SỬ DỤNG THƠ vàn ( CHỦ yếu là THƠ) TRONG dạy học LỊCH sử NHẰM KHẮC sâu KIẾN THỨC CHO học SINH áp DỤNG TRONG CHƯƠNG TRÌNH LỊCH sử lớp 12 THPT (PHẦN LỊCH sử VIỆT NAM GIAI đoạn 1919 1975) - Pdf 33

sử DỤNG THƠ VĂN TRONG DẠY HỌC LỊCH sử NHẰM KHẮC SÂU KIỂN
THỨC CHO HỌC SINH LỚP 12 (Phần Lịch sử Việt Nam - Giai đoạn 19191975)

Người thực hiện: vũ THI MINH THI Tổ: sử Địa CD
TRƯỜNG THPT LÊ QUÝ ĐÔN QUẢNG NAM SKKN năm 2014


1

1. Tên đề tài:
sử DỤNG THƠ VĂN TRONG DẠY HỌC LỊCH sử NHẰM KHẮC SÂU KIẾN
THỨC CHO HỘC SINH LỚP 12
(Phần Lịch sử Việt Nam - Giai đoạn 1919- 1975)

2. Đặt vấn đề:
Chúng ta đều biết, trong nhà trường Phổ thông Trung học, cùng với các bộ môn
khoa học tự nhiên như Toán, Lý, Hóa ...khoa học xã hội như Văn học, Lịch sử,... có
vai trò hết sức to lớn trong việc hình thành và giáo dục nhân cách, đạo đức cho học
sinh. Thơ văn nói chung với ưu thế dễ thuộc, dễ đi vào lòng người... sẽ là một thế
mạnh trong việc hỗ trợ đắc lực cho việc truyền thụ kiến thức lịch sử. Thông qua đó
góp phần giáo dục đạo đức, lòng biết ơn đối với những anh hùng liệt sĩ đã hi sinh
xương máu của mình để làm rạng rỡ thêm lịch sử nước nhà.
“Lịch sử là sự kiện”. Đó là một tổng kết mà ai trong chúng ta - những giáo viên
dạy sử cũng có thể thấy được. Bản thân những sự kiện lịch sử vốn đã khô khan,
nhất là những bài viết về các trận đánh có rất nhiều những con số về ngày, tháng,
năm xảy ra sự kiện hoặc những số liệu về các thành tựu đã đạt được trên mọi lĩnh
vực. Để chuyển tải cho học sinh những số liệu một cách khô cứng như vậy, đòi hỏi
người giáo viên phải linh hoạt và sáng tạo trong việc sử dụng phương pháp. Thực
tế cho thấy, khi vận dụng kiến thức thơ, văn vào việc giảng dạy Lịch sử sẽ gây
hứng thú cho học sinh trong việc tiếp thu bài. Những tiết học như vậy trở nên sinh
động hẳn. Khi thầy cô đọc thơ minh hoạ, cả lớp sẽ chăm chú lắng nghe và tỏ ra rất

Dạy học liên môn là một trong những nguyên tắc quan trọng của dạy học ở
trường phổ thông nói chung, môn lịch sử nói riêng. Nó góp phần bổ sung lượng
kiến thức khác cho bài học, giúp học sinh sẽ hứng thú và say mê hơn trong giờ học.
Mặt khác, bộ môn Lịch sử cũng cung cấp cho học sinh những tri thức ở nhiều
lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội. Do đó, việc học liên môn là dùng các kiến
thức của bộ môn khác bổ sung, hỗ trợ, làm sáng tỏ hơn kiến thức mà học sinh đang
được học trong môn học, cụ thể ở đây là môn Lịch sử và việc sử dụng tài liệu văn
học trong dạy học Lịch sử. Từ đó tôi mạnh dạn đề cập đến vấn đề sử dụng thơ văn
trong dạy học Lịch sử nhằm gây hứng thú cho học sinh.

4. Cơ sở thực tiễn:

" Lịch sử là những gì diễn ra trong quá khứ, lịch sử loài người mà chúng ta học
là toàn bộ những hoạt động của con người từ khi xuất hiện đến nay ”
(Thành ngữ lịch sử)

Qua khái niệm trên chúng ta thấy rằng: Việc học Lịch sử có nét đặc trưng riêng,
có cái khó riêng. Đó là người học không thể tri giác trực tiếp, không thể “sờ” hay
làm thí nghiệm trong phòng thí nghiệm...mà buộc phải tư duy, phải trừu tượng hóa,
khái quát hóa để dựng lại những gì đã diễn ra trong quá khứ thông qua các sự kiện,
niên đại , nhân vật... Để làm được điều đó ngoài việc sử dụng các nguồn tư liệu sử
học (hiện vật, văn tự cổ..) thì việc sử dụng tư liệu văn học cũng có tác dụng rất lớn
trong việc “dựng lại”lịch sử.
Bên cạnh đó, việc dạy học Lịch sử ở trường phổ thông hiện nay đang gặp nhiều
khó khăn, đó là bộ phận lớn học sinh không còn hứng thú với việc học tập Lịch sử.
Đây là một thực trạng đáng buồn, song khi nói về nguyên nhân của thực trạng trên,
theo tôi có nhiều nguyên nhân (từ gia đình- xã hội- nhà trường). Trong đó, một
nguyên nhân quan trọng dẫn đến thực trạng trên đó là: Giáo viên dạy sử còn để giờ
dạy sử quá khô khan, nặng nề nên thiếu sự thu hút đối với học sinh. Do đó, để khắc
phục tình trạng này, theo tôi ngoài việc đổi mới phương pháp, tăng cường sử dụng

định được đúng mức độ vận dụng của đối tượng là học sinh lớp 12, để tránh ôm
đồm.
- Tiến hành sưu tầm các bài thơ, văn... có quan hệ sát với nội dung các bài Lịch
sử .Cần lưu ý rằng, không phải trong một bài thơ liên quan ta có thể khai thác được
hết cả bài mà nên lựa chọn những đoạn thơ sát nhất, “đắt” nhất để sử dụng.
- Chọn lựa, phân loại các kiến thức thơ, văn phù hợp với yêu cầu, phương pháp
giảng dạy Lịch sử theo từng mảng: thơ về tiểu sử, cuộc đời nhân vật lịch sử; thơ
văn về diễn biến trận đánh hay biến cố lịch sử, thơ văn trần thuật về tội ác của giai
cấp thống trị, của bọn xâm lược... Sau khi phân loại, tiến hành sắp xếp nguồn tư
liệu đó thành từng chủ đề.
- Khi sử dụng, giáo viên phải hiểu cặn kẽ và thật tâm đắc với những tư liệu mình
đã lựa chọn không nên ôm đồm, quá tải trong việc vận dụng kiến thức thơ văn. Các
kiến thức thơ văn vận dụng cần phải có nguồn gốc xuất xứ chính xác, rõ ràng.
- Khi đọc thơ văn giáo viên phải đọc có cảm xúc, truyền cảm, có khả năng đi
vào lòng người, nếu không có năng khiếu phải tập từ từ hoặc sử dụng các phương
tiện hỗ trợ như công nghệ thông tin....
c. Vận dụng thơ, văn (chủ yếu là thơ) vào việc giảng dạy một so bài lịch sử (Lớp
12- Giai đoạn 1919- 1975)) cụ thể:
1 .Bài 12 Phong trào dân tộc dân chủ ở Việt Nam từ 1919-1925
a) Làm sáng tỏ tội ác của thực dân Pháp xâm lược cũng như nỗi thống khổ
của nhân dân ta do chính sách bóc lột hết sức tàn bạo của thực dân Pháp, giáo viên


4

sử dụng đoạn thơ sau:
"Cao su đi dễ, khó về Khi đi trai tráng,
khi về bủng beo ”
(Ca dao chống Pháp)


Đồng cỏ héo đã bùng lên lửa cháy Nước
non ơi hết thảy vùng lên Bắc, Trung, Nam
khắp 3 miền Toàn dân khởi nghĩa chỉnh
quyền về tay
hay
Tong khởi nghĩa! Lệnh truyền đêm trước
Sáng quăn ra giải phóng Thái nguyên Hà
Nội, Huế, Sài Gòn, cả nước Đứng lên ta
giành hết chỉnh quyền
(Theo chân Bác - Tố Hữu)

Khi giáo viên đọc đoạn trích trên chắc chắn học sinh sẽ nhớ rõ ràng về trình
tự khởi nghĩa và giành thắng lợi trong cuộc Tổng khởi nghĩa tháng Tám 1945.
c)Cách mạng tháng Tám thành công Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập
thành lập nước Việt nam dân chủ cộng hoà:
Hôm nay sáng mồng hai tháng chỉn Thủ
đô hoa, vàng nắng Ba Đình Muôn triệu
tim chờ... chim cũng nín Bỗng vang lên
tiếng hát ăn tình
Hồ Chí Minh! Hồ Chí Minh!
(Theo chân Bác - Tố Hữu)

Chỉ một đoạn thơ ngắn nhưng học sinh sẽ biết được giờ phút thiêng liêng khai
sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là ngày 2 tháng 9 và niềm hân hoan vui
sướng của hàng triệu trái tim con người Việt Nam:
5.Bài 18 Những năm đầu toàn quốc kháng chiến chông Thực Dân Pháp
(1946-1950)
a.Khi giảng về Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Hồ Chủ Tịch đêm ngày
19-12- 1946, giáo viên sử dụng đoạn:
Giọng của Người không phải sấm trên cao

Nam- Bắc ngăn cách.
Sông Bến Hải bên bồi bên lồ Cầu Hiền Lương bên nhớ bên
thương Cách chia mười mấy năm trường Khi mô mới noi được
đường vô ra
hay
Ta lớn lên giặc ngăn chia đất nước Nhưng súng gươm đâu ngăn
được tình Đâu ngăn được mặt trời đỏ Khi lòng tôi đã hoá hướng
dương
(Lê Anh Xuân)

7.

Bài 21 Xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Miền Bắc, đấu tranh chống
Đế Quốc Mĩ và chính quyền Sài Gòn ở Miền Nam (1954 - 1965)
a.
Sau 1954 miền Bắc hoàn toàn giải phóng bắt tay xây dựng CNXH, nông
thôn miền Bắc phấn khởi trên con đường làm ăn tập thể. Giáo viên đọc những câu
thơ sau sẽ giúp học sinh thấy được sự vui mừng của người nông dân khi ruộng để
canh tác - họ thực sự trở thành người chủ ở nông thôn.
Dân có ruộng dập dìu hợp tác
Lúa mượt đồng ấm áp làng quê
Chiêm mùa, cờ đỏ ven đê
Sớm trua tiếng trống đi về trong thôn
(Ba mươi năm đời ta có Đảng- Tố Hữu)

Khi nói đến Miền Bắc thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1961-1965)
Hỡi Miền Bắc đó nặng đôi vai


9

mắt, trời tuôn mưa...
Bác đã đi rồi sao, Bác ơi Mùa thu đang đẹp nắng
xanh trời Miền Nam đang thắng, mơ ngày hội
Rước Bác vào thăm, thấy Bác cười.
(Bác ơi - Tố Hữu)

Lắng nghe đoạn thơ trên chắc chắn không một em nào không nhớ đến sự mất
mát lớn của dân tộc ta, đó là ngày 2/9/1969 Bác Hồ mất, để lại nỗi tiếc thương
khôn nguôi - giữa lúc sự nghiệp chống Mĩ, cứu nước đang giành được những thắng
lợi ngày càng lớn: nhân dân miền Nam đang thắng lớn trước chiến lược "Chiến
tranh cục bộ " và thắng lợi bước đầu trong chiến lược " Việt Nam hóa chiến tranh"
của đế quốc Mĩ thì xảy đến một cái tang chung gây nên một tổn thất to lớn cho dân
tộc Việt Nam.
b. Khi dạy về cuộc chiến tranh phá hoại lần 2 của Mĩ với 12 ngày đêm ở Hà
Nội, Hải Phòng.... Giáo viên sử dụng đoạn thơ sau nhằm khắc họa âm mưu của Mĩ,
tinh thần kháng chiến và những thắng lợi vẻ vang của nhân dân ra: :


10

Chúng muốn biến ta thành fro bụi
Ta hoá vàng nhăn phẩm lương tăm
Chúng muốn ta bán mình ô nhục Ta
làm sen thơm ngat giữa đầm....
Cả bon biển hoan hô Hà Nội
Pháo đài bay rụng đỏ mặt hồ
(Tố Hữu )

9.


Mức độ chậm
Khả năng ghi nhớ sự kiện, Nhanh, hiểu rõ
nhân vật
Khả năng làm bài tập
Đa dạng, phân tích có
Chủ yếu học thuộc lòng,
chiều sâu
ghi nhó các sự kiện.
Cụthê:
- Số lượng học sinh có hứng thú trong học tập bộ môn tăng, nhiều em tích cực
tham gia ôn tập và dự thi HSG môn Lịch sử cấp trường ( Lớp 11- NH 2013- 2014)


11

và cấp Tinh( Lớp 12- NH 2013- 2014) đạt giải....
- Chất lượng các bài kiểm tra định kì và chất lượng bộ môn tăng và cao so với
mặt bằng chung của khối.
Sau đây là kết quả đạt được trong năm học 2013-2014
Khá- giỏi (%)
40
95,2
31
72,1
38
85

- Chất lượng bộ môn Năm học 2013-2014
Lớp
Sô lượng

Trên TB (%)
12 C2
42
39
92,8
12C9
43
40
93
12C10
45
45
100

Kết luận

Thơ văn nói chung với ưu thế của nó: dễ thuộc, dễ đi vào lòng người... sẽ là
một thế mạnh trong việc hỗ trợ đắc lực cho việc truyền thụ kiến thức lịch sử thông
qua đó góp phần giáo dục đạo đức, lòng biết ơn đối với truyền thống, lãnh tụ cũng
như những anh hùng liệt sĩ đã hi sinh, đã đóng góp xương máu của mình để làm
rạng rỡ thêm lịch sử nước nhà.
Việc sử dụng văn thơ trong giờ học lịch sử là một trong những cách thức để
giáo viên đưa tài liệu tham khảo vào trong giờ dạy sử. Thực hiện theo sơ đồ dạy
học của Đairi, qua đó hoàn thành mục tiêu bài học, kế hoạch dạy học và góp phần
nâng cao chất lượng bộ môn ở trường trung học phổ thông.
Thực tế trong những năm học qua, khi vận dung thơ văn trong dạy lịch sử ở
các khối lớp 11,12 tôi đã thu được một số kết quả rất khả quan: học sinh tiếp thu
kiến thức bài giảng dễ dàng hơn, thấy được mối liên hệ hữu cơ giữa các lĩnh vực
của đời sống xã hội, hiểu được tính toàn diện của lịch sử, khắc phục được tính rời
rạc tản mạn trong kiến thức, từ đó các em càng hiểu và yêu thích lịch sử hơn.

thông- NXB Đại học sư phạm 2008 - Nguyễn Thị Côi.

11. Mục lục

STT
1
2
3
4
5
6
7
8
9

Nội dung
Tên đề tài
Đặt vấn đề.
Cơ sở lý luận và thực tiễn.
Nội dung nghiên cứu.
Kết quả nghiên cứu
Kết luận.
Đề nghị
Tài liệu tham khảo.
Mục lục.

Trang
1
1
2

vấn môn
đề3. Cơ sở lý luận Nêu rõ được quan điểm cơ bản
1
1
làm cơ sở cho đề tài
4. Cơ sở thực tiên Rõ ràng
2
2
9
7,5
5 Nội dung nghiên Nêu được một số biện pháp cụ
thể
cứu
3
2,5
6. Kết quả nghiênTốt
cứu
7. Kết luận
Tốt
1
1
8. Đề nghị
Đầy đủ
1
1
9. Phụ lục
1
1
10. tài liệu thamĐầy đủ
khảo

được
1.
Tên
đề tài
1
1
Thể hiện tính khoa học, phản
2.
Đặt
vấn đề
ánh được ừọng tâm-giới hạn
vấn đề đang nghiên cứu cụ thể
3. Cơ sở lý luận
Vững chắc, khoa học
1
1
4. Cơ sở thực tiên
2
2
Phù hợp với thực tiên giảng
dạy hiện nay
5 Nội dung nghiên cứu
9
7,5
- Thể hiện tính khoa học, hiệu
quả
- Tuy nhiên, đề tài còn nặng
về tổng kết kinh nghiệm
6. Kết quả nghiên cứu
3

15

Căn cứ số điểm đạt được, đề tài trên được xếp loại:
Người đánh giá xếp loại đề tài:
(ký, ghi rõ họ tên)

A

Võ Văn Bình
PHIÉU CHẤM ĐIẺM, XÉP LOẠI SÁNG KIÉN KINH NGHIỆM
Năm học 2013- 2014
(Phiếu điểm thống nhất của các giám khảo)
HỘI ĐÒNG THẢM ĐỊNH SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM TRƯỜNG THPT LÊ QUÝ ĐÔN

Đề tài:
SỬ DỤNG THƠ VÀN ( CHỦ YẾU LÀ THƠ) TRONG DẠY HỌC LỊCH sử NHẰM
KHẮC SÂU KIẾN THỨC CHO HỌC SINH ÁP DỤNG TRONG CHƯƠNG TRÌNH
LỊCH sử LỚP 12 THPT (PHẦN LỊCH SỬ VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1919- 1975)
Họ và tên tác giả: Vũ Thị Minh Thi- Đơn vị: Tổ
Sử-Địa-CD Điểm cụ thể:
Phần
1. Tên đề tài
2. Đặt vấn đề
3. Cơ sở lý luận
4. Cơ sở thực tiên
5. Nội dung nghiên cứu
6. Kết quả nghiên cứu
7. Kết luận
8. Đề
nghị

3
1
0.5

1
2
9
3
1
1

1
2
7,5
3
1
0.5

1

1

1

1

1
18

1

1 .Tên đe tài: sử DỤNG THƠ VĂN( CHỦ YẾU LÀ THỢ) TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ NHẰM
KHẮC SAU KIẾN THỨC CHO HỌC SINH ÁP DỤNG TRONG CHƯƠNG TRÌNH LỊCH sử LỚP 12
THPT (PHẦN LỊCH SỬ VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1919- 1975)

2. Họ và tên tác giả: Vũ Thị Minh Thi3. Chức vụ: Giáo viên Tổ: Sử-Địa-Công dân
4. Nhận xét của Chủ tịch HĐKH về đề tài:
a) Ưu điểm:

b)

Hạn chế:

5. Đánh giá, xếp loại:
Sau khi thẳm định, đánh giá đề tài trên, HĐKH Trường.............
thống nhất xếp loại:......................
Những người thẩm định:
Chủ tịch HĐKH
(Ký, ghi rõ họ tên)
(Ký, đóng dấu, ghi rõhọ tên)
19




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status