XÂY DỰNG VÀ VẬN DỤNG LINH HOẠT DÀN BÀI CHUNG CHO MỘT SỐ DẠNG ĐỀ TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN 12 - Pdf 29

XÂY DỰNG VÀ VẬN DỤNG LINH HOẠT DÀN BÀI
CHUNG CHO MỘT SỐ DẠNG ĐỀ TRONG CHƯƠNG
TRÌNH NGỮ VĂN 12
______________________
I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Làm văn là một phân môn khó trong nhà trường phổ thông – một phân môn
thực hành sáng tạo trên cơ sở một vốn tri thức khoa học nhất định, đặc biệt là khoa
học xã hội và những hiểu biết về thực tế đời sống.
Hoạt động dạy và học môn Ngữ văn nói chung, phân môn Làm văn nói riêng,
là một trong những hoạt động quan trọng trong giáo dục học sinh rèn luyện cả đức
lẫn tài. Bởi lẽ, hoạt động này không chỉ giúp người học nhận thức tri thức, sau đó
vận dụng thực hành, mà trong quá trình rèn luyện ấy người học tự học tập được
những bài học quý về cuộc sống giúp hoàn thiện nhân cách bản thân. Do đó, phân
môn Làm văn thực sự là phân môn thiết yếu trong bộ môn Ngữ văn. Và đây cũng
là phân môn hiện diện, đồng thời chiếm quỹ điểm lớn trong các đề thi của các kì
thi từ trước đến nay.
Tuy vậy, thời lượng dành cho phân môn này trong chương trình là chưa
nhiều, nếu không muốn nói là rất ít. Phân môn khó, thời lượng lại ít, cho nên việc
xây dựng và vận dụng linh hoạt một dàn bài chung cho mỗi dạng đề là rất cần thiết.
Bởi vì dàn bài chung của mỗi dạng đề là cái sườn, cái khung, là nền tảng mà người
học cần ghi nhớ để xây dựng một bài văn hoàn chỉnh. Còn vận dụng linh hoạt dàn
bài chung của mỗi dạng đề là điều kiện quan trọng để người làm bài có được bài
văn từ đúng đến hay, từ cơ bản đến sáng tạo…
Vì thế, hòa vào xu hướng đổi mới phương pháp dạy và học nói chung và dạy
và học môn Ngữ văn nói riêng, người viết xin được đưa ra những kiến giải về vấn
đề “Xây dựng và vận dụng linh hoạt dàn bài chung cho một số dạng đề trong
chương trình Ngữ văn 12” cho những bước đầu nghiên cứu của mình.
Xây dựng và vận dụng linh hoạt dàn bài chung cho từng dạng đề rất gần gũi
với xu hướng đổi mới của chúng ta hiện nay là dạy học theo chuyên đề – dạy một
trường hợp cụ thể đặc trưng mà có thể vận dụng nhiều trường hợp tương tự. Trong
phạm vi sáng kiến kinh nghiệm này, người viết chỉ tập trung vào vấn đề “Xây

đặc biệt đối với học sinh yếu.
- Thiết nghĩ, chúng ta muốn xây dựng được dàn bài thì cũng cần tìm hiểu khái
niệm dàn bài và vai trò của nó.
+ Dàn bài là trình tự sắp xếp các ý chính của bài để dựa vào đó mà nói
hoặc viết (theo nhóm tác giả Hoàng Phê, Từ điển tiếng Việt, NXB Đà Nẵng, 2004,
trang 240).
+ Mỗi phần trong dàn bài đều có vai trò quan trọng đến sự thành công của
bài văn.
(+) Phần mở bài có vai trò đặt vấn đề. Phần này có nhiệm vụ giới thiệu vấn
đề cần nghị luận đồng thời gây hứng thú cho người đọc, lôi cuốn sự chú ý của
người đọc đối với vấn đề đó. Mở bài thường là một đoạn văn ngắn gọn, nội dung
nêu lên những ý khái quát của đề bài và đôi khi định ra hướng giải quyết, phạm vi
giải quyết vấn đề.
(+) Phần thân bài có vai trò giải quyết vấn đề. Phần này có nhiệm vụ triển
khai đầy đủ các ý lớn (luận điểm chính), các ý nhỏ (luận điểm phụ) và các lí lẽ dẫn
chứng (luận cứ) để giải quyết triệt để những yêu cầu của đề bài. Tùy theo yêu cầu
của đề bài mà phần này cần phải sử dụng một hoặc kết hợp một số thao tác lập
luận cần thiết như: giải thích, phân tích, chứng minh, bình luận, so sánh, bác bỏ để
làm rõ vấn đề nhằm thuyết phục người đọc. Thân bài thường gồm một số đoạn
văn, mỗi đoạn văn triển khai một ý lớn hoặc một ý nhỏ. Các đoạn văn tuy được
trình bày tách bạch, độc lập với nhau nhưng phải nối tiếp nhau, liên kết hữu cơ với
nhau theo một trình tự hợp lí, chặt chẽ xoay quanh chủ đề chung của luận đề (vấn
đề cần nghị luận của đề bài).
Trang 2
(+) Phần kết bài có vai trò kết thúc vấn đề. Phần này có nhiệm vụ đóng bài
lại để kết thúc vấn đề đã đặt ra ở phần mở bài và đã giải quyết ở phần thân bài.
Phần này cũng giống như phần mở bài, thường gồm một đoạn văn nêu những ý
khái quát nhưng có chỗ khác. Nếu như phần mở bài có nhiệm vụ giới thiệu vấn đề
thì phần kết bài có nhiệm vụ tổng kết để rút ra kết luận chung: đánh giá chung vấn
đề, nêu lên những liên hệ, vận dụng vào cuộc sống…

nâng cao hiệu quả làm văn cho học sinh theo hướng dạy học theo chuyên đề. Đây
là giải pháp được cải tiến từ những giải pháp đã có.
III. TỔ CHỨC THỰC HIỆN CÁC GIẢI PHÁP
Đề làm văn của chương trình Ngữ văn 12 chủ yếu xoay quanh hai loại là nghị
luận xã hội và nghị luận văn học. Để học sinh làm tốt các bài làm văn của chương
trình cuối cấp trung học phổ thông này, người viết xin đưa ra các giải pháp xây
Trang 3
dựng dàn bài chung và vận dụng linh hoạt cho mỗi dạng đề để học sinh ghi nhớ các
bước làm như thể buộc phải nhớ hằng đẳng thức trong toán học.
1. Giải pháp 1: Xây dựng và vận dụng linh hoạt dàn bài chung cho một số
dạng đề nghị luận xã hội trong chương trình Ngữ văn 12
Nghị luận xã hội là nghị luận về một vấn đề xã hội. Khái niệm xã hội được
hiểu theo nghĩa rộng, bao gồm những vấn đề thuộc mọi quan hệ, mọi hoạt động
của con người trong mọi lĩnh vực đời sống xã hội như chính trị, kinh tế, giáo dục,
đạo đức, môi trường, dân số,… Loại đề làm văn nghị luận xã hội trong chương
trình Ngữ văn 12 có ba dạng chủ yếu là nghị luận về một tư tưởng, đạo lí; nghị
luận về một hiện tượng đời sống và nghị luận về một vấn đề xã hội đặt ra trong tác
phẩm văn học.
Sau đây, người viết xin đưa ra cách xây dựng và vận dụng linh hoạt dàn bài
chung cho mỗi dạng đề nghị luận xã hội đã nêu trên.
a) Dàn bài chung cho bài văn nghị luận về một tư tưởng, đạo lí
* Mở bài: Dẫn dắt, giới thiệu tư tưởng, đạo lí cần bàn luận theo đề bài.
* Thân bài: (gồm 4 bước):
- Giải thích:
+ Giải thích từ ngữ, hình ảnh khó hiểu;
+ Nêu ra ý nghĩa của cả tư tưởng, đạo lí. Từ đó, ta có thể nhận định mức
độ đúng/sai của tư tưởng, đạo lí đó (đúng hoàn toàn hay đúng một phần)…
- Phân tích – chứng minh:
+ Chỉ ra những biểu hiện của tư tưởng, đạo lí ấy trong cuộc sống (chú ý ba
lĩnh vực: học tập, lao động sản xuất, chiến đấu);

sự sáng suốt lựa chọn của chính bản thân có vai trò quyết định thành công và hạnh
phúc của mỗi người.
- Phân tích – chứng minh:
Để lập thân, lập nghiệp, hướng đến một tương lai tốt đẹp, mỗi người cần
chủ động, sáng suốt lựa chọn một con đường cho chính mình dựa trên khả năng, sở
thích của cá nhân.
(Lí giải và lấy dẫn chứng cụ thể trong đời sống)
- Bình luận – mở rộng:
Tuy nhiên, do bản thân chưa có đủ kinh nghiệm nên sự giúp đỡ, tư vấn của
gia đình, nhà trường và những người đi trước là cần thiết.
- Bác bỏ – phê phán: Phê phán những người không tự quyết định hướng đi
cho cuộc đời mình hoặc chạy theo những trào lưu không phù hợp với bản thân,…
* Kết bài: Bài học nhận thức và hành động: Tuổi trẻ cần xác định được vai
trò quyết định của chính bản thân trong việc lựa chọn hướng đi; khi lựa chọn, cần
căn cứ vào những yếu tố cần thiết.
Đề bài 2:
Thói dối trá là biểu hiện của sự suy thoái về đạo đức trong đời sống xã hội.
Viết một bài văn ngắn (khoảng 400 từ) trình bày suy nghĩ của anh/chị về ý
kiến trên.
(Đề thi Tốt nghiệp – hệ Giáo dục trung học phổ thông năm 2012)
Vận dụng linh hoạt dàn bài chung cho bài văn nghị luận về một tư tưởng, đạo
lí, ta có thể xây dựng được dàn bài sau:
* Mở bài: Nêu được vấn đề cần nghị luận.
* Thân bài:
- Giải thích:
+ Thói dối trá là lối sống không trung thực nhằm mục đích vụ lợi; suy
thoái về đạo đức là sự tha hóa, làm mất dần đi những chuẩn mực đạo đức.
+ Ý kiến nêu tác hại của thói dối trá đối với con người và xã hội.
- Phân tích – chứng minh:
+ Biểu hiện: Thói dối trá đang tồn tại ở con người trong nhiều lĩnh vực đời

b) Dàn bài chung cho bài văn nghị luận về một hiện tượng đời sống
* Mở bài: Dẫn dắt, giới thiệu hiện tượng đời sống theo đề bài và nhận định
mức độ tốt/xấu của nó (cần phát huy hay khắc phục)…
* Thân bài: (gồm 4 bước):
- Trình bày thực trạng và biểu hiện của hiện tượng đời sống đó (hiện tượng
phổ biến hay không phổ biến? Biểu hiện ở những khía cạnh nào?).
- Lí giải những nguyên nhân dẫn đến hiện tượng đời sống đó (nguyên nhân
chủ quan: con người; nguyên nhân khách quan: gia đình, xã hội…).
- Phân tích những lợi ích hay tác hại của hiện tượng đời sống đó (đối với
bản thân, gia đình, xã hội…).
- Hướng giải quyết với những giải pháp (phát huy hay khắc phục) hiện
tượng đời sống đó (đối với bản thân, gia đình, xã hội…).
* Kết bài: Đánh giá chung về hiện tượng đã bàn luận; rút ra bài học nhận
thức và hành động cho bản thân.
Qua thực tiễn áp dụng giải pháp này vào giảng dạy tại đơn vị mình, người
viết xin đưa ra một số dẫn chứng minh hoạ đã thực hiện có hiệu quả trong việc vận
Trang 6
dụng linh hoạt dàn bài chung cho bài văn nghị luận về một hiện tượng đời sống ở
từng đề bài cụ thể, như sau:
Đề bài 1:
Viết một bài văn ngắn (khoảng 400 từ) trình bày suy nghĩ của anh/chị về thực
trạng tai nạn giao thông ở nước ta hiện nay.
(Đề thi Tốt nghiệp – hệ Giáo dục thường xuyên năm 2011)
Vận dụng linh hoạt dàn bài chung cho bài văn nghị luận về một hiện tượng
đời sống, ta có thể xây dựng được dàn bài sau:
* Mở bài: Nêu được vấn đề cần nghị luận.
* Thân bài:
- Trình bày thực trạng:
+ Tai nạn giao thông diễn ra hàng ngày, hàng giờ trên khắp đất nước, với
nhiều loại phương tiện, trên nhiều loại đường,

Trang 7
- Giải pháp:
+ Nâng cao ý thức của mỗi người bằng những chương trình giáo dục, quy
định xử phạt nghiêm minh với những hành vi xả rác bừa bãi.
+ Cần phải có sự chung tay của nhiều người, nhiều cấp ban ngành.
+ Có chiến lược thu gom và xử lí rác thải hợp lí.
* Kết bài: Bài học nhận thức và hành động.
c) Dàn bài chung cho bài văn nghị luận về một vấn đề xã hội đặt ra trong
tác phẩm văn học
* Mở bài: Dẫn dắt, giới thiệu vấn đề xã hội đặt ra trong tác phẩm văn học.
* Thân bài: (gồm 2 phần):
- Phần 1: Phân tích vấn đề xã hội đặt ra trong tác phẩm văn học.
- Phần 2: Bàn luận vấn đề xã hội trên trong đời sống theo một trong hai
trường hợp:
+ Nếu vấn đề đó là một tư tưởng, đạo lí thì làm bài theo các bước nghị
luận về một tư tưởng, đạo lí.
+ Nếu vấn đề đó là một hiện tượng đời sống thì làm bài theo các bước
nghị luận về một hiện tượng đời sống.
* Kết bài: Đánh giá chung về vấn đề đã bàn luận; rút ra bài học nhận thức
và hành động cho bản thân.
Qua thực tiễn áp dụng giải pháp này vào giảng dạy tại đơn vị mình, người
viết xin đưa ra một số dẫn chứng minh hoạ đã thực hiện có hiệu quả trong việc vận
dụng linh hoạt dàn bài chung cho bài văn nghị luận về một vấn đề xã hội đặt ra
trong tác phẩm văn học ở từng đề bài cụ thể, như sau:
Đề bài 1:
Đọc đoạn văn sau:
Hai con người côi cút, hai hạt cát đã bị sức mạnh phũ phàng của bão tố
chiến tranh thổi bạt tới những miền xa lạ… Cái gì chờ đón họ ở phía trước? Thiết
nghĩ rằng con người Nga đó, con người có ý chí kiên cường, sẽ đứng vững được
và sống bên cạnh bố, chú bé kia một khi lớn lên sẽ có thể đương đầu với mọi thử

+ Khó khăn trong cuộc sống không chỉ là thử thách với cuộc đời của mỗi
con người mà còn là thử thách với một dân tộc. Hãy sống như nhân vật Xô-cô-lốp,
một thế hệ đã dũng cảm vượt qua những bão táp của cuộc đời để đem lại cuộc sống
tươi đẹp cho đất nước của mình.
* Kết bài:
Khẳng định lại vai trò quan trọng của nghị lực trong cuộc sống của con
người. Khẳng định tác phẩm Số phận con người của Sô-lô-khốp đã xây dựng thành
công hình tượng con người Nga giàu ý chí nghị lực.
Đề bài 2:
Đọc đoạn văn sau:
Lão đàn ông lập tức trở nên hùng hổ, mặt đỏ gay, lão rút trong người ra một
chiếc thắt lưng của lính ngụy ngày xưa, có vẻ như những điều phải nói với nhau
họ đã nói hết, chẳng nói chẳng rằng lão trút cơn giận như lửa cháy bằng cách
dùng chiếc thắt lưng quật tới tấp vào lưng người đàn bà, lão vừa đánh vừa thở
hồng hộc, hai hàm răng nghiến ken két, cứ mỗi nhát quất xuống lão lại nguyền rủa
bằng cái giọng rên rỉ đau đớn: “Mày chết đi cho ông nhờ. Chúng mày chết hết đi
cho ông nhờ!”.
Người đàn bà với một vẻ cam chịu đầy nhẫn nhục, không hề kêu một tiếng,
không chống trả, cũng không tìm cách chạy trốn.
(Ngữ văn 12, Tập hai, trang 71,72, NXB Giáo dục – 2008)
Từ việc đọc – hiểu đoạn văn trên, anh/chị hãy viết một bài văn (khoảng 400
từ) trình bày suy nghĩ của mình về tình trạng bạo lực gia đình hiện nay.
Vận dụng linh hoạt dàn bài chung cho bài văn nghị luận về một vấn đề xã hội
(một hiện tượng đời sống) đặt ra trong tác phẩm văn học, ta có thể xây dựng được
dàn bài sau:
* Mở bài:
Giới thiệu ngắn gọn về nhân vật người đàn ông vũ phu và người đàn bà hàng
chài trong tác phẩm Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu. Từ đó, dẫn
vào vấn đề nghị luận: Tình trạng bạo lực gia đình hiện nay.
Trang 9

a) Dàn bài chung cho bài văn nghị luận về một bài thơ, đoạn thơ
Dạng đề nghị luận về một bài thơ, đoạn thơ thì yêu cầu của đề là làm rõ giá
trị nội dung và nghệ thuật của bài thơ, đoạn thơ đó. Có khi đề yêu cầu phân tích
một hình tượng trong bài thơ, đoạn thơ nhưng thực chất cũng là phân tích nghệ
thuật và nội dung của bài thơ, đoạn thơ ấy để thấy được hình tượng. Vì thế, nắm
chắc dàn bài chung, học sinh sẽ giảm bớt khó khăn khi đối mặt với dạng đề này.
Dàn bài chung cho dạng đề này có mô hình như sau:
* Mở bài: Giới thiệu tác giả dẫn vào bài thơ. Nêu vấn đề: Bài thơ có giá trị
sâu sắc về nội dung và nghệ thuật mà tiêu biểu là đoạn thơ sau đây:
(“Ghi nguyên văn đoạn thơ bỏ trong dấu ngoặc kép”)
* Thân bài:
- Khái quát về bài thơ, đoạn thơ: xuất xứ, hoàn cảnh sáng tác, tóm tắt nội
dung, bố cục bài thơ, vị trí đoạn thơ đã cho ở đề bài.
- Phân tích nghệ thuật, nội dung đoạn thơ:
Trang 10
+ Lần lượt phân tích hình thức nghệ thuật để chỉ ra nội dung biểu hiện của
từng nhóm câu thơ (thường gọi là từng dẫn chứng) trong đoạn thơ cần phân tích.
+ Lưu ý:
☻Phân tích dẫn chứng (câu thơ, nhóm câu thơ) có ba công việc phải
làm: giới thiệu dẫn chứng – trích dẫn dẫn chứng – phân tích dẫn chứng.
☻Phân tích nghệ thuật bao gồm: từ ngữ, hình ảnh; các phép tu từ: láy,
điệp (âm, vần, thanh, từ ngữ), đối, ngắt nhịp, so sánh, ẩn dụ, hoán dụ, nhân hóa,
cường điệu, nói tránh, câu hỏi tu từ, lặp cấu trúc, đảo trật tự, liệt kê,…
☻Phân tích nội dung bằng cách đặt và trả lời các câu hỏi: Nghệ thuật
trong câu thơ (nhóm câu thơ) nhằm thể hiện nội dung nào? Nội dung ấy được diễn
tả ra sao? Diễn tả như vậy có ý gì? Còn có ý nào nữa? Có dẫn chứng nào liên quan
để minh họa cho ý phân tích hay không?
☻Nếu đề bài yêu cầu phân tích hình tượng trong bài thơ, đoạn thơ đã
cho thì cần nhấn mạnh hình tượng sau khi đã phân tích bài thơ, đoạn thơ đó.
* Kết bài: Đánh giá chung về nghệ thuật, nội dung bài thơ, đoạn thơ; nêu

+ Hai câu tiếp: liệt kê địa danh…, từ ngữ, hình ảnh gợi tả “sương lấp đoàn
quân mỏi”, “hoa về trong đêm hơi”, từ “lấp”: thiên nhiên khắc nghiệt nhưng cũng
nên thơ; hình ảnh người lính gian khổ, hào hùng, lãng mạn (liên hệ tư liệu thơ của
Chính Hữu để minh họa bổ sung…).
+ Bốn câu còn lại: Bức tranh thiên nhiên hùng vĩ, hiểm trở và hình ảnh
người lính vượt dốc.
(+) Câu 1: Điệp từ “dốc”, từ láy “khúc khuỷu”, “thăm thẳm”: tả dốc quanh
co, gập ghềnh núi cao, vực sâu…
(+) Câu 2: Từ láy “heo hút”: đỉnh dốc thật cao, hoang vắng. Nhân hóa
“súng ngửi trời”: hình ảnh người lính hồn nhiên, tinh nghịch, lãng mạn, quyết tâm
vượt khó (liên hệ thơ Chính Hữu…).
(+) Câu 3: Số từ, đối “ngàn thước lên cao – ngàn thước xuống”: khoảng
cách dài giữa đỉnh dốc và chân dốc; người lính vất vả, gian nan nhưng thật anh
hùng.
(+) Câu cuối: Người lính xuống chân dốc, vẫn là nơi hoang vu. Câu thơ
toàn thanh bằng: âm điệu uyển chuyển; đối thanh với ba câu trên gợi tâm trạng nhẹ
nhõm của người lính sau khi vượt dốc.
* Kết bài: Tóm tắt giá trị nội dung, nghệ thuật đoạn thơ. Cảm nghĩ về tác
giả, bài thơ.
Đề bài 2:
Anh/chị hãy phân tích hình tượng thiên nhiên và con người Việt Bắc trong
đoạn thơ sau của nhà thơ Tố Hữu:
Ta về, mình có nhớ ta
Ta về, ta nhớ những hoa cùng người.
Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi
Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng.
Ngày xuân mơ nở trắng rừng
Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang.
Ve kêu rừng phách đổ vàng
Nhớ cô em gái hái măng một mình

- Nhấn mạnh hình tượng thiên nhiên, con người Việt Bắc:
+ Đoạn thơ có kết cấu đan xen độc đáo: cảnh – người hòa quyện tạo bức
tranh “tứ bình” về thiên nhiên, con người Việt Bắc, mỗi mùa mang sắc thái riêng.
+ Độc đáo hơn cả là viết về thiên nhiên: nghệ thuật phối sắc tài tình, cảm
nhận và miêu tả bằng nhiều giác quan tinh tế như ý kiến của Hoài Thanh: “Những
câu thơ của Tố Hữu viết về thiên nhiên trong Việt Bắc có thể sánh với bất kì đoạn
thơ miêu tả thiên nhiên nào trong văn học cổ điển.”.
+ Nhận xét chung về nghệ thuật xây dựng hình tượng: Bức tranh thiên
nhiên và con người Việt Bắc được khắc họa bằng nghệ thuật đặc sắc: từ ngữ, hình
ảnh chọn lọc tinh tế; kết cấu đan xen độc đáo; thể thơ lục bát với âm điệu ngọt
ngào tạo nên cảm xúc bồi hồi, xao xuyến.
* Kết bài: Đánh giá chung về hình tượng thiên nhiên, con người Việt Bắc,
cảm nghĩ về Tố Hữu và thơ của ông.
b) Dàn bài chung cho bài văn nghị luận về một tác phẩm, một đoạn trích
văn xuôi
Đối tượng của bài văn nghị luận về một tác phẩm, một đoạn trích văn xuôi rất
đa dạng: có thể là giá trị nội dung và nghệ thuật của tác phẩm nói chung, có thể chỉ
là một phương diện, thậm chí chỉ một khía cạnh nội dung hay nghệ thuật của một
tác phẩm hoặc của các tác phẩm, đoạn trích khác nhau. Theo dõi đề thi qua các
năm, người viết thấy đề thi chỉ tập trung vào một khía cạnh nội dung hay nghệ
thuật của tác phẩm, đoạn trích văn xuôi, mà chủ yếu là phân tích hình tượng (thiên
nhiên, con người), phân tích giá trị nhân đạo, phân tích diễn biến tâm lí nhân vật…
Sau đây, người viết xin đưa ra mô hình dàn bài chung cho các dạng đề trên.
* Dàn bài chung cho bài văn phân tích hình tượng (hình tượng thiên nhiên
và hình tượng nhân vật) trong tác phẩm, đoạn trích văn xuôi
- Mở bài:
Dẫn dắt giới thiệu tác giả, tác phẩm và hình tượng cần phân tích.
- Thân bài:
Trang 13
+ Khái quát hình tượng: vị trí địa lí đối với hình tượng thiên nhiên; cuộc

(+) Gợi những phẩm chất kiên cường, bất khuất.
(+) Gợi sức sống bất diệt.
+ Nghệ thuật miêu tả: Nhân hoá, ẩn dụ, lặp; lựa chọn chi tiết tiêu biểu,…
- Kết bài: Đánh giá chung về hình tượng và cảm nghĩ của bản thân.
Đề bài 2:
Phân tích nhân vật Tràng trong truyện ngắn Vợ nhặt của Kim Lân (phần trích
trong Ngữ văn 12, Tập hai, NXB Giáo dục – 2008).
(Đề thi Tốt nghiệp – hệ Giáo dục phổ thông năm 2011)
Vận dụng linh hoạt dàn bài chung cho bài văn phân tích hình tượng nhân vật,
ta có thể xây dựng được dàn bài sau:
- Mở bài: Nêu được vấn đề cần nghị luận.
Trang 14
- Thân bài:
+ Tràng là người dân ngụ cư nghèo khổ, có phẩm chất hiền lành, tốt bụng;
sẵn lòng cưu mang người đồng cảnh ngộ trong nạn đói khủng khiếp.
+ Trong hoàn cảnh khốn cùng vẫn khát khao hạnh phúc, có ý thức tạo
dựng mái ấm gia đình.
+ Khát vọng sống mãnh liệt; có niềm tin vào tương lai tươi sáng.
+ Nghệ thuật: nhân vật được đặt trong tình huống truyện độc đáo; diễn
biến tâm lí được miêu tả chân thực, tinh tế; ngôn ngữ mộc mạc, giản dị, phù hợp
với tính cách nhân vật.
- Kết bài: Đánh giá chung về nhân vật và cảm nghĩ của bản thân.
* Dàn bài chung cho bài văn phân tích giá trị nhân đạo của tác phẩm, đoạn
trích văn xuôi
- Mở bài: Dẫn dắt giới thiệu tác giả, tác phẩm và giá trị nhân đạo của tác
phẩm cần phân tích.
- Thân bài:
+ Khái quát về tác phẩm, đoạn trích:
+ Phân tích những biểu hiện của giá trị nhân đạo trong tác phẩm, đoạn
trích:

+ Đồng tình với tinh thần phản kháng, đấu tranh của những người bị áp
bức, Tô Hoài vạch ra con đường giải phóng cho họ (dẫn chứng).
- Kết bài: Đánh giá chung về giá trị nhân đạo của tác phẩm.
Đề bài 2:
Phân tích giá trị nhân đạo của truyện ngắn Vợ nhặt của nhà văn Kim Lân
(phần trích trong Ngữ văn 12, Tập hai, NXB Giáo dục − 2008).
Vận dụng linh hoạt dàn bài chung cho bài văn phân tích giá trị nhân đạo của
tác phẩm, đoạn trích văn xuôi, ta có thể xây dựng được dàn bài sau:
- Mở bài: Nêu được vấn đề cần nghị luận.
- Thân bài:
+ Kim Lân đã bênh vực và cảm thông sâu sắc với những con người vất vả,
nghèo khổ, tiều tụy trong nạn đói như Tràng, người vợ nhặt (dẫn chứng).
+ Kim Lân đã trân trọng khát vọng hạnh phúc và phẩm chất tốt đẹp của
người lao động nghèo trong nạn đói; đề cao sự cưu mang lẫn nhau (dẫn chứng).
+ Kim Lân tố cáo sự thâm độc của bọn thực dân – phát xít đã gây ra nạn
đói khiến bao người phải chết, giá trị con người bị rẻ rúng (dẫn chứng).
+ Kim Lân cũng vạch ra con đường đến với tương lai tươi sáng cho họ…
- Kết bài: Đánh giá chung về giá trị nhân đạo của tác phẩm.
* Dàn bài chung cho bài văn phân tích diễn biến tâm lí, tâm trạng nhân vật
trong tác phẩm, đoạn trích văn xuôi
- Mở bài: Dẫn dắt giới thiệu tác giả, tác phẩm và diễn biến tâm lí, tâm
trạng của nhân vật cần phân tích.
- Thân bài:
+ Phân tích khái quát về nhân vật: hoàn cảnh, ngoại hình,…
+ Phân tích diễn biến tâm lí, tâm trạng nhân vật theo trình tự trong tác
phẩm, đoạn trích (lưu ý nhấn mạnh vào từng tình huống cụ thể, đặc biệt là những
tình tiết có ý nghĩa biến đổi tâm lí, tâm trạng nhân vật…).
+ Phân tích dụng ý của nhà văn khi miêu tả diễn biến tâm lí, tâm trạng
nhân vật đối với việc khắc họa tính cách nhân vật.
- Kết bài:

(+) Khi bị trói:
 Tâm trạng: đau khổ, chập chờn giữa quá khứ và hiện tại (không biết
mình bị trói, vẫn sống với tiếng sáo, bồi hồi tha thiết, lúc mê, lúc tỉnh, …).
 Hành động: mạnh mẽ (vùng bước đi nhưng bị dây trói thít chặt).
+ Nghệ thuật:
(+) Miêu tả và phân tích tâm lí nhân vật phù hợp với logíc của đời sống,
đạt đến sự chân thực, tinh tế.
(+) Trần thuật uyển chuyển, linh hoạt; dẫn dắt tình tiết khéo léo, tự nhiên.
(+) Ngôn ngữ sinh động, chọn lọc, sáng tạo; câu văn giàu tính tạo hình và
đậm chất thơ.
- Kết bài:
Đánh giá chung: Diễn biến tâm lí và hành động của Mị đã thể hiện một tâm
hồn khao khát hạnh phúc, một sức sống tiềm tàng mãnh liệt; thể hiện tình cảm
nhân đạo của nhà văn.
Đề bài 2:
Phân tích diễn biến tâm trạng nhân vật bà cụ Tứ trong tác phẩm Vợ nhặt của
Kim Lân (phần trích trong Ngữ văn 12, Tập hai, NXB Giáo dục Việt Nam – 2012).
Vận dụng linh hoạt dàn bài chung cho bài văn phân tích diễn biến tâm trạng
nhân vật trong tác phẩm, đoạn trích văn xuôi, ta có thể xây dựng được dàn bài sau:
Trang 17
- Mở bài: Giới thiệu tác giả Kim Lân, truyện ngắn Vợ nhặt . Giới thiệu vấn
đề cần nghị luận: diễn biến tâm trạng đầy phức tạp và nỗi lòng của bà cụ Tứ.
- Thân bài:
+ Giới thiệu khái quát tác phẩm, nhân vật.
+ Phân tích diễn biến tâm trạng nhân vật:
(+) Ngạc nhiên đến sững sờ: vì có người đàn bà lạ trong nhà…
(+) Xót thương con trai: hiểu ra con mình “nhặt’ được vợ, hiểu ra bao cơ
sự oái oăm và ai oán xót thương cho số kiếp của đứa con mình.
(+) Vừa mừng vừa tủi: bà mừng cho con có vợ, tủi thân vì bổn phận làm
mẹ mà không lo nổi vợ cho con.

mức độ đúng/sai của ý kiến (đúng hoàn toàn hay đúng một phần)…
- Phân tích – chứng minh những biểu hiện của ý kiến trong văn học (qua
một số tác phẩm mà đề bài yêu cầu hoặc người viết tự lựa chọn)
+ Chỉ ra mặt đúng, mặt chưa đúng của ý kiến ấy;
Trang 18
+ Lí giải vì sao đúng, vì sao chưa đúng; đúng ở chỗ nào, chưa đúng ở chỗ
nào…
- Bình luận – mở rộng để nhìn nhận về ý kiến một cách thấu đáo bằng cách
nêu quan điểm của người viết và đề xuất quan điểm bổ sung (nếu cần)…
* Kết bài:
Đánh giá chung về ý kiến đã bàn luận (ý nghĩa và tác dụng của ý kiến đó đối
với đời sống và văn học).
Nêu một vài cảm nhận sâu sắc và rút ra bài học cho bản thân người viết về ý
kiến đã bàn.
Qua thực tiễn áp dụng giải pháp này vào giảng dạy tại đơn vị mình, người
viết xin đưa ra một số dẫn chứng minh hoạ đã thực hiện có hiệu quả trong việc vận
dụng linh hoạt dàn bài chung cho bài văn nghị luận về một ý kiến bàn về văn học ở
từng đề bài cụ thể, như sau:
Đề bài 1:
Về hình tượng Lor-ca trong bài thơ Đàn ghi ta của Lor-ca của Thanh Thảo,
có ý kiến cho rằng: Đó là mẫu nghệ sĩ – chiến sĩ, vì dấn thân tranh đấu cho dân
chủ và tự do nên bị bọn phát xít hành hình. Ý kiến khác thì khẳng định: Đó là mẫu
nghệ sĩ thuần túy, chỉ đam mê cái đẹp và sáng tạo nghệ thuật, nhưng bị giết hại
oan khuất.
Từ cảm nhận của mình về hình tượng Lor-ca, anh/chị hãy bình luận các ý
kiến trên.
(Đề thi Tuyển sinh Đại học – khối D năm 2014)
Vận dụng linh hoạt dàn bài chung cho bài văn nghị luận về một ý kiến bàn về
văn học, ta có thể xây dựng được dàn bài sau:
* Mở bài: Giới thiệu vài nét về tác giả Thanh Thảo, bài thơ Đàn ghi ta của

Bằng cảm nhận về hình tượng sông Hương, anh/chị hãy bình luận các ý kiến
trên.
(Đề thi Tuyển sinh Đại học – khối C năm 2014)
Vận dụng linh hoạt dàn bài chung cho bài văn nghị luận về một ý kiến bàn về
văn học, ta có thể xây dựng được dàn bài sau:
* Mở bài: Giới thiệu vài nét về tác giả Hoàng Phủ Ngọc Tường, bài bút kí
Ai đã đặt tên cho dòng sông? và trích dẫn hai ý kiến về bài bút kí.
* Thân bài:
- Giải thích ý kiến:
+ Vẻ đẹp nổi bật là vẻ đẹp hiện trên bề nổi, gây ấn tượng vượt trội, dễ
nhận thấy bằng trực cảm. Ý kiến thứ nhất coi cảnh sắc thiên nhiên thơ mộng, tình
tứ là vẻ đẹp nổi bật của sông Hương.
+ Vẻ đẹp bề sâu là vẻ đẹp ẩn chìm, đòi hỏi phải có tri thức sâu rộng và
chiêm nghiệm công phu mới khám phá được. Ý kiến thứ hai coi những trầm tích
văn hóa, lịch sử là vẻ đẹp bề sâu của sông Hương.
- Cảm nhận về hình tượng sông Hương:
+ Vẻ đẹp của cảnh sắc thiên nhiên thơ mộng, tình tứ: những cảnh trí, sắc
màu của sông nước, núi đồi, bãi biền, cây cỏ, giàu chất thơ, đầy gợi cảm; những
dáng nét của khúc uốn, đường cong, điệu chảy, nhịp trôi, gợi nhiều liên tưởng về
mĩ nhân, về tình tự lứa đôi đầy quyến rũ và say đắm.
+ Vẻ đẹp của những trầm tích văn hóa, lịch sử: sông Hương là “người mẹ
phù sa của một vùng văn hóa xứ sở”, và bao đời nay vẫn được tô điểm bởi vô vàn
công trình thi ca, âm nhạc, hội họa, kiến trúc, điêu khắc; sông Hương gắn với biết
bao chiến công oanh liệt qua các thời đại lịch sử.
+ Nghệ thuật: phối hợp kể và tả; biện pháp ẩn dụ, nhân hóa, so sánh; ngôn
ngữ giàu chất trữ tình, chất triết luận.
Trang 20
- Bình luận về ý kiến:
+ Cả hai ý kiến đều có tính khái quát, sâu sắc, nhấn mạnh những vẻ đẹp
khác nhau của hình tượng sông Hương: cảnh sắc thiên nhiên thơ mộng, tình tứ là

Hiểu 36,3% 34,6% 36,2% 34,8%
Vận dụng 16,5% 18,9% 16,7% 19,0%
- Từ bảng thống kê trên, ta thấy:
Trang 21
+ Sau khi thực hiện các giải pháp của đề tài, mức độ tư duy phân môn Làm
văn của học sinh đã có sự tiến triển (mức độ hiểu và vận dụng tăng lên) so với
trước khi thực hiện các giải pháp của đề tài. Điều này chứng tỏ các giải pháp của
đề tài đã góp phần nâng cao trình độ học môn Ngữ văn của học sinh.
+ Các giải pháp của đề tài đã tác động tích cực đến thái độ học tập của học
sinh học môn Ngữ văn nói chung và phân môn Làm văn nói riêng, đặc biệt có sự
biến động lớn giữa học kì I và học kì II. Điều này càng cho thấy việc xây dựng và
vận dụng linh hoạt dàn bài chung cho một số dạng đề là rất cần thiết đối với các
em học sinh. Và việc vận dụng này để trở thành kĩ năng, kĩ xảo thì đòi hỏi cần phải
có thời gian cho các em rèn luyện.
V. ĐỀ XUẤT, KHUYẾN NGHỊ KHẢ NĂNG ÁP DỤNG
- Qua việc thực hiện các giải pháp trên của đề tài vào các bài dạy môn Ngữ
văn, người viết đã rút ra một số những kinh nghiệm sau:
+ Cần xây dựng và vận dụng linh hoạt dàn bài chung cho các dạng đề để
tạo hứng thú cho học sinh trong giờ học phân môn Làm văn của bộ môn Ngữ văn.
Đặc biệt, việc làm này có ý nghĩa quan trọng đối với các em học sinh trong các giờ
kiểm tra, giờ thi khi phải đối mặt với đề thi đầy cam go.
+ Tuỳ vào đối tượng học sinh của lớp học mà người dạy nhấn mạnh một số
dàn bài chung cần thiết và thường xuyên cho các em luyện tập vận dụng linh hoạt
các dàn bài chung này vào một số đề bài cụ thể. Chẳng hạn, học sinh yếu thì nên
bắt đầu vận dụng linh hoạt dàn bài chung thông dụng và sau đó mới nâng cao dần.
- Người viết cũng xin đưa ra một số khuyến nghị để tăng khả năng áp dụng
các giải pháp của đề tài vào thực tiễn, cụ thể như sau:
+ Đối với học sinh yếu, người dạy cần yêu cầu các em học thuộc lòng dàn
bài chung cho mỗi dạng đề (để có bột, có cái bất biến) trước khi yêu cầu các em
vận dụng linh hoạt dàn bài chung ấy vào đề bài cụ thể (mà gột nên hồ, mà ứng vạn

(http://thanhdoan.hochiminhcity.gov.vn/ThanhDoan/webtd/News/10491).
7. Chuyên đề: Nghị luận xã hội, trên trang web viettelstudy.vn
(http://viettelstudy.vn/chuyen-de/Nghi-luan-xa-hoi-c126-i559.html)
8. Đề thi – đáp án của các kì thi Học kì, kì thi Tốt nghiệp, kì thi Tuyển sinh Đại
học – Cao đẳng qua các năm.
VII. PHỤ LỤC
Đính kèm theo sáng kiến kinh nghiệm này là hai bảng điểm thi học kì I và học
kì II của 2 lớp 12 mà người viết đã giảng dạy trong năm học 2014 – 2015 để minh
chứng cho hiệu quả của các giải pháp đã nêu trong đề tài sáng kiến này.
NGƯỜI THỰC HIỆN
(Kí tên và ghi rõ họ tên)
Nguyễn Quang Thêm
Trang 23


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status