Khoa Toán – Tin – ĐHSP HN Khóa luận Tốt nghiệp
Lời cảm ơn
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo
khoa Toán – Tin đã tạo điều kiện thuận lợi giúp đỡ
tôi được nghiên cứu và thực hiện đề tài.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Thạc sĩ
Chu Cẩm Thơ đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo và
giúp đỡ trong quá trình nghiên cứu và thực hiện đề
tài.
Tôi xin chân thành cảm ơn những ý kiến đóng
góp quý báu của Tiến sĩ Nguyễn Anh Tuấn.
Tôi xin chân thành cảm ơn sự hỗ trợ về mặt
công nghệ thông tin của sinh viên Nguyễn Minh Tú
Lớp A - K54 Khoa Vật lý Trường Đại học Sư phạm
Hà Nội.
Tôi xin chân thành cảm ơn sự động viên, giúp đỡ
của tất cả bạn bè trong quá trình làm khóa luận Tốt
nghiệp.
Hà Nội, tháng 04
năm 2008.
Phạm Thị Hồng Nhung H – K54
1
Khoa Toán – Tin – ĐHSP HN Khóa luận Tốt nghiệp
Phạm Thị Hồng
Nhung.
Phạm Thị Hồng Nhung H – K54
2
Khoa Toán – Tin – ĐHSP HN Khóa luận Tốt nghiệp
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Hiện nay, nước ta đang bước vào thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa,
mà còn kiểm tra được kĩ năng, giải bài tập định tính cũng như định lượng. Song
hình thức này bộc lộ nhược điểm là chỉ cho phép kiểm tra một số ít kiến thức
trong một thời gian nhất định, việc chấm điểm mất nhiều thời gian, kết quả
không có ngay, mang tính chủ quan của người chấm, khó ngăn chặn tình trạng
học lệch, học tủ của học sinh.
Một hình thức kiểm tra – đánh giá kiến thức trên một vùng rộng, nhanh
chóng, khách quan, chính xác, hạn chế tối đa các hiện tượng tiêu cực, gian lận
trong thi cử là trắc nghiệm khách quan (TNKQ).
Hơn nữa, với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin (CNTT), các phần mềm
tin học, các giáo viên có thể chuẩn bị sẵn một ngân hàng đề câu hỏi để kiểm tra
– đánh giá kết quả học tập của học sinh sau khi học xong một chương, kết thúc
học kỳ hay năm học. Từ ngân hàng câu hỏi đó có thể chia ra làm nhiều đề kiểm
tra theo các mức độ khác nhau phù hợp với trình độ của từng học sinh. Trong
quá trình làm bài kiểm tra, nếu học sinh lựa chọn phương án sai thì người soạn
thảo hệ thống câu hỏi TNKQ thông qua lập trình có thể đưa ra các phản hồi, đưa
ra lời hướng dẫn ngắn gọn để học sinh suy nghĩ, tiếp tục làm, chọn được phương
án đúng. Kết thúc mỗi bài kiểm tra học sinh được biết ngay kết quả kiểm tra.
Với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin, hệ thống câu hỏi TNKQ sẽ trở nên tiện
dụng và hữu ích hơn rất nhiều.
Mặt khác, toán học là một bộ môn khó, có hệ thống và trừu tượng ở
trường phổ thông với các khái niệm, tiên đề, định lí Việc hiểu và vận dụng các
kiến thức, kĩ năng đại số, hình học lớp 10 là cơ sở để tiếp thu các kiến thức, kĩ
năng mới ở các lớp học tiếp theo.
Xuất phát từ những điều nói trên chúng tôi mạnh dạn chọn đề tài nghiên
cứu : “ Xây dựng hệ thống câu hỏi trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn
chương “Vectơ” – Hình học 10 nâng cao với sự hỗ trợ của phần mềm
Macromedia Flash player 8.0.’’
Phạm Thị Hồng Nhung H – K54
4
Khoa Toán – Tin – ĐHSP HN Khóa luận Tốt nghiệp
Phạm Thị Hồng Nhung H – K54
5
Khoa Toán – Tin – ĐHSP HN Khóa luận Tốt nghiệp
- Nghiên cứu cơ sở lí luận về việc ứng dụng công nghệ thông tin để hỗ trợ
việc kiểm tra đánh giá kết quả học tập.
- Xây dựng hệ thống câu hỏi TNKQ nhiều lựa chọn chương “Vectơ” –
Hình học 10 nâng cao với sự hỗ trợ của phần mềm Macromedia Flash player
8.0.
6. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng những phương pháp nghiên cứu sau :
- Nghiên cứu các tài liệu lí luận dạy học hiện đại để tìm hiểu về việc kiểm
tra – đánh giá kết quả học tập của học sinh ở trường phổ thông, tìm hiểu về
phương pháp TNKQ nhiều lựa chọn, về ứng dụng công nghệ thông tin hỗ trợ
việc kiểm tra – đánh giá.
- Nghiên cứu chương trình sách giáo khoa, sách giáo viên, tài liệu bồi
dưỡng giáo viên để xác định mục tiêu dạy học, nội dung kiến thức và mục tiêu
cần đạt sau khi học chương “Vectơ” – Hình học 10 nâng cao.
7. Cấu trúc khóa luận
Ngoài mục lục, phần mở đầu, kết luận chung và tài liệu tham khảo, khóa
luận gồm 02 chương :
Chương 1. Cơ sở lí luận về kiểm tra – đánh giá và ứng dụng công nghệ
thông tin hỗ trợ việc kiểm tra – đánh giá kết quả học tập của học sinh ở trường
phổ thông.
Chương 2. Xây dựng hệ thông câu hỏi trắc nghiệm khách quan nhiều lựa
chọn chương “Vectơ” – Hình học 10 nâng cao với sự hỗ trợ của phần mềm
Macromedia Flash player 8.0.
Phụ lục CD chương trình “Trắc nghiệm vi tính chương “vectơ” – Hình
học 10 nâng cao”.
Phạm Thị Hồng Nhung H – K54
6
Phạm Thị Hồng Nhung H – K54
7
Khoa Toán – Tin – ĐHSP HN Khóa luận Tốt nghiệp
- Đặt ra các yêu cầu về mức độ đạt được các kiến thức, kĩ năng trên dựa
trên những dấu hiệu có thể đo lường hoặc quan sát được.
- Tiến hành đo lường các dấu hiệu đó để đánh giá mức độ đạt được về các
yêu cầu đặt ra, biểu thị bằng điểm số.
- Phân tích, so sánh các thông tin nhận được với các yêu cầu đề ra rồi
đánh giá, xem xét kết quả học tập của học sinh, xem xét mức độ thành công của
phương pháp giảng dạy của thầy để từ đó có thể cải tiến, khắc phục những
nhược điểm.
1.1.2. Ý nghĩa của việc kiểm tra – đánh giá
Việc kiểm tra - đánh giá có hệ thống và thường xuyên cung cấp kịp thời
những thông tin liên hệ ngược trong giúp người học tự điều chỉnh hoạt động
học. Nó giúp cho học sinh kịp thời nhận thấy mức độ đạt được những kiến thức
của mình, còn lỗ hổng kiến thức nào cần được bổ sung trước khi bước vào phần
mới của chương trình học tập, có cơ hội để nắm chắc những yêu cầu cụ thể đối
với từng phần của chương trình. Ngoài ra thông qua kiểm tra - đánh giá học sinh
có điều kiện tiến hành các hoạt động trí tuệ: ghi nhớ, tái hiện, chính xác hóa,
khái quát hóa, hệ thống hóa kiến thức. Nếu việc kiểm tra - đánh giá chú trọng
phát huy trí thông minh, linh hoạt vận dụng kiến thức đã học để giải quyết
những tình huống thực tế.
Việc kiểm tra - đánh giá được tổ chức nghiêm túc, công bằng sẽ giúp học
sinh nâng cao tinh thần trách nhiệm trong học tập, có ý chí vươn lên đạt kết quả
cao hơn, củng cố lòng tin vào khả năng của mình, nâng cao ý thức tự giác, khắc
phục tính chủ quan tự mãn.
Việc kiểm tra - đánh giá học sinh cung cấp cho giáo viên những thông tin
liên hệ ngược ngoài giúp người dạy điều chỉnh kịp thời hoạt động dạy.
Kiểm tra - đánh giá kết hợp với việc theo dõi thường xuyên tạo điều kiện
cho giáo viên nắm được một cách cụ thể và khá chính xác năng lực và trình độ
Thông thường trong quá trình đánh giá tri thức khoa học thì qui trình này
gồm 5 bước:
- Xây dựng hệ thống tiêu chí về nội dung đánh giá và các tiêu chuẩn cần
phải đạt được tương ứng với mục tiêu dạy học đã được cụ thể hóa đến chi tiết.
- Thiết kế công cụ đánh giá và kế hoạch sử dụng chúng.
Phạm Thị Hồng Nhung H – K54
9
Khoa Toán – Tin – ĐHSP HN Khóa luận Tốt nghiệp
- Thu thập số liệu đánh giá.
- Xử lí số liệu.
- Báo cáo kết quả để rút ra kết luận về việc đánh giá và đưa ra những đề
xuất về sự điều chỉnh quá trình dạy học.
1.1.5. Những nguyên tắc về đánh giá
1.1.5.1. Những nguyên tắc chung về đánh giá
- Đánh giá phải được xuất phát từ mục tiêu đạy học, phải xác định rõ mục
tiêu đánh giá cái gì.
- Tiến trình đánh giá phải được chọn theo mục tiêu đánh giá.
- Công cụ kiểm tra - đánh giá phải có tính hiệu lực nghĩa là người thầy
phải biết rõ những hạn chế của từng công cụ đánh giá để sử dụng cho đúng và
có hiệu quả.
- Phải đảm bảo độ tin cậy, bền vững và tính khách quan của đánh giá.
- Bảo đảm tính thuận tiện, bền vững sử dụng những công cụ kiẻm tra
đánh giá.
1.1.5.2. Những nguyên tắc về đánh giá kiến thức kĩ năng môn toán
Việc đánh giá kiến thức kĩ năng bộ môn toán ở trường phổ thông cũng phải
tuân theo những nguyên tắc chung về đánh giá, những đặc thù của môn toán ở
trường phổ thông, những điều kiện thực tế của hoạt động dạy học môn toán.
Việc đánh giá đó phải tuân theo những nguyên tắc sau:
- Đảm bảo tính khách quan, chính xác theo những mục tiêu cụ thể cần
đánh giá, đó là: đánh giá chuẩn đoán, đánh giá từng phần hay đánh tổng kết.
cần phải phủ kín chương trình và có thể kiểm tra được khả năng giải quyết vấn
đề một cách sáng tạo của học sinh.
1.1.7. Các phương pháp truyền thống tổ chức kiểm tra – đánh giá kết quả
học tập của học sinh ở trường THPT
1.1.7.1. Kiểm tra miệng
1.1.7.1.1. Mục đích của việc kiểm tra miệng
Kiểm tra miệng tức là kiểm tra vấn đáp, là hình thức của kiểm tra thường
xuyên, nó được thực hiện qua các khâu ôn tập, củng cố bài cũ, tiếp thu bài mới,
vận dụng kiến thức đã học vào thực tiễn.
1.1.7.1.2. Chuẩn bị kiểm tra miệng
Phạm Thị Hồng Nhung H – K54
11
Khoa Toán – Tin – ĐHSP HN Khóa luận Tốt nghiệp
- Kiểm tra miệng trước hết phải là xác định đựợc chính xác các kiến thức
cần phải kiểm tra, củng cố, từ đó chuẩn bị các câu hỏi phù hợp cho từng loại học
sinh giỏi, khá, trung bình, yếu kém.
- Câu hỏi đặt ra phải chính xác, rõ ràng để học sinh không trả lời lạc đề,
câu hỏi phải kích thích tích cực tư duy của học sinh.
- Giáo viên cần theo dõi, lắng nghe câu trả lời của học sinh, không ngắt
lời học sinh, có thái độ tế nhị và nhạy cảm, hiểu biết cá tính của học sinh để tạo
điều kiện cho học sinh trả lời một cách tốt nhất.
- Sau khi học sinh trả lời, giáo viên phải uốn nắn, bổ sung kiến thức còn
thiếu hay hiểu sai, chưa chính xác của học sinh, rèn luyện cho học sinh cách trả
lời ngắn gọn, xúc tích, chống thái độ quá dễ dãi. Giáo viên phải có thái độ
nghiêm khắc, đúng mực, khách quan.
1.1.7.2. Kiểm tra viết
Ở trường phổ thông hiện nay, kiểm tra viết là hình thức kiểm tra 15 phút,
1tiết (45 phút) và kiểm tra học kì (45 phút trở lên) dưới hình thức tự luận.
1.1.7.2.1. Tác dụng của bài kiểm tra viết
- Qua bài làm của học sinh, giáo viên có thể đánh giá được trình độ nắm
môn học, đối với cả một cấp học, hoặc để tuyển chọn một số người có năng lực
nhất vào một khoá học.
Trắc nghiệm viết thường được chia thành hai nhóm: Trắc nghiệm Tự luận
(TNTL) và Trắc nghiệm Khách quan (TNKQ).
1.1.8.1.Trắc nghiệm tự luận
1.1.8.1.1. Khái niệm
TNTL là phương pháp đánh giá kết quả học tập bằng việc sử dụng công
cụ đo lường là các câu hỏi, học sinh trả lời dưới dạng bài viết bằng chính ngôn
ngữ của học sinh trong một khoảng thời gian đã định trước.
TNTL cho phép học sinh một sự tự do tương đối nào đó để trả lời mỗi câu hỏi
trong bài kiểm tra. Để trả lời câu hỏi đòi hỏi học sinh phải nhớ lại kiến thức, phải biết
sắp xếp và diễn đạt ý kiến của mình một cách chính xác và rõ ràng.
Phạm Thị Hồng Nhung H – K54
13
Khoa Toán – Tin – ĐHSP HN Khóa luận Tốt nghiệp
Bài TNTL trong một chừng mực nào đó được chấm điểm một cách chủ quan và
điểm cho bởi những người chấm khác nhau có thể không thống nhất. Một bài tự luận
thường có ít câu hỏi vì phải mất nhiều thời gian để viết câu trả lời.
1.1.8.1.2. Phương pháp soạn câu hỏi trắc nghiệm tự luận
- Trước khi viết câu hỏi TNTL phải xác định trước mục tiêu cần đánh giá
nghĩa là xác định các khả năng hay mức trí lực cần đánh giá. Nên dùng câu hỏi
TNTL để kiểm tra khả năng vận dụng những điều đã học để tìm ra những kiến
thức mới chưa được học ở lớp hay dánh giá khả năng so sánh các vấn đề với
nhau của học sinh.
- Nên báo cho học sinh biết trước loại câu hỏi nào sẽ được dùng để
kiểm tra.
- Nên định trước các mục tiêu và nội dung nào định kiểm tra. Học sinh
cũng cần biết truớc bài kiểm tra gồm những loại câu hỏi gì, nội dung nào để học
bài, ôn bài, soạn bài một cách thích ứng.
- Các câu hỏi tự luận phải rõ ràng và phải có các giới hạn của các điểm
chương trình, làm cho học sinh có chiều hướng học lệch, học tủ.
1.1.8.2. Trắc nghiệm khách quan
1.1.8.2.1. Khái niệm
TNKQ là phương pháp kiểm tra - đánh giá kết quả học tập của học sinh
bằng hệ thống câu hỏi TNKQ, gọi là “khách quan” vì cách cho điểm là hoàn
toàn khách quan không phụ thuộc vào người chấm.
1.1.8.2.2. Các loại câu hỏi trắc nghiệm khách quan và ưu – nhược điểm của
từng loại
Câu hỏi trắc nghiệm khách quan có thể chia làm 4 loại chính :
Loại 1. Câu trắc nghiệm đúng sai:
Đây là loại câu hỏi được trình bày dưới dạng câu phát biểu và học sinh trả
lời bằng cách lựa chọn một trong 2 phương án đúng hoặc sai.
- Ưu điểm của loại trắc nghiệm đúng sai : là loại câu hỏi đơn giản dùng để
trắc nghiệm kiến thức về những sự kiện, vì vậy viết loại câu hỏi này tương đối
dễ dàng, ít phạm lỗi, mang tính khách quan khi chấm.
- Nhược điểm của loại trắc nghiệm đúng sai : HS có thể đoán mò vì vậy
có độ tin cậy thấp, dễ tạo điều kiện cho học sinh thuộc lòng hơn là hiểu. Học
Phạm Thị Hồng Nhung H – K54
15
Khoa Toán – Tin – ĐHSP HN Khóa luận Tốt nghiệp
sinh giỏi có thể không thỏa mãn khi buộc phải chọn đúng hay sai khi câu hỏi
viết chưa kĩ càng.
Loại 2. Câu trắc nghiệm có nhiều câu trả lời để lựa chọn:
Câu trắc nghiệm có nhiều câu trả lời để lựa chọn được gọi tắt là câu hỏi
nhiều lựa chọn. Đây là loại câu hỏi thông dụng nhất. Loại này có một câu phát
biểu căn bản gọi là câu dẫn và có nhiều câu trả lời để học sinh lựa chọn, trong đó
chỉ có một câu trả lời đúng nhất hay hợp lý nhất còn lại đều là sai, những câu trả
lời sai là câu mồi hay câu nhiễu.
- Ưu điểm của loại câu hỏi nhiều lựa chọn :
• Giáo viên có thể dùng loại câu hỏi này để kiểm tra - đánh giá những
Loại 3. Trắc nghiệm ghép đôi :
Đây là loại hình đặc biệt của loại câu hỏi nhiều lựa chọn, trong đó học
sinh tìm cách ghép các câu trả lời ở trong cột này với câu hỏi ở cột khác sao cho
phù hợp.
- Ưu điểm của trắc nghiệm ghép đôi : câu hỏi ghép đôi dễ viết, dễ dùng,
loại này thích hợp với tuổi học sinh trung học cơ sở hơn. Có thể dùng loại câu
hỏi này để đo các mức trí năng khác nhau. Nó đặc biệt hữu hiệu trong việc đánh
giá khả năng nhận biết các hệ thức hay lập các mối tương quan.
- Nhược điểm của trắc nghiệm ghép đôi : loại câu hỏi trắc nghiệm ghép
đôi không thích hợp cho việc thẩm định các khả năng như sắp đặt và vận dụng
các kiến thức. Muốn soạn loại câu hỏi này để đo mức trí năng cao đòi hỏi nhiều
công phu. Ngoài ra, nếu danh sách mỗi cột dài thì tốn nhiều thời gian cho học
sinh đọc nội dung mỗi cột trước khi ghép đôi.
Loại 4. Câu hỏi trắc nghiệm điền khuyết hay có câu trả lời ngắn :
Đây là câu hỏi TNKQ nhưng có câu trả lời tự do. Học sinh viết câu trả lời
bằng một hay vài từ hoặc một câu ngắn.
- Ưu điểm: học sinh có cơ hội trình bày những câu trả lời khác thường,
phát huy óc sáng kiến. Học sinh không có cơ hội đoán mò mà phải nhớ ra, nghĩ
ra, tìm ra câu trả lời. Dù sao việc chấm điểm cũng nhanh hơn TNTL song rắc rối
hơn những loại câu TNKQ khác. Loại này cũng dễ soạn hơn loại câu hỏi nhiều
lựa chọn.
Phạm Thị Hồng Nhung H – K54
17
Khoa Toán – Tin – ĐHSP HN Khóa luận Tốt nghiệp
- Nhược điểm: khi soạn thảo loại câu hỏi này thường dễ mắc sai lầm là
trích nguyên văn các câu từ trong sách giáo khoa. Phạm vi kiểm tra của loại câu
hỏi này thường chỉ giới hạn vào chi tiết vụn vặt. Việc chấm bài mất nhiều thời
gian và thiếu khách quan hơn loại câu hỏi nhiều lựa chọn.
1.1.8.2.3. Kỹ thuật soạn thảo một bài trắc nghiệm khách quan
a,Xác định mục đích,yêu cầu:
-Xác định trọng số điểm cho từng mức độ nhận thức: để đảm bảo phân
phối điểm sau khi kiểm tra có dạng chuẩn hoặc tương đối chuẩn, việc xác định
trọng số điiểm của 3 mức độ: Nhận biết, Thông hiểu, Vận dụng theo thứ tự đó
nên tuân theo tỉ lệ 3:4:3, tức là mức độ nhận thức trung bình (Thông hiểu) sẽ
được dành nhiều điểm hơn hoặc bằn các mức độ khác.
-Xác định số lượng câu hỏi cho từng ô trong ma trận, căn cứ vào các trọng
số điểm đã xác định ở trên mà định số câu hỏi tương ứng, trong mỗi câu hỏi
dạng trắc ghiệm khách quan phải có trọng số điểm như nhau.
Tuy nhiên, căn cứ vào mục đích cụ thể của kì kiểm tra, tình hìh cụ thể ở
từng địa phương mà có thể xác định các tỉ lệ trên sao cho phù hợp.
d, Thiết kế câu hỏi theo ma trận:
Căn cứ vào ma trận và mục tiêu đã xác định mà thiết kế nội dung, hình
thức, lĩnh vực kiến thức và mức độ nhận thức cần đo qua từng câu hỏi và toàn
bộ câu hỏi.
Tuy nhiên, giá trị của bài trắc nghiệm sẽ phụ thuộc vào chất lượng của các
câu hỏi và không dễ dàng có thể đạt được nếu không làm việc nghiêm túc và
công phu.
Khi soạn câu hỏi trắc nghiệm phải đạt được những điểm cơ bản:
- Nội dung phải thoả đáng: Sau khi hoàn thành các câu hỏi, người soạn
cần phải xem xét cẩn thận từng câu hỏi một. Phải xem xét xem câu hỏi này đã
thực sự đạt yêu cầu, đánh giá được khả năng, mức độ nhận thức, lĩnh hội kiến
thức của học sinh hay không? Phải mạnh dạn loại bỏ những câu hỏi chưa đạt yêu
cầu, chưa hoàn thiện để cho bài trắc ngiệm đạt kết quả tốt nhất.
- Câu hỏi phải sáng sủa: Các câu hỏi cần được phát biểu một cách ngắn
gọn, rõ ràng, rõ nghĩa, đơn giản, dễ hiểu.
Phạm Thị Hồng Nhung H – K54
19
Khoa Toán – Tin – ĐHSP HN Khóa luận Tốt nghiệp
- Soát lại câu hỏi: Điều này là cần thiết, nhất là khi soạn thảo câu hỏi trắc
nghiệm. Người soạn có thể tự soát lại, nhờ người khác soát lại giúp, những
năng học tập của học sinh một cách hữu hiệu hơn.
- Phương pháp phân tích câu hỏi: Trong phương pháp phân tích câu hỏi
của một bài kiểm tra TNKQ thành quả học tập, chúng ta thường so sánh câu trả
lời của học sinh ở mỗi câu hỏi với điểm số chung của toàn bài kiểm tra, với sự
Phạm Thị Hồng Nhung H – K54
20
Khoa Toán – Tin – ĐHSP HN Khóa luận Tốt nghiệp
mong muốn có nhiều học sinh ở nhóm điểm cao và ít học sinh ở nhóm điểm
thấp trả lời đúng một câu hỏi.
Việc phân tích thống kê nhằm xác định các chỉ số: độ khó, độ phân biệt
của một câu hỏi. Để xác định thống kê độ khó, độ phân biệt người ta tiến hành
như sau: chia mẫu học sinh làm 3 nhóm làm bài kiểm tra:
Nhóm điểm cao : Từ 25% - 27% số học sinh đạt điểm cao nhất.
Nhóm điểm thấp : Từ 25% - 27% số học sinh đạt điểm thấp nhất.
Nhóm điểm trung bình : Từ 46% - 50% số học sinh còn lại.
Tất nhiên việc chia nhóm này chỉ là tương đối.
• Độ khó của câu hỏi được tính bằng công thức:
%)(
T
D
K
=
(0 ≤ K ≤1 hay 0% ≤ K ≤ 100% )
Trong đó : K là độ khó.
D là tổng số học sinh trả lời đúng.
T là tổng số học sinh tham gia làm bài.
K càng lớn thì câu hỏi càng dễ và được phân chia như sau :
0 ≤ K ≤ 0,2 là câu hỏi rất khó.
0,2 ≤ K ≤ 0,4 là câu hỏi khó.
0,4 ≤ K ≤ 0,6 là câu hỏi trung bình.
0,3.
Câu mồi nhử có độ phân biệt âm.
- Độ giá trị:
• Giá trị nội dung bài TNKQ : một bài TNKQ được coi là có giá trị nội
dung khi các câu hỏi trong bài là một mẫu tiêu biểu của tổng thể các kiến thức,
kĩ năng, mục tiêu dạy học. Mức độ giái trị nội dung được ước lượng bằng cách
so sánh nội dung của bài TNKQ với nội dung của chương trình học. Điều này
được thể hiện trong quá trình xác định mục tiêu kiểm tra và bảng đặc trưng để
phân bố câu hỏi, lựa chọn câu hỏi.
• Giá trị tiên đoán: Trong một số lĩnh vực như hướng nghiệp, tuyển
chọn từ điểm số của bài TNKQ của từng người, chúng ta có thể tiên đoán mức
độ thành công trong tương lai của người đó. Muốn tính giá trị tiên đoán chúng ta
cần phải làm 2 bài trắc nghiệm là: một bài trắc nghiệm dự báo để có được những
số đo về khả năng, tính chất của nhóm đối tượng khảo sát, một bài trắc nghiệm
đối chứng để có biến số cần tiên đoán. Hệ số tương quan giữa hai bài trắc
nghiệm đó là giá trị tiên đoán.
- Độ tin cậy
Phạm Thị Hồng Nhung H – K54
22
Khoa Toán – Tin – ĐHSP HN Khóa luận Tốt nghiệp
Độ tin cậy của bài TNKQ là số đo sự sai khác giữa điểm số bài TNKQ và
điểm số thực của học sinh. Tính chất tin cậy của bài TNKQ cho chúng ta biết
mức độ chính xác khi thực hiện phép đo với dụng cụ đo đã dùng. Trong thực tế
cho thấy có nhiều phương pháp làm tăng độ tin cậy nhưng lại giảm độ giá trị.
Một bài TNKQ có thể chấp nhận được nếu nó thỏa đáng về nội dung và
có độ tin cậy 0,6 ≤ K ≤ 0,1.
Tóm lại: Một bài TNKQ hay là:
- Bài TNKQ đó phải có giá trị tức là nó đo được những cái cần đo, định
đo, muốn đo.
- Bài TNKQ phải có độ tin cậy, một bài TNKQ hay nhưng có độ tin cậy
đảm bảo không bị lộ đề.
• Kiểm tra bằng phương pháp TNKQ có độ may rủi ít hơn TNTL vì
không có những trường hợp trúng tủ, từ đó loại bỏ dần thói quen
đoán mò, học lệch, học tủ, chủ quan, sử dụng tài tiệu của học sinh,
nó đang là mối lo ngại của nhiều giáo viên hiện nay.
• Điểm của bài kiểm tra TNKQ hầu như thật sự là điểm do học sinh tự
làm bài, vì học sinh phải làm được từ 2 đến 3 câu trở lên thì mới được
một điểm trong thang điểm 10. Do vậy xác suất quay cóp, đoán mò để
được điểm rất thấp.
- Nhược điểm :
• TNKQ dùng để đánh giá các mức trí năng ở mức biết, hiểu thì thật
sự có ưu điểm còn ở mức phân tích, tổng hợp, đánh giá và thực
nghiệm thì bị hạn chế, ít hiệu quả vì nó không cho phép kiểm tra
khả năng sáng tạo, chủ động, khả năng tổng hợp kiến thức cũng
như phương pháp tư duy suy luận, giải thích, chứng minh của học
sinh.Vì vậy đối với cấp học càng cao thì khả năng áp dụng của hình
thức TNKQ càng bị hạn chế.
• Phương pháp TNKQ chỉ cho biết kết quả suy nghĩ của học sinh mà
không cho biết quá trình tư duy, thái độ của học sinh đối với nội
dung được kiểm tra do đó không đảm bảo được chức năng phát
hiện lệch lạc của kiểm tra để từ đó có sự điều chỉnh việc dạy và
việc học.
Phạm Thị Hồng Nhung H – K54
24
Khoa Toán – Tin – ĐHSP HN Khóa luận Tốt nghiệp
• Do sẵn có phương án trả lời câu hỏi, nên TNKQ khó đánh giá được
khả năng quan sát, phán đoán tinh vi, khả năng giải quyết vấn đề
khéo léo, khả năng tổ chức, sắp xếp, diễn đạt ý tưởng, khả năng suy
luận, óc tư duy độc lập, sáng tạo và sự phát triển ngôn ngữ chuyên
môn của HS.