẩn dụ cao, và đến lượt mình, các hình tượng ẩn dụ ấy tồn hiện như một
ký hiệu nghệ thuật đa nghĩa giàu chất tượng trưng. Tất nhiên, khi đi vào tiểu thuyết,
các huyền thoại không còn là những huyền thoại mang nghĩa nguyên thủy mà đã
được cải biến để mang chứa những hàm lượng nghĩa mới. Chẳng hạn ánh trăng
trong tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương không còn là ánh trăng thơ mộng, trữ tình
mà là thứ ánh sáng ma mị, nhiều khi quái lạ. Trong Thiên sứ, Phạm Thị Hoài luôn
pha trộn các huyền thoại phương Đông và phương Tây, huyền thoại cũ và huyền
thoại mới nhằm tạo ra sự trùng phức hình tượng. Ở Thiên thần sám hối Tạ Duy
Anh lại tạo dựng tình huống độc đáo: đứa bé suy ngẫm chuyện đời khi còn nằm
trọng bụng mẹ và toàn bộ câu chuyện diễn ra dưới cái nhìn đó. Rõ ràng, việc sử
dụng bút pháp huyền thoại đã làm cho người đọc hứng thú vì họ phát hiện sự toàn
vẹn và sinh động của cuộc sống thông qua tính sinh động cuả nghệ thuật. Với tư

phức tạp và cho rằng thế mới là quan trọng! Người sông Mê của Châu Diên cũng
sử dụng thủ pháp nhại: nhại nhịp điệu sống quẩn quanh (qua cách tổ chức ngữ điệu,
nhịp điệu; nhại các loại giọng, giọng quyền uy bên cạnh giọng dân dã, giọng
nghiêm túc và giọng bông phèng...). Hồ Anh Thái cũng là nhà văn có ý thức sử
dụng bút pháp giễu nhại thành công và phong cách trần thuật này ám cả vào giọng
điệu của nhà văn...
4. Bút pháp tượng trưng

Bút pháp tượng trưng được các nhà văn sử nhằm làm gia tăng chất lượng, ý nghĩa
của văn chương đồng thời tăng thêm sức mê hoặc của tác phẩm. Trong tiểu thuyết,
màu sắc tượng trưng thường hiện ra qua những chi tiết khác lạ so với logic thông
thường. Chẳng hạn nhân vật Mai Trừng trong Cõi người rung chuông tận thế của
Hồ Anh Thái. Mai Trừng hiện ra như một thiên sứ có sức mạnh siêu nhiên, trừng
phạt cái ác. Nhưng lạ là ở chỗ, kẻ ác nhìn thấy cô đã sợ, nhưng những người yêu
thương Mai Trừng cũng không thể gần cô. Nhân vật này đã góp phần đắc lực trong
việc bộc lộ chủ đề tác phẩm: đề cao sức mạnh của cái thiện trong cuộc chiến chống
lại cái ác và chủ trương hóa giải hận thù. Trong Giàn thiêu của Võ Thị Hảo, hình
ảnh Từ Vinh dù đã chết vẫn đứng trên sông chỉ tay vào nhà Diên Thành Hầu cũng
là chi tiết giàu chất tượng trưng. Bút pháp tượng trưng không chỉ thể hiện qua các
chi tiết giàu tính nghệ thuật mà nó còn thể hiện trong việc tổ chức cấu trúc tác phẩm
và xây dựng hình tượng. Để thể hiện cái nhìn mới về lịch sử, Võ Thị Hảo đã để cho
các nhân vật trải qua nhiều kiếp, miêu tả tiếng vọng của những oan hồn bị giết,
thậm chí xoáy sâu vào những chi tiết mà các sử gia đã bỏ qua hoặc không thật chú ý
(trường hợp Ỷ Lan giết cung nữ). Nguyễn Xuân Khánh cũng xây dựng hình tượng
Sử Văn Hoa như một nhân vật có quan điểm, có tiếng nói riêng không lệ thuộc vào
quyền uy, không khuất phục sức mạnh của những kẻ quyền thế. Rõ ràng, Nguyễn
Xuân Khánh và Võ Thị Hảo có ý thức lý giải lịch sử theo cách riêng và quan điểm
của nhà văn không nhất thiết lúc nào cũng trùng khít với lịch sử đã được ghi chép
trong các bộ chính sử.


nhà thơ và ngôn ngữ của anh ta. Nó hoàn toàn khác xa với những trò chơi ngôn ngữ
tân kì nhưng thực chất chỉ tạo ra những xác chữ không hồn. Bởi thế, muốn hiểu
được những đổi mới thi pháp thơ sau 1975, nhất là thơ ca thời đổi mới, tôi nghĩ,
trước hết cần phải nhập được vào mã ngôn ngữ của thơ đương đại. nhưng điều đó
không dễ bởi: thứ nhất, sức ỳ của thói quen và thứ hai, sự đa dạng của thơ sau 1975.
2. Sự đa dạng về phong cách và sự phong phú về giọng điệu là đặc điểm nổi bật của
thơ Việt sau 1975. Nếu trước đây, Tố Hữu và Chế Lan Viên được coi là những
người lĩnh xướng của thơ ca kháng chiến thì sau 1975, hiện tượng này không xuất
hiện trở lại. Thay vào đó, mỗi người có cách thể hiện cái nhìn nghệ thuật của mình.
Sự gần gũi về quan niệm và phong cách giữa một số nhà thơ có thể hình thành một
xu hướng, một phái nhóm chứ không xuất phát từ một phương pháp sáng tác độc
tôn nào đó. Chính sự đa dạng và sự “phân cực” về tư duy nghệ thuật, về khuynh
hướng thẩm mĩ, về bút pháp và ngôn ngữ là một dấu hiệu cho thấy thơ ca sau 1975
đang sải những bước chân mạnh mẽ trên con đường hiện đại hoá. Người ta không
còn thấy lạ khi bên này là những nhà thơ đắm mình trong văn hoá truyền thống và
bên kia là những cách tân theo kiểu phương Tây, bên này là những nhà thơ có ý
thức tỏ bày cảm xúc mãnh liệt và bên kia là những cây bút tỉnh táo giấu kín cảm
xúc của mình…Tất cả những phương cách ấy đều có quyền tồn tại với điều kiện là
thơ họ phải có hay và mới. Nhưng mới không có nghĩa là đoạn tuyệt với truyền
thống và hay không đồng nghĩa với những thuật xiếc chữ để tạo nên sự tân kì mà
trống rỗng.
3. Đọc thơ, suy cho cùng cũng một cách tiếp cận kinh nghiệm sống, tiếp cận những
giá trị tinh thần do nhà thơ sáng tạo nên. Nhưng mỗi nhà thơ đều phải sống trong
một thời đại cụ thể, trong một không gian tinh thần cụ thể. Vì thế, thơ họ, một mặt,
thể hiện những suy tư cá nhân độc đáo nhưng mặt khác, những suy tư ấy phải thể
hiện được tâm thế và trạng thái tinh thần của thời đại mình. đây không phải là
chuyện thể hiện “tinh thần công dân” trong sáng tạo nghệ thuật mà thực chất, là
năng lực cảm nhận chiều sâu thế giới của nghệ sĩ. Bỏ qua điều này có nghĩa là rời
bỏ quan điểm lịch sử khi xem xét và đánh giá các giá trị nghệ thuật của các thời đại
khác nhau. Điều đó đòi hỏi việc đánh giá thơ ca nước nhà trong hơn ba mươi năm

nào cũng lệch/ Chị chôn tuổi xuân trong má lúm đồng tiền (Hữu Thỉnh - Đường tới
thành phố). Trong những trường ca này, mặc dù cái bi chỉ là yếu tố để làm nổi bật
cái tráng nhưng rõ ràng, cái nhìn về chiến tranh đã sâu hơn, gắn nhiều hơn với
những suy tư cá nhân về số phận dân tộc và số phận con người. Thứ hai, trong
những năm cuối thập kỷ 70 và đầu những năm 80 của thế kỷ XX, “thơ đời thường”
xuất hiện nhiều. Chưa bao giờ các nhà thơ thấy nhiều bi kịch đến thế. Thậm chí,
cảm giác bế tắc và chán nản là cảm giác khá nổi bật trong tâm trạng nhiều người:
thời tôi sống có bao nhiêu câu hỏi/ câu trả lời thật chẳng dễ dàng chi (Nguyễn
Trọng Tạo - Tản mạn thời tôi sống). “Từ xa” nhìn về Tổ Quốc, Nguyễn Duy đã thật
lòng nói lên nỗi cay đắng của mình khi nhìn thấy sự khổ nghèo và bất hạnh của con
người trong cuộc sống đầy khốn khó. Lưu Quang Vũ cũng cay đắng nghẹn ngào khi
nghĩ về Tổ quốc. Các hình tượng nghệ thuật mang tính huyền thoại hóa về một hiện
thực kỳ vĩ và cảm hứng sử thi không còn xuất hiện như là hiện tượng nổi bật của
thơ ca giai đoạn này. Trái lại, bằng cái nhìn tỉnh táo và giàu màu sắc chiêm nghiệm,
nhiều thi phẩm sau chiến tranh đã thể hiện một cách khá riết róng những mặt trái
của đời sống, những thay đổi các thang bậc giá trị và không né tránh việc nói đến
những bất công xã hội. Đây là những cảm hứng hiếm khi xuất hiện trong thơ 1945-
1975, khi mà số phận dân tộc và số phận cá nhân hòa làm một, cái tôi và cái ta hoàn
toàn thống nhất. Cái nhìn nghệ thuật trong thơ sau 1975 là cái nhìn suồng sã, đối
tượng hiện lên như một sự thật không mang màu lý tưởng hóa. Theo đó, thể tài thế
sự, đời tư trở nên nổi bật và gắn liền với nó là chất giọng “tự thú” và chất giọng
giễu nhại. Ở đây chất giọng giễu nhại mang trong mình nó ít nhất hai chức năng
nghệ thuật cơ bản: a- làm cho thơ bớt đi sự nghiêm trang thái quá, ngôn ngữ thơ bớt
đi sự “trong suốt” mà tăng thêm phù sa của “cây đời”; b- cho phép người đọc hình
dung cuộc sống như một thực thể đa trị, bên cạnh cái trong veo, thuần khiết là
những thứ “tèm nhem tâm hồn”. Cả hai đều tồn tại bình đẳng trong một thế giới
không phải lúc nào cũng được cắt nghĩa theo logic nhân quả. Bởi thế, gắn liền với
giọng điệu thự thú là cảm hứng phờ phỏn và chất giọng hoài nghi. Chỉ có điều cái
nhìn hoài nghi cần được nhìn nhận trong mối quan hệ biện chứng, khi ta hoài nghi
một giá trị có nghĩa là bắt đầu ta đã nghiêng về một giá trị khác (hoặc ít nhất ta

những niềm trắc ẩn của con người trên cơ sở trình bày cảm nhận của mình về các
giá trị.
- Nỗ lực khám phá sự phong phú của “cái tôi ẩn giấu”, dám phơi bày những bi kịch
nhân sinh, hoài nghi những giá trị vốn đã quá ổn định để đi tìm những giá trị mới.
Đây là lý do nhiều tác phẩm xuất hiện cảm hứng “giải thiêng” và khát vọng muốn
tìm đến những hình thức tổ chức ngôn từ mới lạ(1). Trong nghệ thuật, không phải
mọi nhận thức chung về tư tưởng xã hội đều đồng nhất với những suy nghĩ cá nhân
và văn bản văn học không phải là những văn bản tuyên huấn có tính hình ảnh. Với
tư cách là một nghệ sĩ, cái quan trọng nhất là nhà thơ phải tạo ra được quan niệm
riêng về đời sống. Quan niệm ấy không hiện lên qua những lời thuyết lý khô khan
mà phải hoá thân vào chữ nghĩa và hình tượng. Đó là lý do khiến các nhà thơ sau
1986 chú ý nhiều hơn đến tính đa nghĩa của ngôn ngữ thơ ca. Bên cạnh xu hướng
đưa thơ gần với đời sống là một cực khác: ý thức tạo ra tính nhòe mờ trong ngôn
ngữ và biểu tượng. Xu hướng này muốn gia tăng chất ảo trong thơ, buộc người đọc
phải giải mã các sinh thể nghệ thuật qua nhiều chiều liên tưởng văn hóa khác nhau.
- thơ như một ngôn ngữ. Công cuộc đổi mới đã mở rộng cánh cửa giao lưu, hội
nhập với thế giới, và thơ ca, trước vận hội này, không thể nằm yên trong mô hình
nghệ thuật cũ. Bắt đầu xuất hiện những giọng thơ lạ, đậm chất “Tây”. Điều đó đã
dẫn tới những cuộc trạnh luận về “ta” và “tây” trong thơ kéo dài đến mấy năm sau
sự kiện “sự mất ngủ của lửa” (Nguyễn Quang Thiều) và thơ của một số nhà thơ
khác như Lê Đạt, Dương Tường, Đặng Đình Hưng. Các cây bút này có ý thức phá
vỡ các chiều tuyến tính, tạo nên những dòng chảy đứt nối và gia tăng tính đồng hiện
của các hình ảnh thơ hoặc cố gắng tỉnh lược các mối quan hệ bề nổi, đặt những hiện
tượng khác nhau bên cạnh nhau và buộc người đọc tự xác lập mối lên hệ giữa
chúng.
Như vậy, nhìn một cách tổng quát, thơ sau 1975 đã vận động một cách mạnh mẽ
theo hướng hiện đại hóa. Tất nhiên, trong quá trình tìm tòi, đã xuất hiện không ít
trường hợp rơi vào cực đoan. Tuy nhiên, với những “cực đoan lành mạnh”, tụi ngh?
c?n nhìn thấy khía cạnh tích cực của nó: Nó sẽ là những cú hích để: a- phá bỏ
những tín điều mòn cũ một cách triệt để; b- có ý nghĩa như một kinh nghiệm nghệ

trong khoảng gần ba mươi năm qua xuất hiện hai đợt sóng trường ca. Đợt thứ nhất
xuất hiện vào những năm cuối thập kỷ 70 đầu thập kỷ 80 và đợt thứ hai xuất hiện
vào những năm cuối thế kỷ XX. Sự xuất hiện của các tập trường ca cho thấy nhu
cầu tổng kết về chiến tranh và lịch sử trong thơ là một nhu cầu có thật. Từ điểm
nhìn hiện tại, các nhà thơ phóng chiếu cái nhìn sâu, xa về lịch sử đất nước - một lịch
sử oai hùng nhưng cũng không ít đau thương và bất hạnh. ý thức nói nhiều hơn về
bi kịch khiến cho các tập thơ này không rơi vào giọng điệu tụng ca dễ dãi mà thể
hiện chiều sâu ngẫm ngợi của nhà thơ về thế thái nhân tình trong sự chuyển động
không ngừng của lịch sử. Bên cạnh những cây bút thành danh ở thể loại trường ca
như Thanh Thảo, Hữu Thỉnh, Nguyễn Đức Mậu …là sự xuất hiện của Trần Anh
Thái với Đổ bóng xuống mặt trời, Hoàng Trần Cương với Trầm tích… Sự vạm vỡ,
tính trường sức của thể loại được gắn kết với những trải nghiệm cá nhân và những
suy tư mang tính khái quát cao đã khiến cho thơ ca giai đoạn này có được những
khúc ca giàu tính nghệ thuật về số phận đất nước, nhân dân.
3.2. Xu hướng trở về với cái tôi cá nhân, những âu lo của đời sống thường
nhật
Đây là xu hướng nổi bật nhất trong thơ sau 1975. Những năm đầu thập kỷ 80 thơ ở
giai đoạn chuyển giọng: nhà thơ nói nhiều hơn về nỗi buồn nhân sinh, về những
cảm nhận của cái tôi trước một thực tại khắc nghiệt. Nếu như trước đây, các nhà thơ
dường như e ngại nói về nỗi buồn thì trong thơ sau 1975, nhiều nhà thơ công khai
bày tỏ nỗi buồn. Đó không hẳn là nỗi buồn kiểu thơ mới mà là nỗi buồn gắn chặt
với một thực tại mới, một cảm quan nghệ thuật mới. Có nỗi buồn về thần tượng bị
gẫy đổ, ảo tưởng bị tan vỡ khi nhận ra “Chúa chỉ bằng đất đá” (Nguyễn Trọng Tạo),
có nỗi buồn vì cuộc sống mưu sinh làm cho con người chỉ chú ý chuyện tồn tại mà
“xa dần truyện bớt dần thơ” (Nguyễn Duy) và có những trắc ẩn về riêng tư, đôi lứa:
Em chết trong nỗi buồn - Chết như từng giọt sương - Rơi không thành tiếng (Lâm
Thị Mỹ Dạ). Chất giọng tự thú, tự bạch trở thành gam giọng phổ biến. Cắt nghĩa về
thực trạng này có thể nhìn từ hai phía: thứ nhất, đó là nỗi buồn xuất phát từ thời thế,
sự khủng hoảng về niềm tin, sự bất an trước thời cuộc; thứ hai, trong nền kinh tế thị
trường, quan hệ người trở nên lỏng lẻo, con người sống trong nhiều mối quan hệ

Cơn thể niệm đầy triển vọng hoàn thành, thì một hôm (có lẽ tại thời tiết, jở jời)
bỗng phát sinh một số biến chứng, biến chứng từ trong ra. Hôm ấy trời se se - mùa
chuyển, anh lại thấy người gai gai khó nói - như man mác - như mây trôi - lại như
trống trải cô li - như tiếng gọi mùa:
xuân hạ thu đông
đi jiữa mùa em jó lộng
thu cùng
đi jiữa mùa xuân
jó lạnh xuân mùa
thay áo
mùa sương em
sương ngượng
ngỡ ngàng
ngấp nghé
Đoạn thơ trên đây không tuân thủ cấu trúc cú pháp thông thường, sự thay đổi tâm
trạng được hình dung như một biến chứng bất thường, kiểu ký tự của tác giả cũng
khác so với từ ngữ quen dùng (jiữa, jó…)… Xu hướng này có thể tìm thấy trong thơ
“vụt hiện” của Hoàng Hưng, một số thi phẩm của Hoàng Cầm, Lê Đạt, Dương
Tường… Tất nhiên không phải nhà thơ nào chủ trương phải đi sâu vào con người
tâm linh và đề cao lối viết tự động, tìm mọi cách đưa ngôn ngữ thơ ca khỏi phạm
trù tiêu dùng cũng đều đều “ú ớ” và tắc tị như có người lên tiếng phủ nhận. Một số
câu thơ của họ khá hay nhưng nếu đẩy quỏ xa, xu hướng này rất dễ rơi vào bế tắc
như trước đây Xuân thu nhã tập từng một lần thất bại. Tất nhiên, trên quan điểm
lịch sử, đây là những cách tân cần được tôn trọng vì có những thứ cực đoan còn có
ý nghĩa hơn rất nhiều những cái “đung đúng”, chừng mực đúng nhưng vô hồn và
nhàm chán.
3.4. Xu hướng hiện đại (và hậu hiện đại)
Xu hướng này thể hiện rõ nhất trong sáng tác của nhiều cây bút trẻ trưởng thành sau
1975 như Nguyễn Quang Thiều, Nguyễn Bình Phương, Phan Huyền Thư, Vi Thùy
Linh, Nguyễn Hữu Hồng Minh…Một số cây bút vốn trước đây còn ít nhiều nặng

sau 1975 nhưng trên thực tế, các thể thơ truyền thống như thơ lục bát, thơ 5 chữ, 7
chữ vẫn tồn tại. Thậm chí đã từng có những cuộc thi thơ lục bát kéo theo một số
lượng lớn các nhà thơ tham gia. Chỉ có điều, so với trước đây, các thể thơ trên
không còn “nguyên bản” mà đã có những thay đổi đáng kể về cấu trúc bên trong.
Thơ 5 chữ và 7 chữ trước đây gắn chặt với kỹ thuật gieo vần và nhịp điệu thơ
thường khá êm ả, ru vỗ. Đến thời đoạn sau 1975, tính “điệu nói” được gia tăng thêm
một mức nữa và cấu trúc thể loại tựa vào nhịp nhiều hơn tựa vào vần, giọng điệu
thơ gân guốc hơn, các liên tưởng thơ ít tuân theo quan hệ nhân - quả hơn. Riêng về
lục bát, đã có những nỗ lực cách tân về bài trí văn bản (tiêu biểu là loại lục bát
xuống dòng theo hình thức bậc thang và hiện tượng ngắt dấu giữa dòng đã trở nên
phổ biến). Đó là chưa nói đến hiện tượng nhiều bài thơ lục bát được bố trí theo kiểu
thơ tự do. Sự thay đổi giọng điệu cũng là một thay đổi đáng quan tâm. Bên cạnh
chất giọng bụi bặm, suồng sã đời thường kiểu Con ơi cha mắc bệnh thơ – Ú a ú ớ ù
ờ kinh niên (Nguyễn Duy), nhiều cây bút lại có ý thức đưa ngôn ngữ đậm chất
tượng trưng, siêu thực vào lục bát khiến cho thể loại này không chỉ hồn hậu mà còn
có khả năng biểu đạt những tâm thức sâu thẳm của người hiện đại: Nắng em nắng
đến siêu hình - Như môi như mắt như hình như không - Mưa em mưa đến hãi hùng
- Lìa khoang xanh xiết xuống vùng dấn thân (Hoàng Cầm)
4.2. Thơ tự do và thơ văn xuôi
Không còn nghi ngờ gì nữa, tính hiện đại trong thơ gắn liền với sự hiện diện mang
tính áp đảo của thơ tự do và thơ văn xuôi so với các thể thơ khác. Điều này xuất
phát từ ba lý do cơ bản: a- đây là những thứ thơ cho phép nhà thơ triển khai tự do
hơn những phức hợp cảm xúc cá nhân; b- thể hiện sự giao thoa thể loại, trong đó
đáng kể nhất là ảnh hưởng của chất văn xuôi vào thi ca; c- việc tìm đến thơ tự do và
thơ văn xuôi khiến cho giọng điệu thơ không còn êm ái, mượt mà như trước mà trở
nên thô ráp hơn, nhịp điệu thơ mang nhiều tính bất ngờ hơn. Thơ tự do khiến cho
các nhà thơ có khả năng tạo ra những cú vặn cấu trúc nhằm gây ấn tượng cho người
đọc.
Trong thời đại ngày nay, khi mà hình thức tự sự, nhất là tiểu thuyết đang hiện lên
như nhân vật chính trên sân khấu văn học thì ảnh hưởng của chất văn xuôi vào thơ

xuất hiện ở nhiều nhà thơ. Điều này không có gì lạ. Thứ nhất, độ dài của trường ca
cho phép các nhà thơ có điều kiện miêu tả, tái hiện những vùng hiện thực rộng lớn.
Thứ hai, các trường ca thường dung nạp trong nó yếu tố tự sự rõ nét, thông qua các
sự kiện, biến cố xảy ra trong đời sống để trình bày những suy ngẫm của nhà thơ về
dân tộc, con người. Thứ ba, trong trường ca, các nhà thơ có “đất” để cùng lúc sử
dụng nhiều thể thơ khác nhau như một hình thức phô diễn các cung bậc của cảm
xúc, tạo dựng tiết tấu và âm hưởng thơ. Sự nở rộ của thể loại trường ca vào những
năm cuối thể kỷ XX cho thấy thể loại này vẫn còn tiềm năng phong phú mặc dù đã
có dấu hiệu lặp lại người đi trước ở một số cây bút. Đây là một điều mà các cây bút
đến sau phải đặc biệt chú ý.
5. Những động hình ngôn ngữ mới trong thơ
Thơ ca sau 1975 không còn êm mượt như thơ ca giai đoạn 1945-1975 mà trở nên
trúc trắc hơn, ngôn ngữ thơ phong phú, giọng điệu thơ đa dạng hơn. Thậm chí, tính
trong suốt và sáng rõ của ngôn ngữ thơ nhiều khi được cố ý mờ hóa nhằm tạo nên
tính đa nghĩa trong thơ. Chính sự đa dạng về tư duy nghệ thuật và sự phong phú về
giọng điệu đã khiến cho ngôn ngữ thơ có sự phân hoá và phân cực về cả bề nổi và
về cả tầng sâu: bên cạnh thứ ngôn ngữ gần gũi với đời thường là loại ngôn ngữ mờ
nhoè, đậm chất tượng trưng, siêu thực, bên cạnh thứ ngôn ngữ bình dị là những văn
bản thơ ngôn ngữ chắp vá một cách cố ý nhằm tạo nên sự lạ hoá… Tuy nhiên, trên
đại thể, có thể nhận thấy một số loại hình ngôn ngữ nổi bật như sau:
5.1. Ngôn ngữ đậm chất đời thường
Gắn với đời sống thường nhật, không ít nhà thơ có ý thức đưa ngôn ngữ đời thường
vào thơ. Nhiều nhà thơ thích sử dụng cách nói dân gian, khiến cho thơ vừa dễ nhập
vào người đọc, vừa có khả năng tạo nên tiếng cười trong thơ. Như đã nói, thơ ca
Việt Nam trước đây có phần quá nghiêm trang và đậm chất giáo huấn nên việc tạo
nên những cách nói kiểu “xẩm ngọng” và giọng điệu “bụi bặm” đã khiến cho thơ
trở nên “tếu táo” hơn và cũng gần gũi với người đọc hơn. Tiêu biểu cho hướng đi
này là Nguyễn Duy: Tạnh men là tạnh la đà - Tạnh cơn một bóng ảo ra chính hình -
Phàm trần bớt chút lung linh - Các em bớt xỉnh xình xinh mấy phần (Kiêng). Có
một cây bút khác cũng đưa được chất bụi vào thơ và có được lượng độc giả của

5.3. Những “trò chơi” ngữ nghĩa trong thơ
Khi mà vai trò của ngôn ngữ trong nghệ thuật thơ ca được chú ý nhiều hơn tất yếu
sẽ xuất hiện các quan niệm khác nhau. Có người cho rằng văn chương là một trò
chơi, có người khẳng định thơ là một vũ khí, lại có người cho rằng thơ là sự biểu
đạt tâm trạng cá nhân một cách riêng tư nhất… ở đây, tôi muốn nói đến hiện tượng
nhiều cây bút có ý thức xếp đặt ngữ âm như một trò chơi. điều đáng chú ý là với
những cây bút này, những trò chơi ấy cần được hiểu như một hình thức biểu đạt thế
giới, một quan niệm của chủ thể về nghệ thuật và nhân sinh. Nhìn rộng ra, những
trò chơi ngôn ngữ không còn quá mới lạ đối với thơ ca nhân loại. Người ta có thể
nhìn thấy loại thơ thị giác của Apolinaire hay các loại xếp đặt âm thanh, hình khối
khác lạ trong thơ châu Âu cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX. Nhưng rõ ràng, ở ta, sự
xuất hiện của loại thơ lấy thanh điệu, ngôn ngữ, cấu trúc ngôn bản như một “tiếng
nói” đã góp phần tạo nên sự thú vị trong thưởng thức và sự rộng mở trong tiếp nhận
nghệ thuật. Các cây bút như Hoàng Hưng, Đặng Đình Hưng, Lê Đạt, Dương
Tường… là những cây bút có nhiều bài thơ tiêu biểu cho cách tổ chức trò chơi âm/
nghĩa này. Với họ, thơ cần được cảm hơn là dùng để hiểu. Loại thơ này ít khi nhận
được sự đồng cảm của số đông thích ổn định nhưng lại được những độc giả có xu
hướng tìm đến sự cách tân chia sẻ.
5.4. “Ngôn ngữ thân thể” trong thơ
Nếu như việc miêu tả những yếu tố tính dục trong thơ sau 1975 ở giai đoạn đầu
được coi là dấu hiệu cởi mở để phá bỏ cấm kị thì ở những năm cuối thế kỷ XX đầu
thế kỷ XXI việc miêu tả tính dục được đẩy lên đến mức nhiều người coi đó là quá
trình “sinh dục hoá thơ ca”. Nhiều cây bút không những nói đến các bộ phận thân
thể mà còn diễn tả các hành vi tính giao một cách “hiện thật” như thơ của nhóm Mở
miệng hoặc Dự báo phi thời tiết của nhóm Ngựa trời Sài Gòn. Thực tế này khiến
các nhà nghiên cứu băn khoăn trong việc định danh. Đây cũng là loại thơ làm phân
rã người đọc sâu sắc, trong đó sự phản ứng thuộc về số đông. Tôi nghĩ, sự phản ứng
trên đây có lý ở chỗ, nếu quan niệm rằng thơ chỉ cốt miêu tả tính dục và coi sex như
một hình thức cao nhất để giải phóng tinh thần và như một phương diện để chứng
minh tính hiện đại trong nghệ thuật là điều bất ổn. Ngay cả học thuyết Freud từ khi


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status