ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN CỦA MỘT SỐ THỂ THƠ TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN 7 - Pdf 24

PHÒNG GD&ĐT HÒA BÌNH
TRƯỜNG THCS VĨNH THỊNH
ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN CỦA MỘT SỐ THỂ THƠ
TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN 7
Người viết: Nguyễn Thị Phượng Vĩ
Chức vụ: Giáo viên
Vĩnh Thịnh, ngày 13 tháng 01 năm 2014
ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong các tác phẩm văn học, hình thức là phương tiện mà người viết dùng để
thể hiện nội dung tư tưởng. Để tác phẩm của mình hay, hấp dẫn, dễ đi vào lòng
người, tác giả đã sử dụng rất nhiều nghệ thuật ngôn từ. Đối với tác phẩm thơ, một
trong những cách chuyển tải tư tưởng, tình cảm của nhà thơ là lựa chọn thể thơ phù
hợp với nhu cầu sáng tác của mình.
Chương trình Ngữ văn 7 có nhiều tác phẩm thơ bất hủ, lại mang sắc thái cổ.
Sẽ là một thiếu sót nếu trong quá trình hướng dẫn học sinh tìm hiểu tác phẩm thơ
mà giáo viên không quan tâm đến việc giúp các em nắm được đặc điểm của thể thơ.
Có nhiều người cho rằng việc trang bị kĩ cho học sinh lớp 7 kiến thức về thể
thơ là tương đối sớm, chỉ nên cho học sinh nhận dạng thể thơ thông qua việc nhận
biết số câu số chữ là đủ. Nhưng theo tôi như vậy là chưa đủ. Đọc và cảm thụ thơ ca
không phải chỉ có đọc để nắm được tư tưởng tình cảm được nhân vật trữ tình gửi
gắm trong đó mà còn cảm thụ được vẻ đẹp về ngôn từ, nhận ra được cái hay trong
cách gieo vần, cái độc đáo trong cách đối câu…Tất cả sẽ dễ dàng hơn nếu người
đọc có những kiến thức cơ bản về thể thơ. Hơn nữa, năng lực cảm thụ văn chương
của học sinh không phải chỉ đến tuổi trưởng thành mới bắt đầu luyện tập mà nó phải
được hình thành ngay từ bây giờ.
Đặc điểm của các thể thơ đã được nhiều tài liệu nhắc đến nhưng chúng còn
tảng mạn, mông lung khó hiểu. Một số tài liệu thì quá tinh gọn, chưa đầy đủ những
đặc điểm cơ bản của các thể thơ, chưa đáp ứng đủ nhu cầu của việc phân tích tác

này thì việc hướng dẫn phân tích và tìm hiểu văn bản thơ sẽ được dễ dàng hơn.
III. Đặc điểm cơ bản của một số thể thơ trong chương trình Ngữ văn 7.
1. Thể thơ lục bát.
Lục bát là thể thơ cổ truyền của người Việt từ lâu đã ăn sâu bắt rễ trong nhân
dân. Nó đã có sẵn trong kho tàng ca dao, tục ngữ truyền từ bao đời nay, đặc biệt ấn
tượng trong lời ru của bà, của mẹ.
Gọi là thơ lục bát vì trong bài thơ có hai cặp câu: trên sáu (lục), dưới tám
(bát) song hành liên tiếp với nhau cho đến khi diễn tả trọn vẹn thì dừng.
Ví dụ: Thân em như trái bần trôi
Gió dập sóng dồi biết tấp vào đâu. ( Ca dao)
Thông thường bài thơ lục bát dừng ở câu bát. Tuy nhiên cũng có trường hợp
ngoại lệ tùy theo cảm xúc và quyết định của tác giả.
Một bài thơ, một câu thơ đi vào lòng người ngoài nội dung truyền tải phải là
một khúc ca. Lục bát có đầy đủ thuộc tính đó vì vần và nhịp điệu của lục bát rất
uyển chuyển, dễ thuộc:
a. Vần của thơ lục bát:
Vần là những từ cùng âm điệu tạo nhịp cầu nối liền về âm luật cho người đọc
dễ nhớ, dễ thuộc. Thơ lục bát chủ yếu gieo vần bằng. Vần của cả câu lục và câu bát
đều là thanh bằng. Chữ thứ sáu của câu lục vần với chữ thứ sáu của câu bát, chữ thứ
tám của câu bát vần với chữ thứ sáu của câu lục tiếp theo.
Ví dụ:
Anh đi anh nhớ quê nhà
Nhớ canh rau muống, nhớ cà dầm tương.
Nhớ ai dãi nắng dầm sương
Nhớ ai tát nước bên đường hôm nao. (Ca dao)
b. Luật bằng trắc:
Đây là phần rất quan trọng tạo nên nhịp điệu và tiết tấu của thơ nói chung
trong đó có thơ lục bát.
- Thanh bằng: gồm thanh ngang (không dấu), thanh huyền- viết tắt là B.
- Thanh trắc: gồm các thanh sắc, nặng, hỏi, ngã- viết tắt là T.

Thể thơ này thường lặp đi lặp lại, cuộn trào như ngọn sóng phù hợp cho việc
diễn tả tâm trạng buồn đau của nhân vật trữ tình. Thể song thất và lục bát kết kết
hợp nhau làm cho tình cảm vốn đa chiều, phức tạp được thể hiện có hiệu quả rõ rệt
với cách nói đa giọng, nhiều cung bậc và gam màu. Chính những đặc trưng của thể
thơ góp phần thể hiện nội dung của bài ca dao được sâu sắc và diễn đạt nhiều cung
bậc cảm xúc của chủ thể trữ tình.
Dựa vào kết cấu của bài thơ mà tên gọi song thất lục bát được hình thành.
Song thất lục bát là thể thơ cứ hai dòng bảy chữ (song thất) thì có một dòng sáu chữ
và một dòng tám chữ (lục bát), kết cấu thành từng khổ mỗi khổ có bốn câu, cũng
như thể thơ lục bát và một vài thể thơ khác thì trong thể thơ song thất lục bát không
hạn chế về dung lượng câu trong một tác phẩm.
a. Cách hiệp vần.
Cách hiệp vần trong thơ song thất lục bát tương đối khó hơn các thể thơ khác,
chữ cuối của dòng bảy thứ nhất hiệp vần với chữ thứ năm của dòng bảy thứ hai (đều
là thanh trắc). Chữ thứ bảy của dòng bảy thứ hai hiệp vần với chữ thứ sáu của dòng
lục tiếp theo (đều thuộc thanh bằng). Chữ thứ sáu của dòng lục hiệp vần với chữ thứ
sáu của dòng bát (đều thuộc thanh bằng).
Ví dụ: Cùng trông mà lại cùng chẳng thấy
Thấy xanh xanh những mấy ngàn dâu
Ngàn dâu xanh ngắt một màu
Lòng chàng ý thiếp ai sầu hơn ai?
Chữ cuối của câu tám vần với chữ thứ năm của câu bảy tiếp theo(đều thuộc
thanh bằng). Tuy nhiên, chữ cuối của câu tám vần với chữ thứ ba của câu bảy tiếp
theo, biến đổi âm trong vần chữ này đổi sang vần bằng do đó chữ thứ ba trong câu
thứ bảy trên có thể trắc hay bằng.
Câu thơ song thất lục bát cũng có thể giản rộng ra bằng cách thêm vào một số
chữ. Lúc đó ta có song thất lục bát biến thể, nghĩa là không theo đúng quy luật của
nó nữa.
Một bài thơ song thất lục bát nếu được mở đầu bằng một cặp lục bát rồi mới
đến hai câu thất thì ta gọi đó là lục bát gián cách.

Ví dụ: Bước tới đèo Ngang, bóng xế tà,
Cỏ cây chen đá, lá chen hoa.
Lom khom dưới núi, tiều vài chú,
Lác đác bên sông, chợ mấy nhà.
Nhớ nước đau lòng, con quốc quốc,
Thương nhà mỏi miệng, cái gia gia.
Dừng chân đứng lại, trời non nước,
Một mảnh tình riêng, ta với ta. (Qua đèo Ngang)
* Đối: Là phép đặt hai câu thơ đối nhau gồm có:
- Đối chữ: bằng đối trắc, trắc đối bằng, danh từ đối danh từ, động từ đối động
từ
- Đối ý: Ví dụ cảnh dưới núi đối với cảnh bên sông, cảnh động đối với cảnh
tĩnh nhứ trong hai câu: Lom khom dưới núi, tiều vài chú,
Lác đác bên sông, chợ mấy nhà. (Qua đèo Ngang)
Trong thể thơ này , hai câu thực phải đối nhau, hai câu luận phải đối nhau.
* Luật: Các tiếng 1, 3, 5 không ràng buộc phải theo luật bằng trắc. Tiếng thứ
2 và 6 phải là vần bằng, tiếng thứ 4 phải là vần trắc hay ngược lại.
Ví dụ: Bước tới đèo Ngang, bóng xế tà,
T T B B T T B
Cỏ cây chen đá, lá chen hoa.
T B B T T B B
* Niêm: Nghĩa là dán lại cho dính. Phép niêm trong thơ là quy tắc sắp xếp
các câu thơ trong bài dính lại với nhau về âm điệu , hay nói cách khác niêm là sự
liên lạc về âm luật giữa hai câu thơ với nhau. Trong bài Đường luật, câu 1 và 8, 2 và
3, 4 và 5, 6 và 7 niêm với nhau. Hai chữ thứ hai phải cùng một thanh.
Ví dụ: Bước tới đèo Ngang, bóng xế tà,
T
Cỏ cây chen đá, lá chen hoa.
B
Lom khom dưới núi, tiều vài chú,

định vần, luật bằng trắc, phép đối trong thơ Đường luật Các em đã hạn chế tình
trạng cảm thụ tác phẩm thơ một cách phiến diện mà đã từng bước tiếp thu thơ ca
thông qua những giá trị nghệ thuật của nó. Tuy các em chưa vận dụng được một
cách thành thạo nhưng tôi tin rằng đây là một sự trang bị cần thiết cho quá trình
hình thành năng lực cảm thụ thơ ca của các em.
KẾT LUẬN
Kiến thức là vô tận. Con người phải thường xuyên học tập để tự hoàn thiện
bản thân. Xã hội đã giao cho thầy cô giáo sứ mệnh trồng người thì mỗi giáo viên
cũng phải thường xuyên trau dồi tri thức, nâng cao trình độ chuyên môn. Có như
vậy chúng ta mới hoàn thành được trọng trách của mình.
Kiến thức về các thể thơ rất nhiều và phức tạp. Trên đây tôi chỉ chọn lọc và
nêu ra các vấn đề mà theo tôi đó là cơ bản nhất. Trong quá trình thực hiện chuyên
đề này tôi cũng đã tham khảo một số tài liệu có liên quan. Nó có thể đáp ứng được
nhu cầu dạy và học các tác phẩm thơ trong chương trình Ngữ văn 7. Và tôi hi vọng
là nó sẽ giúp ích cho các đồng nghiệp. Nếu có vấn đề nào tôi chưa nêu hoặc nêu
chưa đúng rất mong quý đồng nghiệp đóng góp ý kiến để chuyên đề này ngày càng
hoàn thiện hơn.
Xin chân thành cảm ơn!
Vĩnh Thịnh, ngày 13 tháng 01 năm 2014
Người viết
Nguyễn Thị Phượng Vĩ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status