Vận dụng phương pháp hoạt động nhóm để dạy học thơ hai cư trong chương trình ngữ văn 10 nâng cao ở THPT - Pdf 33

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM

BẾ LAN DUNG

VẬN DỤNG PHƢƠNG PHÁP HOẠT ĐỘNG NHÓM
ĐỂ DẠY HỌC THƠ HAI-CƢ TRONG CHƢƠNG TRÌNH
NGỮ VĂN 10 NÂNG CAO Ở THPT

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

THÁI NGUYÊN - 2015
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN

http://www.lrc-tnu.edu.vn/


ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM

BẾ LAN DUNG

VẬN DỤNG PHƢƠNG PHÁP HOẠT ĐỘNG NHÓM
ĐỂ DẠY HỌC THƠ HAI-CƢ TRONG CHƢƠNG TRÌNH
NGỮ VĂN 10 NÂNG CAO Ở THPT
Chuyên ngành: Lý luận và phƣơng pháp dạy học Văn - Tiếng Việt
Mã số: 60.14.01.11

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: GS. TS. Nguyễn Thanh Hùng


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN

i

http://www.lrc-tnu.edu.vn/


LỜI CẢM ƠN
Để luận văn hoàn thành và được phép bảo vệ, tôi đã nhận được sự quan
tâm, giúp đỡ của nhiều cá nhân và đơn vị. Nhân dịp này, tôi xin bày tỏ lòng biết
ơn chân thành, sâu sắc đến:
- Giảng viên hướng dẫn GS.TS Nguyễn Thanh Hùng - người đã dành
nhiều thời gian quý báu để hướng dẫn, góp ý, chia sẻ giúp tôi có định hướng
đúng trong suốt thời gian thực hiện luận văn.
- Thầy, cô phản biện - những người đã góp ý chân thành, thẳng thắn để
tôi hoàn thiện luận văn hơn.
- Các thầy cô giảng dạy lớp Lí luận và phương pháp dạy học Văn - Tiếng
Việt K21 - đã giúp tôi có nền tảng kiến thức để thực hiện luận văn.
- Trường trung học phổ thông Chuyên - Tuyên Quang đã giúp đỡ và tạo
điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình khảo sát, thực nghiệm.
- Sau cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn đến những người thân luôn động viên,
khuyến khích và tạo mọi điều kiện thuận lợi, giúp chúng tôi hoàn thành luận văn
Thái Nguyên, ngày

tháng

năm 2015

Tác giả luận văn

1.2.1. Thơ hai-cư trong chương trình THPT và sách giáo khoa Việt Nam
hiện nay ............................................................................................... 33
1.2.2. Thực trạng việc dạy học thơ hai-cư ở trường THPT ........................... 35
1.2.3. Hứng thú nhận thức thơ hai-cư của học sinh và khả năng dạy học
thơ hai-cư của giáo viên ở trường THPT Chuyên - Tuyên Quang ..... 36
Chƣơng 2: ĐỊNH HƢỚNG HỌC SINH ĐỌC HIỂU THƠ HAI-CƢ TRONG
SÁCH GIÁO KHOA NGỮ VĂN 10 CHƢƠNG TRÌNH NÂNG CAO BẰNG
PHƢƠNG PHÁP HOẠT ĐỘNG NHÓM ........................................................... 49

2.1. Dạy học tác phẩm văn chương là quá trình định hướng cho HS cách
thức đọc hiểu tác phẩm ...................................................................................... 49
2.1.1. Khái quát về vấn đề đọc hiểu .............................................................. 49
2.1.2. Hoạt động đọc hiểu văn chương là một quá trình nhận thức chủ
động, tích cực và sáng tạo để chiếm lĩnh giá trị nhân sinh và giá trị
nghệ thuật của tác phẩm ...................................................................... 51
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN
iii
http://www.lrc-tnu.edu.vn/


2.1.3. Phương pháp đọc hiểu tác phẩm văn chương ...................................... 52
2.2. Định hướng học sinh cách thức đọc hiểu tác phẩm văn học nước ngoài ... 56
2.2.1. Đọc hiểu văn bản VHNN qua bản dịch (dịch nghĩa, dịch thơ)
nhưng phải đảm bảo tinh thần, giá trị nguyên tác ............................... 56
2.2.2. Đọc hiểu văn bản VHNN đảm bảo đặc trưng văn hóa, hướng tới
tính dân tộc và tính nhân loại .............................................................. 57
2.2.3. Đọc hiểu VHNN theo đúng đặc trưng thể loại .................................... 57
2.2.4. Đọc hiểu tác phẩm VHNN theo tinh thần tích hợp ............................. 58
2.3. Định hướng học sinh đọc hiểu thơ Hai-cư theo phương pháp hoạt động nhóm ....... 60
2.3.1. Khái quát về phương pháp hoạt động nhóm ....................................... 60

: Giáo viên

GS

: Giáo sư

HS

: Học sinh

PGS

: Phó giáo sư

SGK

: Sách giáo khoa

THPT

: Trung học phổ thông

TPVC

: Tác phẩm văn chương

TS

: Tiến sĩ


học Nhật nói riêng và văn học thế giới nói chung. Trong bộ sách giáo khoa lớp
10 chương trình cơ bản, học sinh được đọc thêm sáu bài thơ hai-cư của nhà thơ
Ma-su-ô Ba-sô. Còn trong bộ sách giáo khoa lớp 10 chương trình Nâng cao, học
sinh được đọc hiểu 6 bài thơ hai-cư của hai tác giả tiêu biểu là Ma-su-ô Ba-sô và
Yô-sa Bu-son. Đối với học sinh, đây là một thể thơ mới, lạ, không dễ cảm nhận.
Mỗi bài thơ là một tình huống, một khung cảnh, một tâm trạng mà nếu ta không
có những kiến thức cơ bản về thể thơ, về hoàn cảnh ra đời và điển tích làm nền
cho bài thơ ấy ta không thể cảm nhận hết được cái hay, cái đẹp, sự vi diệu của
tác phẩm. Hơn nữa, thời lượng dành cho việc đọc hiểu mảng thơ này không
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN

1

http://www.lrc-tnu.edu.vn/


nhiều. Ở chương trình nâng cao, chỉ trong hai tiết học, giáo viên phải định hướng
làm sao để học sinh hiểu được giá trị của sáu bài thơ hai-cư nói riêng và từ đó
cảm nhận được vẻ đẹp của thơ hai-cư nói chung. Đó quả là một việc làm khó
khăn. Nếu giáo viên chỉ sử dụng phương pháp dạy học truyền thống là giảng cho
học sinh hiểu từng bài thì trước hết, giáo viên sẽ gặp khó khăn trong việc phân
bố thời gian để cung cấp kiến thức cho học sinh. Không những thế, phương pháp
dạy như vậy cũng khó có thể giúp học sinh phát huy khả năng tìm tòi mở mang
kiến thức và phát huy tính chủ động của bản thân trong việc chiếm lĩnh kiến thức
bài học. Lựa chọn một phương pháp phù hợp để giúp học sinh tích cực tự học,
chủ động chiếm lĩnh kiến thức bài học không phải là điều dễ dàng.
Với những lí do như trên, tôi mạnh dạn đưa ra vấn đề nghiên cứu: "Vận
dụng phương pháp hoạt động nhóm để dạy học thơ hai-cư trong chương trình
Ngữ Văn 10 Nâng cao ở THPT".
2. Lịch sử vấn đề

gợi ý (tích hợp - so sánh về mặt thể loại, tri thức cửa sổ văn hóa) cho việc tiếp
cận thể loại thơ này trong chương trình THPT. Cuốn sách được chia làm ba
phần với những nội dung chính: Vài định hướng tiếp cận thơ hai-cư trong
chương trình THPT; Hương sắc hai-cư - những nẻo đường góp nhặt và Dạo
bước vườn thơ. Có thể nói, hai cuốn sách là những tài liệu tham khảo hữu ích
cho những ai yêu và muốn tìm hiểu về thể thơ độc đáo này.
Và gần đây vào tháng 11 năm 2013, chúng ta còn thấy có bài viết Thơ
hai-cư, một sáng tạo nhỏ nhắn mang tầm vóc lớn lao của GS.TS Nguyễn
Thanh Hùng đăng trên Tạp chí Thơ của Hội nhà văn Việt Nam. Bài viết đã đi
sâu nghiên cứu nguồn gốc ra đời và những đặc sắc của thơ hai-cư trong mối
liên hệ chặt chẽ với văn hóa Thiền Nhật Bản. Bài viết còn tập trung nghiên cứu
chiều sâu triết học của thơ hai-cư tương dung với tư tưởng và tư duy nhân loại.
Đồng thời, tác giả cũng đặt vấn đề về cách đọc hiểu thơ hai-cư hiệu quả. Đó
thực sự là một nghiên cứu mới mẻ và toàn diện về lí thuyết thơ hai-cư.
Ngoài ra, còn có những bài báo đăng trên các tạp chí trong nước cũng
nghiên cứu về thơ hai-cư trên nhiều khía cạnh như: “Phác thảo những nét
tương đồng và dị biệt của ba thể thơ: Tuyệt cú, hai-cư và lục bát” trong cuốn
Văn học so sánh, nghiên cứu và triển vọng [24], Nguyễn Thị Thanh Chung
với So sánh chất Thiền trong thơ hai-cư Nhật Bản và thơ mang màu sắc
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN

3

http://www.lrc-tnu.edu.vn/


Thiền tông ở Việt Nam [11]; Hà Văn Lưỡng với Sự biểu hiện của cái “tĩnh”
và “động” trong thơ Trần Nhân Tông và thơ Hai-cư của M.Ba-sô [21],
Nguyễn Thị Thanh Xuân với Hai-cư - Lục bát, một vài ghi nhận [34].... Nhìn
chung, các bài báo đều thông qua so sánh đối chiếu một số thể thơ để hướng

kể trên đã cung cấp một cái nhìn tương đối toàn diện về thơ hai-cư trên cả hai
phương diện nội dung và nghệ thuật. Nhưng cũng cho thấy những công trình
nghiên cứu về việc phương pháp dạy học thơ hai-cư như thế nào trong nhà
trường phổ thông quả thực còn rất thiếu. Điều này gây khó khăn rất lớn cho
giáo viên THPT vì thiếu những định hướng tiếp nhận và phương pháp dạy học
hiệu quả cho một nội dung vừa mới vừa khó như thơ hai-cư.
2.2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề giảng dạy thơ hai-cư ở Việt Nam
Thơ hai-cư là một trong những thể loại văn học độc đáo của Nhật Bản, là
“tâm hồn Nhật Bản” bởi nó thể hiện tính xuyên suốt truyền thống trong văn hóa
Nhật. Từ những năm 50 của thế kỉ XX, thể thơ này đã vượt ra ngoài biên giới
Nhật Bản và hiện nay đã trở thành một thể thơ quốc tế. Nhiều quốc gia trên thế
giới đã đưa thơ hai-cư vào chương trình giảng dạy trong nhà trường (kể cả Mĩ
và các nước Hồi giáo). Bởi thế, việc dạy và học thơ hai-cư hiện nay đang rất
được quan tâm.
Ở nước ta, dù nằm trong cùng vùng văn hóa với Nhật (văn hóa phương
Đông), nhưng do những nguyên nhân chủ quan và khách quan khác nhau, việc
giao lưu văn hóa với Nhật (nhất là về văn học) vẫn còn rất hạn chế. Phải đến
những năm gần đây, trong xu thế hội nhập, mối quan hệ giao lưu này mới thật
sự được chú ý. Theo đó, thơ hai-cư của Nhật mới bắt đầu được chúng ta biết
đến và trong lần thay sách giáo khoa gần đây nhất (năm 2006) đã được chính
thức đưa vào chương trình ở cấp Trung học phổ thông. Tuy nhiên, thơ hai-cư
chỉ chiếm một tỉ lệ rất khiêm nhường (hai tiết cho SGK Ngữ Văn 10 chương
trình nâng cao với sáu bài thơ của hai tác giả Ba-sô và Bu-son; một tiết cho
SGK Ngữ văn 10 chương trình cơ bản. Và đến năm 2011, theo chương trình
giảm tải kiến thức của Bộ GD&ĐT, tiết học chính khóa về thơ hai-cư ở chương
trình cơ bản chuyển thành tiết đọc thêm) bởi nó thuộc phần những nội dung
mới và khó, không chỉ đối với học sinh mà ngay cả đối với giáo viên. Chính vì
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN

5

học thơ hai-cư trong quan hệ so sánh với thơ Thiền Việt Nam [32], Dạy học
thơ hai-cư theo thể loại ở trường THPT [2]. Trong đó, các tác giả đều khẳng
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN

6

http://www.lrc-tnu.edu.vn/


định thơ hai-cư là một thể thơ độc đáo, thấm đẫm tinh thần Thiền tông và tinh
thần văn hóa phương Đông nhưng cũng là thể thơ rất khó đối với khả năng
nhận thức của học sinh THPT vì nhiều nguyên nhân. Bởi thế, mỗi tác giả đã
đưa ra những định hướng riêng về dạy học thơ hai-cư cho học sinh: từ góc nhìn
văn hóa, trong quan hệ với thơ Thiền Việt Nam, từ góc độ đặc trưng thể loại.
Ta còn có thể kể đến cuốn Ba-sô và thơ hai-cư của nhà nghiên cứu Nhật
Chiêu. Cuốn sách đã gợi ý phương hướng cảm thụ thơ hai-cư: “Muốn cảm thụ
được một bài thơ hai-cư, muốn biết được cái hay, cái đẹp khác thường của nó,
cần tới một nỗ lực cảm thụ bằng trí tưởng tượng phong phú và phóng khoáng,
bằng sự suy tưởng gắn liền với việc khai thác các hình ảnh thị giác, thính giác,
kết hợp với sự hiểu biết về văn hóa Nhật Bản”[6] .
Có nhiều nhà nghiên cứu cũng đã đưa ra những ý kiến của mình về giảng
dạy thơ hai-cư. Tác giả Hoàng Hữu Bội trong cuốn Thiết kế dạy học Ngữ văn
10 [4] đã đề cập đến phương pháp giảng dạy các bài thơ hai-cư trong chương
trình theo đặc trưng thể loại của nó, có kết hợp với các phương pháp giảng dạy
truyền thống (diễn giảng, giảng bình) với các phương pháp dạy học hiện đại
(đọc sáng tạo, tái hiện, gợi tìm).
Điểm qua các công trình, tài liệu nghiên cứu về thơ hai-cư, ta thấy các tác
giả trên khi định hướng tìm hiểu về thơ hai-cư trên đây chủ yếu thiên về góc độ
đi từ đặc trưng thể loại thơ hai-cư hay cách cảm cách hiểu thơ hai-cư trên cơ sở
so sánh với những thể thơ khác mà chưa có nhiều công trình đề cập đến vấn đề

Đề xuất cách tiếp cận, phân tích, cắt nghĩa, bình giá thơ hai-cư trong
chương trình, kết hợp với việc vận dụng phù hợp phương pháp hoạt động nhóm
để giờ học có hiệu quả hơn.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu vấn đề hướng dẫn học sinh đọc hiểu thơ hai-cư hiệu
quả trên cơ sở vận dụng phương pháp hoạt động nhóm trong quá trình dạy học.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Luận văn tổng hợp khái quát cơ sở lí luận về thi pháp thơ hai-cư qua các
tài liệu tham khảo và khảo sát vấn đề dạy học phần thơ hai-cư trong SGK Ngữ
văn lớp 10 chương trình nâng cao.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp nghiên cứu lí thuyết
Sử dụng phương pháp này để tập hợp - khảo sát tư liệu để tổng hợp lí
luận nhằm đưa ra những cơ sở lí luận về thơ hai-cư, đặc trưng của thơ hai-cư;
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN

8

http://www.lrc-tnu.edu.vn/


những phương pháp biện pháp dạy học tích cực hiện nay để tìm ra phương
pháp dạy học đạt hiệu quả tối ưu cho các văn bản thơ hai-cư trong sách giáo
khoa Ngữ văn 10 chương trình nâng cao.
5.2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
5.2.1. Phương pháp điều tra khảo sát
Sử dụng để khảo sát chương trình sách giáo khoa Ngữ văn 10 về phần
thơ hai-cư; thực trạng việc dạy học thơ hai-cư ở trường phổ thông hiện nay. Từ
đó, đưa ra những đề xuất dạy học phần thơ hai-cư hiệu quả.

cụ thể, thích hợp.
7. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, phần nội dung luận văn gồm ba chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn của đề tài
Chương 2: Định hướng học sinh đọc hiểu thơ hai-cư trong sách giáo
khoa Ngữ văn 10 chương trình nâng cao bằng phương pháp hoạt động nhóm.
Chương 3: Thực nghiệm

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN

10

http://www.lrc-tnu.edu.vn/


PHẦN NỘI DUNG
Chƣơng 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.1. Cơ sở lí luận
1.1.1. Khái quát về thơ hai-cư
1.1.1.1. Nguồn gốc ra đời và quá trình phát triển thơ hai-cư
Thơ hai-cư bắt đầu hình thành vào thế kỉ XIII và chủ yếu bắt nguồn từ
thể thơ liên ca (renga) gồm 31 âm tiết (onji): 5 - 7 - 5 - 7 - 7, mỗi đoạn có hai
vế, vế đầu có 17 âm tiết (5 - 7 - 5), gồm 3 câu do một người khởi xướng, vế sau
hai câu, 14 âm tiết (7 - 7), do người khác họa theo, những người sau đó lại nối
tiếp, cứ thế mà kéo dài đến hàng chục hàng trăm câu. Liên ca trở thành một thể
thơ xướng họa, trước hết trong cung đình của vương gia quý tộc. Nội dung thơ
ban đầu thường mang tính giải trí mua vui, trào lộng, dung tục tầm thường. Đến
thời Edo (1603-1867) thơ hai-cư phát triển mạnh. Người đầu tiên thổi vào thể
thơ hai-cư luồng sinh khí thiên tài, sáng tạo cho nó một vẻ đẹp vinh quang là

Thơ hai-cư đã trải qua chặng đường sáu thế kỉ vận động, phát triển và đạt
tới đỉnh cao. Và từ Nhật Bản, thơ hai-cư lan ra thế giới thành một thể thơ được
quốc tế đón nhận. Từ những năm đầu thế kỉ XIX, thơ hai-cư đã có mặt ở phương
Tây. Người ta dịch thơ hai-cư rồi nghiên cứu, khám phá những gì linh hồn thơ haicư chất chứa. Thơ ca phương Tây trong những tìm kiếm và thể nghiệm sự sáng tạo
đã nhiều lần đi theo phong thái hai-cư. Giới yêu thơ đã sáng tác thơ hai-cư bằng
tiếng dân tộc mình. Và nhà nghiên cứu Nhật Chiêu đã khẳng định: “Nói một cách
chừng mực hơn, thơ hai-cư mà Ba-sô đã hoàn thiện bằng thiên tài của mình, trở
nên thể thơ quốc tế trong thế kỉ XX. Bên ngoài Nhật Bản, hai-cư chẳng những được
nghiên cứu rộng rãi mà còn được các nhà thơ ở nhiều xứ khác nhau sáng tác bằng
tiếng mẻ đẻ của mình, trong đó có cả Paul Eluard của Pháp, Octavio Paz của Tây
Ban Nha và George Sefris của Hi Lạp” [8, tr. 274] . Sở dĩ nó trở thành một thể thơ
quốc tế là bởi vẻ đẹp độc đáo riêng hấp dẫn người ta khám phá để biết, để hiểu, để
đồng sáng tạo.
Ở Việt Nam, thơ hai-cư được biết đến khá muộn màng. Từ khoảng những
năm 1945 đến những năm 1975, có một số nhà thơ lớn Vũ Hoàng Chương, Hàn
Mặc Tử, Chế Lan Viên...bắt đầu tiếp cận thơ hai-cư. Sau năm 1975, Nhật Chiêu là
người có nhiều công trình nghiên cứu về thơ hai-cư nhất. Tiếp đó phải kể đến PGS
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN

12

http://www.lrc-tnu.edu.vn/


Lưu Đức Trung, một trong số ít chuyên gia hàng đầu ở Việt Nam về văn học
phương Đông. Không chỉ miệt mài nghiên cứu về thể thơ Nhật Bản cực kì độc đáo
này, PGS Lưu Đức Trung còn là một trong những người khởi xướng và thành lập
câu lạc bộ sáng tác thơ hai-cư Việt.
Cho đến nay, thơ hai-cư đã lan truyền đến khoảng hơn 50 nước với
khoảng hơn 30 ngôn ngữ khác nhau. Xóa bỏ mọi khoảng cách, vượt qua rào

nhiên Nhật” đã nhận xét: “Bất cứ người nông dân Nhật Bản bình thường nào
cũng là một nhà mĩ học, một nghệ sĩ biết cảm thụ cái đẹp từ trong thiên nhiên”.
Nhà nghiên cứu Nhật Chiêu đã từng nói rằng: “Có một thể thơ mà khi để
nó lướt qua tâm hồn ta, ta có cảm giác như đang chạm vào thiên nhiên, chạm
vào từng mùa…Hai-cư? Đọc hai-cư là chạm vào hơi thở của mùa. Là chạm
vào hoa đào, đom đóm, lá phong, tuyết trắng,…”. Thật vậy, thơ hai-cư là tiếng
hát của bốn mùa, là những rung động xao xuyến của các thi sĩ trước thiên nhiên
nên thơ và trữ tình. Bài thơ nào cũng có tín hiệu về mùa (được thể hiện qua từ
chỉ mùa (còn gọi là quý ngữ) và thời tiết hay những hiện tượng thiên nhiên xã
hội liên quan đến mùa. Những tín hiệu về mùa vô cùng phong phú trong thế
giới hai-cư. Từ ấy gọi là từ mùa: Kigo.
Trong tâm thức văn hóa Nhật, hoa là sự kết tinh của không gian và thời
gian thành vẻ đẹp, là sự bùng nổ của sự sống. Và hoa anh đào là biểu tượng của
vẻ đẹp tâm hồn Nhật, là hoa của các loài hoa và cũng là biểu tượng đẹp của
mùa xuân, mùa phơi phới hi vọng và ngập tràn sức sống. Bởi thế, trong thơ haicư, ta bắt gặp vẻ đẹp tuyệt diệu của mùa xuân được dệt bởi những cánh hoa
mỏng manh mà chứa chan sức sống mãnh liệt:
Từ bốn phương trời xa
cánh hoa đào lả tả
gợn sóng hồ Bi-oa.
(Ba-sô)
Yô-sa Bu-son - thi sĩ của mùa xuân- cũng có bài thơ tuyệt diệu:
Đồng cải nở hoa vàng
phương tây mặt trời lặn
phương đông vầng trăng lên.
Trên cánh đồng vàng rực mùa xuân của con người lao động, ở hai
phương trời của thiên thể đẹp đẽ diễn ra sự vận động vô thường theo quy luật
của tạo hóa. Song tất cả vẫn là mùa xuân phong nhiêu, là tháng ngày bắt đầu
vòng quay mới.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN


Gió lộng vườn hoang
trăng mỏng như sợi chỉ
côn trùng kêu vang
(Ba-sô)
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN

15

http://www.lrc-tnu.edu.vn/


Tất cả đều gợi ấn tượng về sự mỏng manh, thoảng qua và gợi sự tàn tạ, thê
lương khiến trong tâm hồn con người cũng thấm đẫm những bi cảm, hoài niệm.
Hay:

Trắng hơn
đá trên núi đá
gió thu.

(Ba-sô)

Bài thơ độc đáo ở chỗ đề cập đến gió là một đối tượng vô hình vô ảnh,
vậy mà nhà thơ vẫn cảm nhận được sắc màu của nó. Có phải chăng sắc màu ấy
được dệt nên bởi cuộc sống và bằng chính bởi sự cảm nhận phong phú, đầy
sinh động về cuộc sống, về thiên nhiên.
Đồng hành với mùa đông là không gian ngập trong tuyết phủ và lạnh
giá, cây cối trơ trọi, khẳng khiu:
Quét tuyết sương
mà quên sương tuyết
cây chổi trong vườn.

là loài chim đặc trưng trong văn hóa Nhật Bản. Âm thanh của tiếng chim đỗ
quyên hót đã gợi tả sự tĩnh lặng của không gian. Bài thơ được viết khi tác giả
trở lại Ki-ô-tô sau nhiều năm phiêu bạt. Đây là cuộc gặp gỡ của những cố nhân.
Một cuộc gặp gỡ đầy tâm trạng. Không viết nhiều, chỉ một âm thanh gợi một
nỗi nhớ nhưng gợi mở bao nhiêu ý nghĩa. Đứng giữa kinh đô mà nhớ kinh đô.
Đây là kinh đô ở hai thời điểm khác nhau. Một kinh đô đồng hiện : kinh đô của
quá khứ và kinh đô của hiện tại. Nỗi nhớ ở đây là “niềm tiếc nuối” của nhà thơ.
Gặp lại kinh đô hoang tàn của hiện tại, nhớ kinh đô xưa tươi đẹp đang hiện hữu
trong tâm tưởng nhà thơ được gợi ra qua âm thanh tiếng chim đỗ quyên văng
vẳng. Cũng có thể hiểu rằng, bài thơ thể hiện tình yêu tha thiết của nhà thơ đối
với đất nước mà hiện thân của đất nước là kinh đô. Tình cảm tha thiết ấy trào
dâng trong lòng khi con người ngược thời gian trở về với miền mong nhớ.
Nhưng hơn nữa, nó còn gửi đến người đọc một triết lí sâu sắc được rút ra từ
những nếm trải sâu sắc của nhà thơ về miền đất từng sống: Đất mới đầu có thể
chỉ là không gian cư trú, nhờ quá trình sống dài lâu mà biến thành không gian
nghĩa tình sâu nặng của con người, đến mức tự bao giờ nó đã hóa thành một
mảnh tâm hồn ta với biết bao yêu thương gắn bó. Và khi rời xa nơi ấy, chỉ cần
bất cứ một âm thanh sự sống của hiện tại mà đã từng xuất hiện trong quá khứ
cũng có thể khiến kí ức, hoài niệm về miền đất gắn bó vọng về mãnh liệt. Bài
thơ khiến ta liên tưởng đến hai câu thơ đậm chất triết lí của Chế Lan Viên:
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN

17

http://www.lrc-tnu.edu.vn/


Khi ta ở chỉ là nơi đất ở,
Khi ta đi đất bỗng hóa tâm hồn.
(Tiếng hát con tàu)



Trích đoạn Định hướng đọc hiểu thơ hai-cư theo phương pháp hoạt động nhóm Thiết kế giáo án thực nghiệm Lập bảng so sánh đối chiếu kết quả dạy thực nghiệm theo đề tài và Thu thập kết quả kiểm tra đánh giá học sinh sau khi dạy thực nghiệm
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status