xây dựng hệ thống câu hỏi hướng dẫn đọc hiểu phần vhdg trong chương trình ngữ văn lớp 9 thpt chdcnd lào - Pdf 32

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH

Kettavong Vilavanh

XÂY DỰNG HỆ THỐNG CÂU HỎI
HƯỚNG DẪN ĐỌC - HIỂU PHẦN VHDG
TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN
LỚP 9 THPT CHDCND LÀO.

LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC

Thành phố Hồ Chí Minh - 2012


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH

Kettavong Vilavanh

XÂY DỰNG HỆ THỐNG CÂU HỎI
HƯỚNG DẪN ĐỌC - HIỂU PHẦN VHDG
TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN
LỚP 9 THPT CHDCND LÀO.
Chuyên ngành
Mã số

: Lý luận và Phương pháp Dạy học Văn
: 60 14 10

LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC

Danh mục các hình
MỞ ĐẦU ................................................................................................... 1
Chương 1: CẤU TRÚC CHƯƠNG TRÌNH VĂN HỌC DÂN GIAN Ở
TRƯỜNG THPT CHDCND LÀO .................................................................... 9
1.1. Nước Lào và Văn học dân gian Lào 9

1.1.1. Nước Lào ........................................................................................ 9
1.1.2. Văn học dân gian Lào ................................................................. 10

1.2. Chương trình VHDG trong SGK Ngữ văn lớp 9 của Lào

33

1.2.1. Cấu trúc chương trình VHDG lớp của Lào ............................. 33
1.2.2. Nội dung chương trình VHDG lớp 9 của Lào .......................... 35

Tiểu kết chương 1 ................................... Error! Bookmark not defined.
Chương 2: XÂY DỰNG HỆ THỐNG CÂU HỎI HƯỚNG DẪN ĐỌC HIỂU TÁC PHẨM VĂN HỌC DÂN GIAN TRONG CHƯƠNG TRÌNH
NGỮ VĂN LỚP 9 THPT CHDCND LÀO .................................................... 62
2.1. Tiếp cận những vấn đề về câu hỏi trong dạy học

62

2.1.1 Một số vấn đề về câu hỏi trong dạy học .................................... 62
2.1.2. Những vấn đề về câu hỏi trong dạy học văn ............................ 64
2.1.3. Thiết kế câu hỏi trong dạy học .................................................. 83

2.2. Xây dựng hệ thống câu hỏi trong dạy học tác phẩm văn chương
88
2.3. Từ việc khảo sát câu hỏi trong SGK lớp 9 phần văn học dân gian Lào, định hướng

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
THPT

:

Trung học phổ thông.

GV

:

Giáo viên

HS

:

Học sinh

VHDG

:

Văn học dân gian

TN

:

Thực nghiệm



1

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng Nhân dân Cách mạng Lào
(họp từ ngày 17 đến ngày 21 tháng 3 năm 2011 tại Viên-chăn) đã khẳng định quyết
tâm tiếp tục đưa đất nước tiến lên dân giàu, nước mạnh, xã hội đoàn kết thống nhất,
dân chủ, công bằng và văn minh theo khẩu hiệu: “Tăng cường đoàn kết toàn dân và
thống nhất trong Đảng; nâng cao vai trò và năng lực lãnh đạo của Đảng; tạo bước
đột phá trong việc tổ chức thực hiện đường lối đổi mới; xây dựng cơ sở vững chắc
để đưa đất nước thoát khỏi sự kém phát triển vào năm 2020 và tiếp tục tiến lên chủ
nghĩa xã hội”.
Để thực hiện thành công mục tiêu này, Đảng và Chính phủ Lào nhận thấy rất
rõ: nhân tố quyết định chính là nguồn nhân lực con người; và để phát triển nguồn
nhân lực cần phải phát triển giáo dục.
Trong giai đoạn hiện nay, Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào(CHDCND) đang
đẩy mạnh phát triển giáo dục, mục tiêu ưu tiên hàng đầu là xây dựng chính sách
phát triển giáo dục một cách toàn diện, đổi mới mạnh mẽ phương pháp giáo dục –
đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện nếp tư duy sáng tạo của
người học, từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến và phương tiện hiện đại
vào quá trình dạy học, đảm bảo điều kiện và thời gian tự học cho học sinh… Theo
tinh thần đổi mới: học để biết, học để làm, học để phát triển, việc dạy học trong
trường phổ thông cần giúp học sinh nhanh chóng tiếp thu được những kiến thức, kỹ
năng cần thiết, trên cơ sở đó hình thành và phát triển ở học sinh khả năng giải quyết
những vấn đề mà thực tiễn sản xuất và đời sống đặt ra, có phương pháp tư duy và
hành động khoa học… Dựa trên quan điểm chỉ đạo đó, kết hợp với những bước
chuyển biến của dạy học hiện đại, chúng ta nhận thấy rằng đổi mới PPDH là một
giải pháp cơ bản để nâng cao chất lượng giáo dục của đất nước Lào trong giai đoạn

hỏi có tính thách thức có thể kích thích học sinh khám phá các ý tưởng và ứng dụng
kiến thức mới vào nhiều tình huống khác. Trong mối tương quan với việc đổi mới
phương pháp dạy học, đặt câu hỏi có ý nghĩa tăng cường tính tích cực chủ động của
học sinh, chống lại thói quen thụ động trong giờ học. Câu hỏi chính là phương tiện
cho học sinh tự học để giáo viên dẫn dắt học sinh chủ động chiếm lĩnh kiến thức.


3

Hiện nay việc dạy học môn Văn ở trường trung học phổ thông của nước
Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào còn đang gặp nhiều khó khăn: chương trình SGK
xây dựng đã lâu nhưng không thường xuyên được cập nhật; tài liệu hướng dẫn dạy
học còn thiếu, nội dung hướng dẫn dạy học Văn được biên soạn khá sơ sài, đơn
điệu, không có tác dụng định hướng, phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo cho
học sinh ...
Cho đến thời điểm này, mặc dù nền giáo dục của nước Lào đã sử dụng một
số phương pháp dạy học mang lại những hiệu quả nhất định như phương pháp diễn
giảng, đàm thoại, nêu vấn đề, … nhưng trong thực tiễn dạy học, học sinh Lào vẫn
còn nhiều thụ động; giáo viên Lào vẫn đang gặp nhiều khó khăn, lúng túng khi thiết
kế giáo án. Vì vậy, trong thời gian theo học chương trình đào tạo Sau đại học tại
Trường Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh, chúng tôi rất quan tâm đến kinh
nghiệm triển khai, nghiên cứu các con đường, cách thức của dạy học hiệu quả, tích
cực hoá hoạt động học tập của học sinh mà giáo dục học và lí luận dạy học Việt
Nam đã thu được.
Tích cực hóa hoạt động học tập của học sinh là một vấn đề rất lớn và phức
tạp. Trong khuôn khổ của luận văn này, chúng tôi muốn cụ thể hoá những kiến thức
lí thuyết đã học được ở Việt Nam bằng đề tài: Xây dựng hệ thống câu hỏi hướng
dẫn đọc hiểu phần phần văn học dân gian trong chương trình Ngữ văn lớp 9 Trung
học phổ thông CHDCND Lào nhằm góp một phần nhỏ vào việc đổi phương pháp
dạy học của nhà trường phổ thông CHDCND Lào hiện nay.

gian, ví dụ:
- Chuyên đề : Văn bản văn học dân gian và việc phân tích tác phẩm văn học
dân gian trong nhà trường phổ thông, sách bồi dưỡng thường xuyên chu kì 19972000 cho giáo viên THCS và THPT.
- Đỗ Bình Trị (1995), Phân tích tác phẩm văn học dân gian, NXB Giáo dục.
- Hoàng Tiến Tựu (1983), Mấy vấn đề phương pháp giảng dạy, nghiên cứu
văn học dân gian, NXB Giáo dục.
- Bùi Mạnh Nhị, Phân tích tác phẩm văn học dân gian, An Giang, 1988.
- Nguyễn Xuân Lạc (1998), Văn học dân gian trong nhà trường, NXB Giáo
dục v.v.


5

Ba là, những công trình nghiên cứu về lý luận và phương pháp dạy học văn,
ví dụ:
- Phan Trọng Luận (1988), Phương pháp dạy học văn, NXB Đại học Sư
phạm Hà Nội
- Guy Palmade (H.2002), Các phương pháp sư phạm, NXB Thế giới.
- Z.Ia.Rez (1983), Phương pháp luận dạy văn học (Phan Thiều dịch), Nxb
Giáo dục…
Bốn là, những tài liệu tham khảo liên quan trực tiếp đến nội dung đề tài, ví dụ :
- Nguyễn Quang Cương (2002), Câu hỏi và bài tập với việc dạy học tác
phẩm văn chương trong nhà trường, NXB ĐHQGHN.
- Đoàn Thị Bình (2008), Cách đặt câu hỏi phù hợp với từng đối tượng học
sinh trong giờ giảng văn lớp 9, tạp chí Dạy và học ngày nay, số 12.
- Lê Sử (2010), Những điểm mới của hệ thống câu hỏi hướng dẫn học bài
trong SGK Ngữ văn THPT, tạp chí Dạy và học ngày nay, số 7 v.v.
Ngoài ra, chúng tôi hết sức quan tâm đến các chuyên đề của các GS, PGS, TS
Việt Nam đã trình bày tại khoá 19 đào tạo Sau đại học và một số luận văn Sau đại
học về Lí luận và phương pháp dạy học văn mà các anh chị đi trước đã thực hiện ;

đến việc cung cấp thêm một tư liệu tham khảo bổ ích về phương pháp dạy học văn
cho các bạn đồng nghiệp Lào.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu chung của luận văn là giáo viên, học sinh và việc dạy
học văn lớp 9 trường THPT Lào; đối tượng nghiên cứu cụ thể của luận văn là giáo
viên, học sinh và việc dạy học văn lớp 9 trường THPT Chăm phon, tỉnh Savanaket,
CHDCND Lào.
Phạm vi nghiên cứu của luận văn: luận văn giới hạn phạm vi nghiên cứu ở
hoạt động dạy học phần Văn học dân gian lớp 9 bằng hệ thống câu hỏi của một
Trường trung học phổ thông của Lào. Trong phạm vi đó, ngoài việc quan tâm tìm
hiểu những vấn đề chung về lí luận và phương pháp dạy học văn, quan điểm đổi
mới phương pháp dạy học văn, luận văn đi sâu vào việc xây dựng hệ thống câu hỏi
đọc hiểu để việc dạy học Văn học dân gian đạt hiệu cao hơn, đồng thời thể hiện
được định hướng đổi mới, tích cực hoá hoạt động dạy của giáo viên và hoạt động
học của học sinh. Do phạm vi đối tượng nghiên cứu khá rộng, chúng tôi không tìm


7

hiểu toàn bộ Chương trình văn học dân gian lớp 9 của CHDCND Lào mà xin phép
chỉ giới hạn ở những văn bản tự sự dân gian mà thôi.
5. Phương pháp nghiên cứu
Để nghiên cứu vấn đề mà luận án đặt ra, trong quá trình thực hiện, người
viết đã kết hợp, vận dụng linh hoạt phương pháp nghiên cứu lí thuyết và phương
pháp nghiên cứu thực nghiệm, cụ thể là:
– Phương pháp phân tích, tổng hợp: được sử dụng để nghiên cứu lịch sử vấn
đề và phát hiện, rút ra những kết luận cần thiết về cơ sở lí luận thông qua việc tìm
hiểu các tư liệu, giáo trình, các bài nghiên cứu thuộc các lĩnh vực Giáo dục học,
Tâm lí học, Lí luận văn học, Lí luận và Phương pháp dạy học văn, Lí thuyết tiếp
nhận văn học… có liên quan trực tiếp đến phạm vi đề tài.

9

Chương 1: CẤU TRÚC CHƯƠNG TRÌNH VĂN HỌC
DÂN GIAN Ở TRƯỜNG THPT CHDCND LÀO
1.1. Nước Lào và Văn học dân gian Lào
1.1.1. Nước Lào
Nước Lào - đất nước Triệu Voi (Lạn Xạng) là một trong “các quốc gia trẻ” ở
khu vực Đông Nam Á, giáp Trung Quốc ở phía Bắc với đường biên giới dài 505
km; giáp Campuchia ở phía Nam với đường biên giới dài 535 km; giáp Việt Nam ở
phía Đông với đường biên giới dài 2069 km, giáp Mianmar ở phía Tây Bắc với
đường biên giới dài 236 km; giáp Thái Lan ở phía Tây với đường biên giới dài 1835
km.
Lào cũng là một quốc gia đa dân tộc, bộ tộc (phầu), nhưng khối thống nhất của
cộng đồng quốc gia dân tộc Lào được hợp thành bởi 3 nhóm dân tộc lớn theo địa
hình: người Lào Thông (sống ở rẻo giữa hay lưng chừng vùng núi, thuộc nhóm
ngôn ngữ Môn – Khmer), người Lào Lùm (sống ở vùng đồng bằng, thuộc nhóm
ngôn ngữ Lào – Thái) và người Lào Xủng (sống ở vùng núi cao, thuộc nhóm ngôn
ngữ Mèo – Dao, Tạng – Miến). Các dân tộc ở Lào đều “chui ra” từ quả bầu mẹ.
Truyện quả bầu là huyền thoại giải thích nguồn gốc chung của toàn thể các dân tộc
sinh sống trên đất Lào ngày nay.
Nước Lào nằm sâu trên bản đảo Đông Dương, hơn ba phần tư đất đai là rừng
núi. Rừng gắn bó mật thiết với người Lào cả trong đời sống kinh tế xã hội và cuộc
sống tinh thần từ xưa cho đến nay. Ham thú đi rừng (đơn đông) của người Lào tạo
nên một sắc thái văn hóa, một đời sống tâm hồn rất Lào, độc đáo nhất ở khu vực
Đông Nam Á. Cũng chính bởi địa hình rừng núi hiểm trở, đi lại khó khăn nên người
Lào giao lưu và tiếp xúc với thế giới bên ngoài, đặc biệt là với các nền văn hóa lớn
phương Đông như Trung Quốc, Ấn Độ khá muộn, chậm; và sự tiếp thu ảnh hưởng
giao thoa văn hóa ấy thường thông qua một quốc gia trung gian khác.
Nhà nước Lạn Xạng được thành lập tính từ thế kỷ XIV, sau khi vua Phà
Ngừm thống nhất các mường Lào. Từ năm 1520, đất nước này mở mang nhanh

phú, đa dạng hơn và vị thế của nó cũng ngày càng được khẳng định rõ ràng hơn.
Nhiều mặt của đời sống thiên nhiên và xã hội, của lao động và đấu tranh từ xưa đến
nay đều được phản ánh, thế hiện trong văn học bằng những thể loại khác nhau và
với một số lượng sáng tác rất lớn.


11

1.1.2.1. Thể loại tự sự dân gian
Thể loại tự sự dân gian Lào có năm loại hình tiêu biểu:
1) Thần thoại
Theo người Lào, thần cao nhất là thén Phạkhươn hay thén Luống (thần Trời)
thần cai quản các thần khác và sáng tạo ra muôn loại; các thần khác (khún thén) như
thén Teng thì trông coi việc làm ăn, sinh sống và trị vì hạ giới, thén Phen thì chăm
lo đời sống văn hóa tinh thần cho loài người,...Bên cạnh thén còn có phí (ma). Phí
cũng có nhiều loại: phí thén (ma trời), phí hươn (ma người), phí bạn (ma bản), phí
mương (ma xứ), phí pà (ma rừng), phí phu (ma núi), phí mè nặm (ma sông),...Ngoài
ra còn có Pu Nhơ Nhà Ngàm, thạu Lày mè Mốt mà xưa nay người Lào vẫn coi là tổ
tiên trực tiếp của họ, được họ kính cẩn tôn thờ. Và sau này, bên cạnh thén, phí là
thần, ma bản địa, lại có thâm in, phồm là thần du nhập từ Ấn Độ.
Thần, ma sinh ra từ sự tín ngưỡng những vật linh thiêng. Thần, ma thì ở
mường trên, con người thì ở mường dưới. Sự phân chia đó tuy có làm cho hệ thống
thần, ma ở Lào linh thiêng hơn nhưng không vì thế mà trở nên cách biệt với con
người, trái lại giữa thần, ma và con người vẫn có quan hệ gần gũi, luôn luôn đi lại
với nhau.
Thần thoại Lào đề cập đến nhiều vấn đề lớn thuộc phạm vi thế giới – nhân
loại cũng như quốc gia – dân tộc. chức năng, nhiệm vụ chủ yếu của thần thoại Lào
là:
a) Giải thích sự tạo lập thế giới và loài người.
Ví dụ:

Truyện kể rằng các giống người ở Lào đều sinh ra từ một quả bầu. Người
Lào Thơng sinh ra đầu tiên được coi là anh cả, người Lào Lùm sinh ra tiếp theo
được coi là anh thứ và người Lào Xủng sinh ra sau cùng được coi là em út. Trình tự
sinh ra của các giống người này rất phù hợp với sự xuất hiện của các nhóm tộc
người trên đất Lào: nhóm Lào Thơng – nhóm Lào Lùm – nhóm Lào Xủng.
Việc giải thích “các giống người đều sinh ra từ một quả bẩu” có liên quan
chặt chẽ đến nhận thức “các con đều sinh ra từ một người mẹ” (trong chế độ xã hội
thị tộc mẫu quyền, con người tôn thờ huyết thống theo mẹ). Những khái niệm
thường dùng ở Lào như “muôn ma nụt” (toàn nhân loại), “mốt thục khôn” (tất cả
mọi người) ít nhiều đều liên quan đến quan niệm và nhận thức nói trên.


13

c) Phản ánh công cuộc đấu tranh chinh phục thiên nhiên:
Thiên nhiên xa xưa là một nỗi đe dọa thường xuyên đối với cuộc sống bình
yên của con người. Bởi vậy, từ buổi bình minh của xã hội loài người, con người đã
tiến hành một cuộc đấu tranh liên tục và bền hỉ nhằm chống lại các thế lực thiên
nhiên “khủng khiếp” đó. Cuộc đấu tranh oanh liệt này đã được thể hiện một cách
sống động trong hình tượng thần thoại “Cung tên và hạn hán”, đặc biệt là trong
hình tượng thần loại “Pù Nhơ Nhà Nhơ” của Lào.
Trong thần thoại “Cung tên và hạn hán”, thần đã cầm dao cầm rìu vào rừng
chặt cây về làm cung tên bắn vào mặt trời, mặt trăng để cứu loài người khỏi cái chết
do hạn hán gây ra. Trước những hiện tượng thiên nhiên đang trở thành hiểm họa lớn
đối với con người, họ không khoanh tay ngồi nhìn mà đã vùng đứng lên, tìm mọi
cách chế ngự bằng được chúng. Cũng vậy, trong hệ thống thần thoại Pù Nhơ Nhà
Nhơ, lại một lần nữa chúng ta được chứng kiến nhiều hành động tương tự của một
cặp vợ chồng có tên là Pù Nhơ Nhà Nhơ có đôi chân kỳ diệu để mỗi bước chân
bước đi trên dòng nước là mặt đất được hình thành. Và khi đã trở thành người đầu
tiên trên trần gian thì mỗi việc làm của Pù Nhơ Nhà Nhơ không chỉ mang sức mạnh

cách khá đầy đủ. Lịch sử của Lào thời kỳ này được ghi nhận và lưu truyền qua hình
thức truyền thuyết là chính.
Từ thế kỷ XVI trở đi, tức từ khi quốc gia – dân tộc Lào được hình thành, thì
cũng với truyền thuyết, việc ghi chép lịch sử đã được thực hiện. Nếu trước kia lịch
sử cũng bị truyền thuyết hóa thì từ nay, sự thật lịch sử được trả về cho lịch sử. Nội
dung, tính chất truyền thuyết thời kỳ này ít nhiều có thay đổi. Nó được đánh dấu
hỏi hai mốc chính:
- Phản ánh công cuộc bảo vệ và xây dựng chế độ phong kiến tập quyền, phản
ánh công cuộc sáng tạo văn hóa (các truyền thuyết về Luống Pha Bang, Thạt
Luống, mường Viêng Chăn, chùa In hăng, tháp Phạ nôm, tháp Uvăng).
- Phản ánh công cuộc đấu tranh chống ngoại xâm (chống phong kiến Miến,
Thái, và đế quốc Pháp) qua các truyền thuyết Lát Xạ Vông, Phu Mi Bun, Chậu Phạ
Pắt Chay, Ông Kẹo Ông Kôm Mạ Đăm, Phò Cá Đuột,...
Một số truyền thuyết tiêu biểu:
Truyền thuyết Khún Bu Lôm – Khún Lo


15

Đây là một truyền thuyết có nội dung lịch sử sâu sắc và có giá trị, ý nghĩa
quan trọng về nhiều mặt, đã làm nổi bật một vấn đề lớn của đất nước và xã hội Lào,
đó là công cuộc xây dựng nhà nước phong kiến tại mường Xoa và các mường khác.
Từ một con người được coi là có thật, Khún Bu Lôm đã trở thành một nhân
vật truyền thuyết. Khún Bu Lôm được vua Trời phái xuống mường trần cùng với
bốn vị thần khác để trông coi hạ giới. Khún Bu Lôm đã cử bảy người con trai của
mình đến cai trị ở bảy mường khác nhau. Người con cả là Khún Bu Lôm tài giỏi,
phúc đức, được nhận trọng trách tại mường Xoa (Luống Phạ Bang) và trở thành ông
vua đầu tiên của Lào. Với con mắt tinh tường và tầm hiểu biết sâu rộng. Khún Bu
Lôm đã cùng bảy người con trai của mình làm được nhiều việc cho hạ giới và trở
thành vị tổ tiên vĩ đại nhất của người Lào.

thắng, nhiều lần đẩy quân địch ra khỏi căn cứ và nơi cư trú của chúng. Bị thất bại
nặng nề, quân địch đã phải cầu cứu đến sự giúp đỡ của các mường khác như mường
Tumvang, mường Xiêng hùng và cuối cùng phản công lại một cách quyết liệt. Khún
Chương đã hy sinh anh hùng trong một trận giao tranh với quân Keo mèn. Nhưng
nhân dân đã miêu tả Khún Chương như một con người bất tử. Sau khi chết, hồn ma
Khún Chương đã chỉ huy một đội quân ma lên chiến đấu và chiến thắng oanh liệt
các thần ở trên mường Trời. Truyện kể Khún Chương có phép, có voi trắng, có
khiên và có kiếm thần. Khi đánh nhau, chỉ cần Khún Chương giơ kiếm thần lên trời
cũng đủ làm cho quân địch chế như ra.
Là một anh hùng chiến trận, Khún Chương cũng đồng thời là một nhà sáng
tạo văn hóa. Sau mỗi lần chiến đấu và chiến thắng địch ở mường Pákăn, Khún
Chương đều làm rượu cho quân sĩ uống. Rượu được đựng trong những chiếc chum
đá – Phải chăng những chiếc chum đá còn lại đến ngày nay ở Cánh đồng chum là
dấu ấn của một thời chinh chiến với những chén rượu mừng vui chiến thắng.
3) Truyện cổ tích
Truyện cổ tích Lào có dung lương phản ánh rộng, đề cập đến nhiều mặt hoạt
động trong môi trường thiên nhiên, xã hội, và con người.
a) Trước hết, truyện cổ tích phản ánh công cuộc lao động sản xuất và đấu
tranh chinh phục thiên nhiên của người Lào.
Ví dụ:


17

Chàng Tức Khức (trong truyện Tức Khức) là một chàng trai có sức khỏe, có
ý chí và nghị lực. Chàng nguyện mang hết khả năng, sức lực to lớn của mình để
khai phá núi rừng, biến những vùng hoang vu hiểm trở thành đồng bằng phì nhiêu
và cao nguyên trù phú. Không những thế, chàng còn đào mương đắp phai dầu nước
về đồng ruộng, tạo ra những cánh đồng lúa xanh tươi, trữu bông nặng hạt. Kể từ đó
cuộc sống bản thân, gia đình và làng bản đã có sự đổi thay, không còn cực khổ thiếu


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status