SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ
TRƯỜNG THPT LÊ LỢI
-----------***----------
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
MỘT SỐ KINH NGHIỆM VẬN DỤNG KĨ THUẬT DẠY
HỌC TÍCH CỰC ĐỂ KHAI THÁC TÍNH THỜI SỰ VÀ
TRUYỀN TẢI Ý NGHĨA GIÁO DỤC KHI DẠY HỌC CÁC
TIẾT VĂN BẢN NHẬT DỤNG TRONG CHƯƠNG TRÌNH
NGỮ VĂN TRUNG HỌC PHỔ THÔNG - LỚP 11 VÀ LỚP 12.
Người thực hiện: Hà Thị Tình
Chức vụ: Tổ trưởng tổ Ngữ văn
SKKN thuộc lĩnh vực(môn): Ngữ văn
THANH HOÁ NĂM 2013
PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Hiện nay, việc đổi mới chương trình sách giáo khoa gắn liền với đổi mới
phương pháp, kỹ thuật dạy học bên cạnh những thuận lợi , nhiều cái được cũng
cò không ít khó khăn, lúng túng , bỡ ngỡ, khi dạy một số tác phẩm thuộc thể
loại văn bản mới như văn bản nhật dụng ở chương trình trung học phổ thông. Để
tháo gỡ khó khăn đó, trong từng tiết dạy mỗi giáo viên thường phải tìm tòi, cùng
với sự vận dụng sáng tạo kiến thức tiếp thu từ những đợt chuyên đề của Bộ, của
Sở Giáo dục nhằm nâng cao hiệu quả giờ dạy.
Trong chương trình Ngữ văn ở trường Trung học phổ thông, hướng dẫn đọc hiểu các tiết văn bản nhật dụng là phân môn khó bởi đặc trưng của những tiết học
này là yêu cầu học sinh không chỉ nắm được nội dung kiến thức ở văn bản cũng
như nét đặc sắc về nghệ thuật mà còn phải khai thác được tính thời sự, tìm được
đến việc hiểu vấn đề xã hội trong nước và quốc tế về mọi mặt, đa phương diện.
Từ đó, giúp học sinh hình thành nhân cách và sống có trách nhiệm với bản thân,
xã hội hơn.
II/ MỤC ĐÍCH CHỌN ĐỀ TÀI:
Trao đổi kinh nghiệm với đồng nghiệp trong việc dạy học giờ dạy Ngữ văn ở
cấp Trung học phổ thông. Đặc biệt là đọc hiểu các Văn bản nhật dụng có tính
thời sự và tiềm ẩn tầng ý nghĩa nhân văn. Giúp giờ văn bớt nhàm chán, gây
hứng thú cho học sinh; giúp các em có thêm vốn sống góp phần vào tiến trình
đổi mới phương pháp dạy học giờ Ngữ văn.
Đọc - hiểu một tác phẩm văn học theo thể loại thông thường (Truyện, thơ...)đã là
khó đối với học sinh Trung học phổ thông bởi có đặc thù riêng: học sinh tiếp cận
kiến thức bằng con đường “ Học trong sách vở” biết và cảm nhận cuộc sống từ tác
phẩm văn học . Việc đọc hiểu một văn bản nhật dụng lại càng khó hơn. Là giáo viên
trực tiếp giảng dạy môn Ngữ văn lớp 11, 12, tôi đã thực nghiệm đề tài: “Một
vài kinh nghiệm vận dụng phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực để khai
thác tính thời sự và truyền tải ý nghĩa giáo dục khi dạy học các tiết văn bản
nhật dụng trong chương trình Ngữ văn THPT - lớp 11 và lớp 12” và rất có ý
nghĩa.
1. Ý nghĩa lí luận:
Vận dụng phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực để khai thác tính
thời sự và truyền tải ý nghĩa giáo dục khi dạy học các tiết văn bản nhật
dụng trong chương trình Ngữ văn cho học sinh Trung học Phổ thông là một
bước hiện thực hóa quan điểm đổi mới chương trình giáo dục phổ thông, đổi mới
chương trình sách giáo khoa, đổi mới phương pháp học tập theo tính tự chủ, lấy học
sinh là trung tâm, thầy là người thiết kế, trò là người thi công,....Đồng thời đảm bảo
mục tiêu chung của giáo dục “Đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn
diện”.Biết nhận thức, biết trình bày quan điểm, đánh giá về vấn đề đời sống, tư
tưởng, đạo lý xã hội đúng qui trình, đúng phương pháp.
2. Ý nghĩa thực tiễn:
Với đối tượng học sinh Trung học phổ thông hiện nay, kiến thức trong các em phần
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, phù hợp với thực tiễn và truyền thống Việt Nam,
tiếp cận trình độ giáo dục phổ thông ở các nước phát triển trong khu vực và trên thế
giới”. Văn bản đồng thời yêu cầu: “Việc đổi mới chương trình giáo dục phổ thông
phải quán triệt về mục tiêu, yêu cầu về nội dung phương pháp giáo dục của các bậc
học, cấp học quy định trong giáo dục, khắc phục những mặt hạn chế của chương
trình, sách giáo khoa, tăng cường tính thực tiễn, kĩ năng thực hành, năng lực tự học,
coi trọng kiến thức khoa học xã hội và nhân văn, bổ sung những thành tựu khoa học
và công nghệ hiện đại phù hợp với khả năng tiếp thu của học sinh.....”.
Cùng với việc đổi mới chương trình giáo dục phổ thông là đổi mới sách giáo
khoa phổ thông phù hợp với mục tiêu giáo dục quy định trong luật giáo dục.
Sách giáo khoa Ngữ văn THPT đã quan tâm đúng mức đến việc “dạy chữ” và
“dạy người”, dành thời lượng đáng kể cho các tiết văn bản nhật dụng.
Việc đổi mới chương trình sách giáo khoa đã đặt trọng tâm vào việc đổi mới
phương pháp dạy học. Đổi mới phương pháp dạy và học đã được xác định trong
Nghị quyết trung ương 4 khóa VII (Tháng 01 năm 1993), Nghị quyết Trung
ương 2 khóa VIII (Tháng 12 năm 1996) được thể chế hóa trong luật giáo dục
(2005) được cụ thể hóa các chỉ thị của Bộ Giáo dục và Đào tạo đặc biệt là chỉ thị
số 14 (Tháng 4 năm 1999). Luật giáo dục, điều 28.2 đã ghi: “Phương pháp giáo
dục phổ thông phải phát huy tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh,
phù hợp với đặc điểm của từng cấp học, môn học, bồi dưỡng phương pháp tự
học, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm,
đem lại niềm vui, hứng thú cho học sinh”.
Quán triệt thực hiện nghị quyết 37/2004/ QH11 ngày 03 tháng 12 năm
2004 của Quốc hội về giáo dục “Tiếp tục cải tiến công tác thi cử theo hướng
gọn nhẹ, hiệu quả, thiết thực”. Ngành giáo dục và đào tạo chủ trương: Nâng cao
chất lượng thi cử, kiểm tra đánh giá để đảm bảo đây là khâu quan trọng tác
3
động tích cực mạnh mẽ trong quá trình dạy và học, phải đồng thời vừa đổi mới
Ví dụ : khi đọc - hiểu văn bản: Về luân lí xã hội ở nước ta
( Trích Đạo đức và luân lí đông tây-Phan Châu Trinh)
Dựa theo Hướng dẫn thực hiện chuẩn kiến thức kĩ năng môn Ngữ văn lớp 11Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành tháng 01 năm 2010 giáo viên soạn bài giảng
thì chỉ chuyển tải được các vấn đề:(Tóm tắt nội dung bài dạy như sau:)
I. Tìm hiểu chung:
1. Tác giả.
2. Tác phẩm.
II.Đọc - hiểu văn bản
1. Nội dung:
4
Đoạn 1: Hiện trạng của vấn đề- luân lí xã hội của nước ta.
Đoạn 2:Những biểu hiện cụ thể...
Đoạn 3:Nêu giải pháp:
2. Nghệ thuật:
- Nghệ thuật viểt văn chính luận
2. Học sinh chưa học được ở bài luận những thông tin có tính thời sự của
văn bản mà chỉ:
- Học sinh chủ yếu hiểu nội dung văn bản viết gì, bàn về vấn đề gì? Hiểu
xuôi chiều vấn đề văn bản.
- Học sinh thường sa vào liệt kê luận điểm của văn bản nhật dụng
3. Học sinh chưa biết bóc tách vấn đề , tích hợp kiến thức để tìm ra những
giá trị mà ngôn ngữ văn bản tiềm ẩn.
Tổng hợp kết quả kiểm chứng bằng bài viết 10 phút sau mỗi tiết dạy học văn bản nhật dụng bằng câu hỏi đối với các lớp không thẩm định như sau:
? Theo em tính thời sự có ở văn bản nhật dụng này là gì? Biểu hiện rõ nét ở
luận điểm nào?Giá tri ( ý nghĩa) của văn bản với đương thời và hiện nay?
+ Lớp 11( Tiết PPCT:101,102-Về luân lí xã hội ở nước ta)
+ Lớp 12( Tiết PPCT:16,17-Thông điệp nhân ngày thế giới phòng chống AIDS,
01/12/2003) như sau:
Năm học 2011 - 2012:
Lớp
TSHS
11A1
11A3
45
48
Lớp
TSHS
12A6
12A8
49
45
Giỏi
0
0
Khá
3= 6,7%
5= 11,2%
Giỏi
Điểm
TB
Yếu
Kém
5
11A6
11A7
49
45
0
0
4= 12,2%
3= 6,7%
26= 49%
12= 36,6% 5=12,3%
22= 48,9% 18= 40% 2=4,4%
Điểm
Lớp
TSHS
Giỏi
Khá
cuộc sống hoặc cao hơn là sau đó các em có thể tự tạo (viết) văn bản nhật dụng.
Nên giải pháp đầu tiên là tôi hướng dẫn các em phải thực hiện yêu cầu sau một
cách nghiêm ngặt:
1.Thứ nhất, hướng dẫn học sinh nhớ lại lý thuyết, nắm được khái niệm
ngay từ khâu hướng dẫn chuẩn bị bài: Văn bản và văn bản nhật dụng:
1.1. Văn bản:
Theo từ điển Tiếng Việt văn bản được hiểu: “Văn bản là chuỗi kí hiệu
ngôn ngữ hay nói chung những kí hiệu thuộc một hệ thống nào đó, làm thành
một chỉnh thể mang ý nghĩa trọn vẹn.”[10; 1136].
Như vậy đặc trưng đáng chú ý của văn bản đó chính là tính hoàn chỉnh về
hình thức và trọn vẹn về nội dung.
1.2 Văn bản nhật dụng:
“Nhật dụng có nghĩa là gì?” Theo từ điển tiếng Việt “nhật dụng” có nghĩa
là “dùng đến hàng ngày”. Trong các tài liệu ở nước hiện nay chưa chính thức
đưa ra khái niệm về văn bản nhật dụng. Khái niệm về văn bản nhật dụng không
phải khái niệm thuộc về thể loại , cũng không chỉ kiểu văn bản. Văn bản nhật
6
dụng chỉ đề cập đến chức năng , đề tài cũng như tính cập nhật của nội dung văn
bản.
Nội dung được đề cập tới trong văn bản nhật dụng là những đề tài gần gũi
với cuộc sống,vì vậy nó có tính thời sự, hàm chứa giá trị văn học và mang ý
nghĩa nhân loại. Những đề tài thường thấy trong văn bản nhât dụng: văn hóa, di
tích lịch sử, danh lam thắng cảnh , thiên nhiên và con người, vai trò của phụ nữ,
quyền trẻ em, dân số, bài trừ tệ nạn ma túy, viết về các danh nhân thế giới và
Việt Nam, về vấn đề quyền sống của con người, bảo vệ hòa bình, chống chiến
tranh. Nội dung trong văn bản nhật dụng được người viết trình bày dưới nhiều
hình thức như: nhận xét, lí giải, đánh giá những quy luật của tự nhiên và con
1.3 Tính thời sự trong văn bản nhật dụng là tính cập nhật kịp thời, đáp ứng
yêu cầu, đòi hỏi của cuộc sống hằng ngày, cuộc sống hiện đại gắn với những
vấn đề cơ bản của cộng đồng xã hội.
2. Thứ hai, định hướng kĩ năng đọc – hiểu văn văn bản nhật dụng:
Như chúng ta vừa tìm hiểu ở phần trên đọc – hiểu văn bản nhật dụng tức là giải
quyết các vấn đề tương quan trong cấu trúc văn bản. Văn bản nhật dụng mang
đầy đủ đặc trưng của văn bản nói chung ở các phương diện: cấu trúc, nội dung
và ý nghĩa vì vậy hoạt động đọc hiểu nên tuân theo quy trình đọc hiểu văn bản
nói chung. Đọc hiểu văn bản nhật dụng cũng phải quan tâm khám phá cấu trúc
văn bản, nội dung văn bản, ý nghĩa văn bản.
Dựa vào đặc trưng riêng của văn bản nhật dụng khi dạy học sinh tiêp cận
văn bản nhật dụng phải phù hợp với đặc trưng riêng của văn bản này, trước tiên
phải chú trọng đến yêu cầu đọc hiểu cấu trúc của văn bản.
Như vậy mục đích của một bài dạy văn bản nhật dụng là giúp học sinh đọc
và hiểu văn bản đó. Có nghĩa là giúp học sinh nắm bắt thông tin và hiểu thông tin
của văn bản. Từ đó tác động đến các em về mặt nhận thức, tình cảm, ý thức, bổ
trợ kiến thức về ngôn ngữ, đời sống. Qua đó giúp các em hiểu được quy trình
cũng như nguyên tắc tạo lập văn bản, có kỹ năng tạo lập một văn bản nhật dụng.
Văn bản đó phải có mục đích cụ thể , sử dụng phương tiện ngôn ngữ phù hợp với
nội dung, đối tượng để tạo nên khả năng tác động trực tiếp đến người đọc, người
nghe. Văn bản đó tuân thủ những nguyên tắc tạo lập văn bản nói chung, trong đó
chú ý đến phong cách chức năng của ngôn ngữ.
Ví dụ: Khi đọc - hiểu văn bản: Thông điệp nhân ngày thế giới phòng
chống AIDS, 1-12-2003
Đối với mọi văn bản văn học việc nắm bắt thông tin, sự kiện của văn bản
chính là tìm hiểu thông tin thẩm mĩ, thông tin về những vấn đề có thật trong
cuộc sống. Mục đích của văn bản nhật dụng nhằm cung cấp nội dung thông tin
sự kiện.Từ những nội dung đó, hướng người tiếp nhận vào hoạt động thực tiễn.
hình thức, trọn vẹn về nội dung. Để đảm bảo được những yêu cầu đó văn bản
nhật dụng phải có bố cục rõ ràng. Để tìm ra nội dung ý nghĩa của văn bản nội
dung ý nghĩa của văn bản nhật dụng giáo viên phải hướng dẫn học sinh tìm ra
cấu trúc của văn bản dựa trên bố cục, nội dung của văn bản.
Bố cục của văn bản đó được chia thành mấy phần, mấy đoạn, nội dung chính
của từng đoạn, trọng tâm của văn bản được thể hiện trong nội dung nào, lời văn
được tác giả sử dụng...Trên cơ sở đó bước đầu tìm hiểu cấu trúc và nội dung văn
bản, người đọc bắt đầu tìm hiểu nội dung văn bản theo bố cục đã xác định. Người
đọc tìm ra những thủ pháp nghệ thuật được tác giả sử dụng trong đó, tác dụng của
nó trong việc thể hiện nội dung văn bản.
Mỗi văn bản có sự phân chia bố cục khác nhau : văn bản có thể được phân
chia theo không gian, thời gian, tuyến nhân vật, sự kiện… Đối với văn bản kí
văn bản thường được phân chia theo dòng cảm xúc của nhân vật chính trong tác
phẩm.
Ví dụ: * Văn bản: Thông điệp ngày thế giới phòng chống HIV-AIDS,
1-12-2003. Có bố cục rất rõ ràng: theo trật tự thời gian:
+ Đặt vấn đề: Các quốc gia nhất trí thông qua: “Tuyên bố về Cam kết
phòng chống HIV/AIDS”.
+ Thực trạng vấn đề:(1) Các nguồn lực được tăng lên phục vụ cho phòng
chống HIV/AIDS; (2) Đại dịch HIV/AIDS vẫn đang hoành hành dữ dội trên
toàn cầu; (3) Những mục tiêu đặt ra trong “Tuyên bố về Cam kết phòng chống
HIV/AIDS” không được hoàn thành.
+ Nhiệm vụ cấp bách đặt ra: (1) Đặt vấn đề AIDS lên hàng đầu trong
chương trình nghị sự và hành động;(2) Đánh đổ thành lũy của sự im lặng, công
khai lên tiếng về HIV/AIDS; (3) Xóa bỏ sự kì thị và phân biệt đối xử.
+ Kết luận: Cuộc chiến chống lại HIV/AIDS bắt đầu từ chúng ta.
*Trong văn bản : Nguyễn Đình Chiểu ngôi sao sáng trong nền văn nghệ
của dân tộc nội dung của bài cũng được trình bày theo mạch của sự kiện:
9
Giáo viên đưa câu hỏi để học sinh tìm hiểu nội dung? nghệ thuật? tính
thời sự? của văn bản theo một số phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực sao
cho linh hoạt, hiệu quả đối với từng bài?
Yêu cầu chung của việc đặt câu hỏi: đảm bảo được sáu yêu cầu cơ bản sau:
Một là câu hỏi phải đạt được mục đích kích thích sự cảm thụ của người đọc với
tác phẩm. Hai là câu hỏi phải xác định được cảm xúc và rung động thẩm mĩ có
tính chất trực giác của người đọc. Ba là việc đưa ra câu hỏi phải xác định được
bức tranh nghệ thuật toàn cảnh có diện và có điểm để giờ học văn có trọng tâm,
những điểm sáng thẩm mĩ phải được khai thác sâu sắc hơn, khắc phục được giờ
văn bàng bạc nhạt nhẽo. Bốn là câu hỏi phải xác định sự hiểu biết của người đọc
từ mức độ từ dễ đến khó. Năm là câu hỏi phải giúp người đọc phát hiện hết chi
tiết nghệ thuật có giá trị và toàn bộ cấu trúc tác phẩm. Sáu là mã hóa lượng
thông tin một cách đơn giản phù hợp sát thực tế thể loại, nội dung thể loại, nội
10
dung cụ thể và tâm lí lứa tuổi. Đây là sáu nguyên tắc cơ bản trong việc xây dựng
hệ thống câu hỏi trong dạy học văn bản nhật dụng.
5. Thứ năm, hướng dẫn học sinh khai thác tính thời sự, tầng ý nghĩa
văn bản:
Ý nghĩa của văn bản nhật dụng thực chất là công việc thâu tóm nội dung
văn bản, cảm nhận những điều mà tác giả gửi gắm trong văn bản, hiểu được giá
trị văn bản đối với thời đại đương thời, mọi thời đại và bản thân. Đây là phần
giành nhiều thời gian cho học và tự bộc lộ suy nghĩ của bản thân về những gì
vừa tiếp thu được từ đó thâu tóm và ghi nhớ nội dung văn bản.
Nội dung văn bản đề cập luôn là những vấn đề mang tính chất thời sự và
có ý nghĩa cho tương lai. Ở đây luôn nhấn mạnh ý nghĩa đích thực của văn bản
nhật dụng trong việc phát triển xã hội trong cả hiện tại và tương lai. Vì vậy từ ý
nghĩa văn bản người đọc sẽ hiểu hơn về những vấn đề cấp thiết trong xã hội và
- Đọc - hiểu văn bản chính luận.
- Rèn kĩ bài văn nghị luận cho học sinh lớp 11.
3. Thái độ: Thái độ chân trọng cái tâm, cái tài của nhà văn, nhận thức về tính
thời sự và giá trị, ý nghĩa của bài luận với đương thời và hiện nay.
B. PHƯƠNG TIỆN THỰC HIỆN:
- Giáo viên: Thiết kế bài giảng bằng giáo án điện tử, sách giáo khoa, máy tính,
máy chiếu.
- Học sinh: xem lại khái niệm văn bản nhật dụng đã học ở cấp Trung học cơ sở.
C. PHƯƠNG PHÁP VÀ CÁCH THỨC THỰC HIỆN:
- Trao đổi, thảo luận theo nhóm, rút ra những kết luận bằng sơ đồ tư duy.
D. TIẾN TRÌNH DẠY HỌC:
1. Ổn định
2. Kiểm tra: Việc chuẩn bị bài của học sinh.(Kiểm tra việc chuẩn bị bài của
học sinh nhớ lại lý thuyết, nắm được khái niệm :Văn bản và văn bản nhật
dụng, tính thời sự của văn bản nhật dụng...)
GV lưu ý H/S: Văn bản nhật dụng mới được đưa vào chương trình học phổ
thông. Văn bản nhật dụng không phải là khái niệm thể loại, không chỉ kiểu văn
bản mà chỉ đề cập đến chức năng, đề tài và tính cập nhật của nội dung văn
bản mà thôi. Đề tài của văn bản nhật dụng thường đề cập đến những lĩnh vực:
thiên nhiên, môi trường, văn hóa, giáo dục, chính trị, xã hội, đạo đức, nếp
sống…Văn bản nhật dụng vừa có tính cập nhật, vừa có tính lâu dài, tính thời sự.
3.Bài mới:
Hoạt động của
Nội dung kiến thức cần đạt
thầy và trò
Hoạt động 1:Cho H/S
I. Tiểu dẫn:
Tóm tắt những nét cơ 1. Tóm tắt những nét cơ bản về tác giả, thời đại ông
- Tên và số thứ tự đoạn trích do người biên soạn đặt.
3. Quan điểm văn chương:
Hoạt động 2:
GV. Cho học sinh đọc
văn bản - phần trích
(SGK)).
- Giáo viên đặt câu hỏi:
? Cho biết cách chia bố
cục ?
Em hãy nêu nội dung
chính của từng phần ?.
Nhận xét về sự lô - gíc
của bố cục
Hoạt động 3: Vấn đề
đưa ra nghị luận là gì?
Em hiểu gì về khái niệm
luân lí xã hội ? Trong
phần 1 đoạn trích cụm
từ này được nhắc đến
mấy lần? Có tác dụng
gì?
- Dựa vào sự chuẩn bị
bài, các em trình bày
cách hiểu khái niệm
bàng sơ đồ tư duy
(GV cho học sinh đưa
ra ý kiến cá nhân( theo
kĩ thuật khăn phủ bàn)
Ý thức tương trợ lẫn nhau
giữa các cá nhân trong xã hội
13
sau đó tổng hợp lại theo
sơ đồ tư duy )
“cái nghĩa vụ của
mỗi người trong
nước”- tức là ý
thức công dân mà
mỗi người phải
có.
“cái nghĩa vụ mà
loài người ăn ở với
loài người”- tinh
thần hợp tác của
con người vượt lên
trên các ranh giới
dân tộc và lãnh thổ
Đó là ý thức sẵn sàng làm việc chung, sẵn
sàng giúp đỡ nhau và tôn trọng quyền lợi của
người khác.
2.2 Tìm hiểu phần1: Hiện trạng chung về luân lý xã
hội ở nước ta.
1. Xã hội luân lí thật trong nước ta tuyệt nhiên
nghĩa làm gì”như thế
tâm đến từng gia đình, quốc gia mà còn đến cả thế
nào?
giới. Cũng theo Phan Châu Trinh, trong xã hội Việt
Hoạt động 4
Hỏi?
Hiện trạng luân lí xã hội
trong nước (lúc bấy giờ)
như thế nào? Tác giả
dùng từ ngữ và biện
pháp nghệ thuật nào để
trình bày vấn đề ? Hiệu
quả?
14
Nam thời đó, cả luân lí gia đình lẫn luân lí quốc gia
( mà phần cốt lõi là ý thức nghĩa vụ đối với quốc gia)
- Tại sao sau câu vào đề - Trong nước: tuyệt nhiên không ai biết đến… đều đã
tác giả lại có câu khẳng “ mất từ lâu rồi”…=> Tính cấp thiết của vấn đề bàn
định?
luận
- GV. Cho học sinh đọc
- Bàn về luân lí xã hội trong nước theo quan niệm
đoạn văn 2.
của đạo Nho.
? Đoạn văn 2 này tác
+Trích câu ở sách Nho:
giả bàn về vấn đề gì?
này?
thế lực thù địch âm mưu chống phá lại nhà nước ta
bằng các phương thức khác nhau như “ diễn biến hoà
bình”. Vậy chúng ta suy nghĩ và hành động như thế
nào cho đúng luân lí xã hội? chung tay để chống
khủng bố, chung tay hợp tác cùng phát triển ở mọi
mặt.
Những vấn đề mà Phan Châu Trinh đề cập trong
tác phẩm ở đầu thế kỉ XX nhưng đến nay vẫn có ý
nghĩa thời sự sâu sắc trong công cuộc đổi mới, xây
dựng, và bảo vệ trọn vẹn đất nước Việt Nam thế kỉ
XXI và sau này.
15
Dặn dò sau tiết học:
Về nhà tìm hiểu 2 phần còn lại tiết sau sẽ học tiếp
** Đối với chương trình lớp 12, vì dung lượng bài viết không cho phép nên Tôi
chỉ định hướng cách khai thác tính thời sự và ý nghĩa giáo dục trong văn bản
“Thông điệp nhân ngày thế giới phòng chống AIDS, ngày 1-12-2003” của CôPhi An-nan.
Đây là thông điệp của tổng thư kí liên hợp quốc Cô-phi An-nan, thuộc nhiệm
kì trước (nay là ông Ban-ki-moon). Tìm hiểu văn bản này chúng ta không chỉ
biết được tình hình HIV/AIDS, con đường lây lan và hậu quả của nó. Mà từ đó
để thấy được tầm quan trọng của bức thông điệp và ý thức của mỗi cá nhân
trước vấn đề đó. Chính vì vậy, học văn bản nhật dụng ngoài việc mở rộng,
hiểu biết toàn diện còn tạo điều kiện tích cực để hòa nhập cuộc sống cộng
đồng xã hội.
Từ những con số mà Cô-phi An-nan tổng kết trong thông điệp của mình ( mỗi
phút có khoảng 10 người bị nhiễm HIV, tốc độ lây lan nhanh chóng, đáng báo
khi tìm hiểu văn bản này, người giáo viên cần cung cấp thêm về kiến thức
HIV/AIDS cho các em. Bên cạnh đó, phải hướng các em đến ý thức trách
nhiệm với bản thân và xã hội, để có lối sống lành mạnh cho bản thân và an
toàn cho xã hội. Các em phải là những người tiên phong trong phong trào
phòng chống AIDS, và là những người phá bỏ bức tường rào ngăn cách giữa
“ta” và “họ”.
IV. KẾT QUẢ KIỂM NGHIỆM
Qua việc vận dụng phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực để khai thác tính
thời sự và truyền tải ý nghĩa giáo dục khi dạy học các tiết văn bản nhật dụng
trong chương trình Ngữ văn THPT - lớp 11 và lớp 12 Tôi nhận thấy, học sinh đã
có tiến bộ, đạt được kết quả cao hơn, giờ học đỡ khô khan, nhám chán, mà còn bổ ích.,
làm tốt kiếu bài văn nghị luận xã hội (3,0 điểm) các em biết cách dẫn dắt vấn đề nghị
luận như ở phần thứ nhất của văn bản, biết bày tỏ quan điểm mà không rụt rè, Sau đây
là bảng thống kê điểm nghị luận xã hội trong bài kiểm tra học kì II
Tổng hợp kết quả bài kiểm tra 10 phút thẩm định chất lượng và kiểm tra
học ki II (câu nghị luận xã hội ) các em đạt điểm cao dần ở những lớp thực
nghiệm( lớp 11, 12) tôi dạy qua 3 năm học: 2010 - 2011,2011 - 2012, 2012 2013 như sau:
Năm học 2010- 2011
Điểm
TS
Lớp
HS
Giỏi
Khá
TB
Yếu
Kém
11A3 45
03 = 6,6%
20 = 44,4% 17 = 37,8% 02= 4,4% 0 = 0%
Giỏi
12A1 45
03 = 6,6%
12A2 49
06 = 12,2%
Khá
20 = 44,5%
23 = 46,9%
Điểm
TB
18 =39,8%
18 = 36,8%
Điểm
TB
18 =39,8%
18 = 36,8%
Năm học 2012- 2013
TS
Lớp
HS
Giỏi
Khá
11A6 47
06= 14,31% 20 = 48,5%
Điểm
TB
HS
12A4 47
12A9 42
07 = 17,6%
13 = 29,5%
Giỏi
Khá
06= 14,31% 20 = 48,5%
08 = 17,6% 13 = 29,5%
21 = 56,9%
Điểm
TB
17 =41,5%
21 = 56,9%
0 = 0%
0= 0%
Yếu
01= 2,43%
0 = 0%
Kém
0= 0%
0= 0%
hứng thú đối với phần dạy học các tiết văn bản nhật dụng trong chương trình
Ngữ văn THPT ngoài vận dụng linh hoạt phương pháp và kỹ thuật dạy học tích
cực một cách gọn nhẹ, khoa thì một việc không kém phần quan trọng là giáo viên
cần tìm và khai thác tính thời sự và truyền tải ý nghĩa giáo dục ở những bài
học , tiết học văn bản nhật dụng đảm bảo tính vừa sức, nhưng vẫn kích thích sự
sáng tạo, tạo cơ hội cho học sinh được phát biểu những suy nghĩ riêng, được nói
18
bằng tiếng nói của riêng mình. Có thế thì việc học văn, làm văn nghị luận trong nhà
trường phổ thông mới có kết quả.
Tôi tin tưởng rằng với nhiệt tình, tâm huyết của giáo viên và sự cố gắng, khả
năng sáng tạo của học sinh thì chất lượng môn Ngữ văn sẽ ngày càng nâng lên.
Trên đây là một số kinh nghiệm của cá nhân tôi trong quá trình giảng dạy.
Tôi thiết nghĩ, đề tài này có thể áp dụng đối với các tiết dạy văn bản nhật dụng
trong chương trình Ngữ văn THPT cho học sinh trung học phổ thông Lê Lợi nói
riêng và tất cả các trường Trung học phổ thông nói chung.
Kính mong sự góp ý chân thành của các đồng chí, đồng nghiệp!
XÁC NHẬN CỦA
THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ
Thanh Hoá, ngày 17 tháng 5 năm 2013
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của mình viết,
không sao chép nội dung của người khác!
Người viết
Hà Thị Tình
.
19