SKKN Về chuyên đề đặc điểm cơ bản của một số thể thơ trong chương trình Ngữ văn 7 - Pdf 26

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ĐỀ TÀI:
"ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN CỦA MỘT SỐ THỂ THƠ TRONG
CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN 7"
ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong các tác phẩm văn học, hình thức là phương tiện mà người viết dùng để thể
hiện nội dung tư tưởng. Để tác phẩm của mình hay, hấp dẫn, dễ đi vào lòng người, tác giả
đã sử dụng rất nhiều nghệ thuật ngôn từ. Đối với tác phẩm thơ, một trong những cách
chuyển tải tư tưởng, tình cảm của nhà thơ là lựa chọn thể thơ phù hợp với nhu cầu sáng
tác của mình.
Chương trình Ngữ văn 7 có nhiều tác phẩm thơ bất hủ, lại mang sắc thái cổ. Sẽ là
một thiếu sót nếu trong quá trình hướng dẫn học sinh tìm hiểu tác phẩm thơ mà giáo viên
không quan tâm đến việc giúp các em nắm được đặc điểm của thể thơ.
Có nhiều người cho rằng việc trang bị kĩ cho học sinh lớp 7 kiến thức về thể thơ là
tương đối sớm, chỉ nên cho học sinh nhận dạng thể thơ thông qua việc nhận biết số câu số
chữ là đủ. Nhưng theo tôi như vậy là chưa đủ. Đọc và cảm thụ thơ ca không phải chỉ có
đọc để nắm được tư tưởng tình cảm được nhân vật trữ tình gửi gắm trong đó mà còn cảm
thụ được vẻ đẹp về ngôn từ, nhận ra được cái hay trong cách gieo vần, cái độc đáo trong
cách đối câu…Tất cả sẽ dễ dàng hơn nếu người đọc có những kiến thức cơ bản về thể
thơ. Hơn nữa, năng lực cảm thụ văn chương của học sinh không phải chỉ đến tuổi trưởng
thành mới bắt đầu luyện tập mà nó phải được hình thành ngay từ bây giờ.
Đặc điểm của các thể thơ đã được nhiều tài liệu nhắc đến nhưng chúng còn tảng
mạn, mông lung khó hiểu. Một số tài liệu thì quá tinh gọn, chưa đầy đủ những đặc điểm
cơ bản của các thể thơ, chưa đáp ứng đủ nhu cầu của việc phân tích tác phẩm thơ, nhất là
các tác phẩm trong chương trình Ngữ văn 7. Vì thế, tôi quyết định trình bày vấn đề này
nhằm trao đổi với đồng nghiệp, giúp nâng cao hiệu quả dạy và học tác phẩm thơ.
Trong chuyên đề này, tôi sẽ nêu lên tầm quan trọng của việc tìm hiểu thể thơ khi
phân tích tác phẩm thơ. Đồng thời, tôi cũng nêu lên những đặc điểm cơ bản của các thể
thơ trong chương trình Ngữ văn 7 như thể thơ lục bát, song thất lục bát, thất ngôn bát cú,
… mà theo tôi người giáo viên cần phải trang bị cho mình và cung cấp thêm cho học
sinh.

Thông thường bài thơ lục bát dừng ở câu bát. Tuy nhiên cũng có trường hợp ngoại
lệ tùy theo cảm xúc và quyết định của tác giả.
Một bài thơ, một câu thơ đi vào lòng người ngoài nội dung truyền tải phải là một
khúc ca. Lục bát có đầy đủ thuộc tính đó vì vần và nhịp điệu của lục bát rất uyển chuyển,
dễ thuộc:
a. Vần của thơ lục bát:
Vần là những từ cùng âm điệu tạo nhịp cầu nối liền về âm luật cho người đọc dễ
nhớ, dễ thuộc. Thơ lục bát chủ yếu gieo vần bằng. Vần của cả câu lục và câu bát đều là
thanh bằng. Chữ thứ sáu của câu lục vần với chữ thứ sáu của câu bát, chữ thứ tám của câu
bát vần với chữ thứ sáu của câu lục tiếp theo.
Ví dụ:
Anh đi anh nhớ quê nhà
Nhớ canh rau muống, nhớ cà dầm tương.
Nhớ ai dãi nắng dầm sương
Nhớ ai tát nước bên đường hôm nao. (Ca dao)
b. Luật bằng trắc:
Đây là phần rất quan trọng tạo nên nhịp điệu và tiết tấu của thơ nói chung trong đó
có thơ lục bát.
- Thanh bằng: gồm thanh ngang (không dấu), thanh huyền- viết tắt là B.
- Thanh trắc: gồm các thanh sắc, nặng, hỏi, ngã- viết tắt là T.
- Vần viết tắt là V.
- Luật bằng trắc:
+ Câu lục: B B T T B B (V)
+ Câu bát: B B T T B B (V) T B (V)
Tuy luật bằng trắc đã quy định như trên, nhưng những chữ thứ 1, 3, 5, 7 không bắt
buộc theo luật bằng trắc. Còn các chữ thứ 2, 4, 6, 8 bắt buộc phải đúng theo luật. Trong
câu bát , nếu tiếng thứ sáu là thanh ngang (bổng) thì tiếng thứ tám phải là thanh huyền
(trầm) và ngược lại.
Ví dụ: Anh em nào phải người xa
B B B T B BV

a. Cách hiệp vần.
Cách hiệp vần trong thơ song thất lục bát tương đối khó hơn các thể thơ khác, chữ
cuối của dòng bảy thứ nhất hiệp vần với chữ thứ năm của dòng bảy thứ hai (đều là thanh
trắc). Chữ thứ bảy của dòng bảy thứ hai hiệp vần với chữ thứ sáu của dòng lục tiếp theo
(đều thuộc thanh bằng). Chữ thứ sáu của dòng lục hiệp vần với chữ thứ sáu của dòng bát
(đều thuộc thanh bằng).
Ví dụ: Cùng trông mà lại cùng chẳng thấy
Thấy xanh xanh những mấy ngàn dâu
Ngàn dâu xanh ngắt một màu
Lòng chàng ý thiếp ai sầu hơn ai?
Chữ cuối của câu tám vần với chữ thứ năm của câu bảy tiếp theo(đều thuộc thanh
bằng). Tuy nhiên, chữ cuối của câu tám vần với chữ thứ ba của câu bảy tiếp theo, biến
đổi âm trong vần chữ này đổi sang vần bằng do đó chữ thứ ba trong câu thứ bảy trên có
thể trắc hay bằng.
Câu thơ song thất lục bát cũng có thể giản rộng ra bằng cách thêm vào một số chữ.
Lúc đó ta có song thất lục bát biến thể, nghĩa là không theo đúng quy luật của nó nữa.
Một bài thơ song thất lục bát nếu được mở đầu bằng một cặp lục bát rồi mới đến
hai câu thất thì ta gọi đó là lục bát gián cách.
b. Nhịp thơ.
Hai câu thất thường dùng nhịp 3/4 và hai câu lục bát thường sử dụng nhịp đôi 2/2.
Đôi khi kết cấu nhịp lại thay đổi, sự thay đổi này gắn liền với tâm trạng.
c. Về đối.
Một trong những đặc điểm nghệ thuật cần nhắc đến khi nghiên cứu về thể thơ song
thất lục bát chính là đối (các chi tiết đối phải cân với nhau về nhiều bình diện). Một số
kiểu đối được sử dụng như:
- Bình đối: Chốn Hàm Dương chàng còn ngoảnh lại > < Bến Tiêu Tương thiếp hãy
trông sang
- Tiểu đối: Hình khe > < thế núi/ gần > < xa
- Đối ngữ đoạn: Xông pha, gió bãi > < trăng ngàn
d. Phối thanh:

Trong thể thơ này , hai câu thực phải đối nhau, hai câu luận phải đối nhau.
* Luật: Các tiếng 1, 3, 5 không ràng buộc phải theo luật bằng trắc. Tiếng thứ 2 và 6
phải là vần bằng, tiếng thứ 4 phải là vần trắc hay ngược lại.
Ví dụ: Bước tới đèo Ngang, bóng xế tà,
T T B B T T B
Cỏ cây chen đá, lá chen hoa.
T B B T T B B
* Niêm: Nghĩa là dán lại cho dính. Phép niêm trong thơ là quy tắc sắp xếp các câu
thơ trong bài dính lại với nhau về âm điệu , hay nói cách khác niêm là sự liên lạc về âm
luật giữa hai câu thơ với nhau. Trong bài Đường luật, câu 1 và 8, 2 và 3, 4 và 5, 6 và 7
niêm với nhau. Hai chữ thứ hai phải cùng một thanh.
Ví dụ: Bước tới đèo Ngang, bóng xế tà,
T
Cỏ cây chen đá, lá chen hoa.
B
Lom khom dưới núi, tiều vài chú,
B
Lác đác bên sông, chợ mấy nhà.
T
Nhớ nước đau lòng, con quốc quốc,
T
Thương nhà mỏi miệng, cái gia gia.
B
Dừng chân đứng lại, trời non nước,
B
Một mảnh tình riêng, ta với ta.
T
4. Các thể thơ khác.
a. Cổ phong (hay cổ thể):
Là một thể thơ cổ có từ nhiều thời đại trước đời nhà Đường. Về sau trở thành tên

nghiệp đóng góp ý kiến để chuyên đề này ngày càng hoàn thiện hơn.
Xin chân thành cảm ơn!


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status