Sử dụng hoạt động nhóm để dạy học phần sinh vật và môi trường bậc trung học cơ sở luận văn thạc sĩ sinh học - Pdf 32

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

NGÔ QUANG LONG

SỬ DỤNG HOẠT ĐỘNG NHÓM ĐỂ DẠY HỌC
PHẦN SINH VẬT VÀ MÔI TRƯỜNG BẬC TRUNG
HỌC CƠ SỞ

LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC

VINH - 2011


2

MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa.....................................................................................................i
Lời cảm ơn........................................................................................................ii
Mục lục..............................................................................................................1
Danh mục các kí hiệu, các chữ viết tắt..............................................................3
PHẦN MỞ ĐẦU..............................................................................................4
1. Lý do chọn đề tài...........................................................................................4
2. Mục đích nghiên cứu.....................................................................................5
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu...............................................................5
4. Giả thuyết khoa học.......................................................................................5
5. Nhiệm vụ nghiên cứu....................................................................................5
6. Phương pháp nghiên cứu...............................................................................6
7. Những đóng góp của đề tài............................................................................8
8. Cấu trúc của luận văn....................................................................................8

Tài liệu tham khảo...........................................................................................70
Phụ lục ............................................................................................................73


4


5

CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
ĐC :

Đối chứng

GV:

Giáo viên

HS:

Học sinh

KHTN:

Khoa học tự nhiên

TB:

Tế Bào


Vi sinh vật

MT:

Môi trường


6

MỞ ĐẦU
1.

LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Để đáp ứng được nhu cầu phát triển của xã hội, đưa đất nước đi lên bắt

kịp thời đại, đòi hỏi ngành giáo dục phải tạo ra những con người vừa năng
động, vừa sáng tạo, vừa biết tiếp thu những kiến thức giáo viên truyền thụ vừa
biết vận dụng kiến thức đó vào cuộc sống và tự mình tìm ra những tri thức
mới, đó là những thế hệ trẻ tương lai có thể làm chủ đất nước.
Phương pháp dạy học của giáo viên góp một phần quan trọng trong việc
hình thành nhân cách, kĩ năng tưởng cho học sinh. Một giáo viên dạy giỏi
không chỉ đơn thuần là họ có kiến thức sâu rộng về chuyên môn mà quan
trọng là phương pháp dạy học của giáo viên đó làm thế nào mà người học
sinh phát huy được hết khả năng học tập của mình, học sinh không chỉ hiểu
những kiến thức giáo viên truyền thụ mà từ đó say mê khám phá ra những tri
thức mới. Chính vì vậy mà những năm gần đây phương pháp dạy học cũng có
những đổi mới “tư tưởng dạy học tập trung vào người học” (Learner centred
teaching) tức là “dạy học vì học sinh và được thực hiện bởi học sinh” (học
sinh là mục đích và học sinh là chủ thể)
Vấn đề đó đã được khẳng định ở điều 24 của luật giáo dục nước ta:

MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu đề xuất các cách tổ chức hoạt động nhóm thích hợp nhằm

nâng cao hiệu quả dạy học phần "Sinh vật và môi trường" - Sinh học 9.
3.

ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

Hoạt động học tập theo nhóm phần "Sinh vật và môi trường" - Sinh học 9.
4.

GIẢ THUYẾT KHOA HỌC

Nếu biết lựa chọn và tổ chức hợp lý các kiểu hoạt động nhóm trong giảng dạy
phần Sinh vật và môi trường thì không những nâng cao nhận thức mà còn góp
phần rèn luyện kỹ năng học tập cho học sinh.
5.

NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn liên quan đến đề tài.
Xác định hệ thống các kiến thức có thể tổ chức dạy học theo nhóm và sử
dụng quy trình dạy học theo nhóm.


8

Xác định phương pháp và biện pháp tổ chức giờ học theo nhóm tại lớp
để nâng cao hiệu quả nhận thức cho học sinh từ đó thiết kế các cách thức tổ
chức dạy học theo nhóm.


9

- Các lớp thực nghiệm và đối chứng ở mỗi trường do một GV giảng dạy,
đồng đều về thời gian, nội dung kiến thức, điều kiện dạy học và hệ thống câu
hỏi đánh giá sau mỗi tiết học.
- Trong quá trình thực nghiệm, có thảo luận với giáo viên bộ môn ở các
trường để thống nhất nội dung và phương pháp giảng dạy.
6.5. Phương pháp thống kê toán học
Sử dụng một số công thức toán học để xử lí các kết quả điều tra và thực
nghiệm sư phạm:
- Phần trăm (%)
- Trung bình cộng:

X =

1
n

- Phương sai:

S2 =

1
( X i − X ) 2 ni

n −1

∑X n


+ Cv=30-100% : Dao động lớn, độ tin cậy nhỏ.
- Kiểm định độ tin cậy sai khác giữa 2 giá trị trung bình:
X1 − X 2

td =

S12 S 22
+
n1 n2

Trong đó:
Xi: Giá trị của từng điểm số (theo thang điểm 10).
ni: Số bài có điểm Xi.
X 1 , X 2 : Điểm số trung bình của 2 phương án: thực nghiệm và đối
chứng.
n1, n2: Số bài trong mỗi phương án.
S12 và S 22 là phương sai của mỗi phương án.


10

Sau khi tính được td, ta so sánh với giá trị t α được tra trong bảng phân
phối Studen với mức ý nghĩa α =0,05 và bậc tự do f= n1+n2-2.
+ Nếu td ≥ tα: Sự khác nhau giữa X 1 và X 2 là có ý nghĩa thống kê.
+ Nếu td < tα: Sự khác nhau giữa X 1 và X 2 là không có ý nghĩa thống
kê.
7.

NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI
 Xác định hệ thống các kiến thức có thể tổ chức dạy học theo nhóm

đưa người học đến chỗ tự mình phát hiện ra được cái mình chưa biết và tự đi
đến cái cần biết...Ý nghĩa quan trọng của phương pháp Socrate đối với quá
trình dạy học hiện đại là ở chỗ: người học phải cùng với người dạy làm chủ
quá trình lĩnh hội tri thức, rồi sau đó mới có được tri thức, tức là làm chủ
được tri thức bản thân.
Hình thức học tập theo nhóm bắt đầu được áp dụng ở Đức, ở Pháp vào
thế kỷ XVIII. Ở Anh vào cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX hình thức này
được sử dụng dưới hình thức dạy học hướng dẫn viên được gọi là hình thức
dạy học tương trợ, do linh mục Bel và giáo viên D.Lancaster đề ra và sau đó
được Girar phát triển với sắc thái khác.
Cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX, với việc xây dựng “kiểu nhà trường
hoạt động”, vấn đề học tập cộng đồng đã được nhiều nhà giáo dục học, tâm lý
học phương Tây chú ý nghiên cứu. Trong số đó, John Dewey đã chú ý phát
triển hình thức học tập theo nhóm và đã đề ra lý thuyết học tập nhóm. Theo
ông, môi trường có ảnh hưởng rất lớn tới sự phát triển nhân cách của trẻ, do đó
càng tạo cho trẻ một môi trường càng gần với đời sống càng tốt. Một trong số
môi trường đó là môi trường làm việc chung sẽ tạo cho trẻ thói quen trao đổi
kinh nghiệm, có cơ hội phát triển lý luận.
Sau này Kershensteiner cố gắng sử dụng hình thức học tập này vào cuộc
cải cách nhà trường trung và tiểu học, cho rằng hoạt động chung làm khơi dậy
tinh thần trách nhiệm cá nhân trong lương tâm của mỗi người, loại bỏ những


12

hành động do động cơ ích kỷ. Nhưng ông chỉ ra rằng nếu sử dụng không đúng
đôi khi có thể dẫn tới một hình thức đặc thù của “tính ích kỷ cộng đồng”. Vì
sau một thời gian làm việc chung, nhóm có thể trở thành một cá thể, và vì
quyền lợi của nhóm, vì ganh đua cá thể đó mà trở nên ích kỷ.
Roger Cousinet, nhà giáo dục người Pháp, một phần chịu ảnh hưởng của

Hiện nay trước yêu cầu đổi mới nội dung và phương pháp giáo dục nhằm
đào tạo những con người chủ động sáng tạo, thích nghi với môi trường luôn
biến động, nhằm đáp ứng được sự phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt là sự
nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước, hình thức học tập theo nhóm
trong tiết học đang được đặt ra một cách cấp thiết. Tuy nhiên, việc vận dụng
để hình thức dạy học này cho có hiệu quả tốt đòi hỏi chúng ta phải có sự
nghiên cứu tiếp tục. Vì vậy, việc vận dụng tổ chức hoạt động học tập theo
nhóm vào giải quyết nâng cao chất lượng giảng dạy môn học ở một cấp học
cụ thể là điều hoàn toàn mới và rất có ý nghĩa.
1.1.2 Hoạt động nhận thức của học sinh trong quá trình dạy học
Xét về một phương diện nào đó, dạy học tức là tổ chức quá trình nhận
thức. Quá trình nhận thức là sự phản ánh một cách tích cực thế giới khách
quan vào ý thức con người. Việc giảng dạy một khoa học thực nghiệm như
sinh học phải bắt đầu bằng các sự kiện (sự vật, hiện tượng, quá trình, quan
hệ) và dựa trên các kiến thức sự kiện để xây dựng các kiến thức lý thuyết
(khái niệm, định luật, học thuyết…). Do vậy, để tổ chức tốt quá trình dạy học,
chúng ta cần chú ý đến những đặc điểm tâm lý của học sinh như sự phát triển
trí tuệ, khả năng tự điều chỉnh, tự tổ chức, tự ý thức, tự đánh giá mà phát triển
khả năng nhận thức cho học sinh. Cụ thể ta nên chú ý đến các hướng cơ bản
sau:
Sử dụng phương pháp dạy học mang tính chất nghiên cứu, kích thích
được hoạt động nhận thức, rèn luyện tính độc lập trong tư duy học sinh. Ví dụ
như phương pháp dạy học nêu vấn đề, dạy học bằng trò chơi mô phỏng, dạy
học chương trình hoá, dạy học theo nhóm…
Hình thành và phát triển ở học sinh năng lực giải quyết vấn đề, tăng
cường tính độc lập trong học tập. Bởi vì trong phương pháp học thì cốt lõi là
phương pháp tự học. Nếu rèn luyện cho người học có được phương pháp, kỹ


14



15

Trong học tập, không phải mọi tri thức, kỹ năng, thái độ đều được hình
thành bằng những hoạt động độc lập cá nhân. Lớp học là môi trường giao tiếp
thầy- trò, trò - trò, tạo nên mối quan hệ hợp tác giữa các cá nhân trên con
đường chiếm lĩnh nội dung học tập. Thông qua thảo luận, tranh luận trong tập
thể, ý kiến của mỗi cá nhân được bộc lộ, khẳng định hay bác bỏ, qua đó người
học nâng mình lên một trình độ mới.
1.1.3.1. Khái niệm dạy học theo nhóm
Theo các các tác giả Nguyễn Ngọc Bảo, Hà Thị Đức, Trần Bá Hoành,
Trần Hồng Tâm, Trịnh Thị Bích Ngọc: Dạy học theo nhóm là một hoạt động
học tập có sự phân chia học sinh theo từng nhóm nhỏ với đủ thành phần khác
nhau về trình độ, cùng trao đổi ý tưởng, một nguồn kiến thức dựa trên cơ sở là
hoạt động tích cực của từng cá nhân. Từng thành viên của nhóm không chỉ có
trách nhiệm với việc học tập của mình mà còn có trách nhiệm quan tâm đến
việc học tập của bạn bè trong nhóm. Cũng có thể hiểu dạy học theo nhóm hợp
tác là việc sử dụng những nhóm nhỏ, qua đó học sinh cùng nhau làm việc để
mở rộng tối đa việc học của họ và của cả các thành viên khác trong nhóm.
1.1.3.2 Đặc điểm dạy học theo nhóm
- Hoạt động dạy học vẫn được tiến hành trên quy mô cả lớp, như mô
hình giờ học truyền thống.
- Việc phân chia nhóm học sinh vừa tuân theo đặc điểm tâm lý-nhận thức
của học sinh vừa phụ thuộc vào nhiệm vụ học tập học sinh phải giải quyết.
- Trong mỗi nhóm phải có sự phân công nhiệm vụ rõ ràng, phải cùng
hợp tác giải quyết nhiệm vụ chung của nhóm.
- Học sinh phải trực tiếp tham gia các hoạt động, giải quyết các nhiệm vụ
học tập được đặt ra cho mỗi nhóm.
- Giáo viên trong các giờ học tổ chức theo nhóm phải là người tổ chức,

trong lớp cũng biến đổi. Nếu với công tác dạy học toàn lớp như thường lệ sự
tiếp xúc trực tiếp giữa học sinh ít, thì bây giờ khả năng tiếp xúc như vậy tăng
lên đáng kể. Và sự đánh giá lẫn nhau trong công tác với toàn lớp nay có vai
trò rất lớn.
Từ đó có thể nói công tác với toàn lớp trong điều kiện học tập nhóm tại
lớp là công tác có tính tập thể như là hình thức công tác độc lập.


17

- Giáo viên - “người thức tỉnh” tổ chức và đạo diễn: Trong giờ học theo
nhóm, giáo viên dẫn dắt học sinh khám phá, lĩnh hội kiến thức qua từng bước
nhận thức, tổ chức hoạt động tương hỗ giữa học sinh với học sinh, để các
nhóm học sinh tự tiến hành các hoạt động của họ, qua đó có thể rút ra các tri
thức cần thiết cho mình. Giáo viên từ vai trò là người chủ của giờ học trở
thành người tổ chức, điều khiển học sinh tự tiến hành các hoạt động. Tuy
nhiên, để giúp học sinh tránh những sai lầm, trong tổ chức giờ học theo nhóm,
cần có một khoảng thời gian để giáo viên tổ chức cho học sinh làm việc, thảo
luận chung cả lớp.
- Nhóm học tập - môi trường, phương tiện để lĩnh hội tri thức, phát triển
trí tuệ và nhân cách của học sinh: Nhóm học tập là nơi hội tụ và phát huy tiềm
năng trí tuệ của tập thể, trong các nhóm học tập, việc học tập cá nhân cũng có
những nét mới. Đó không còn là sự lĩnh hội tài liệu học tập xuất phát từ hứng
thú cá nhân, hoặc do sợ kiểm tra, mà lĩnh hội có tính tới công tác phối hợp sau
này. Vì vậy mà phương hướng học tập cá nhân thay đổi, nó có phương hướng
xã hội nhiều hơn.
1.1.3.3. Vai trò của hình thức học tập theo nhóm
- Sự nỗ lực của học sinh
Sự hợp tác trong việc hoàn thành mục tiêu chung là yếu tố thúc đẩy mọi
thành viên cùng tiến bộ. Các em học hỏi lẫn nhau và phấn đấu vì mục tiêu

nguyên tắc diễn đạt ngôn ngữ. Các học sinh nhút nhát, thường là ít phát biểu
trong lớp sẽ có môi trường động viên để tham gia xây dựng bài. Hơn thế nữa,
hầu hết các các hoạt động nhóm đều mang trong nó cơ chế tự sửa lỗi và học
sinh dạy lẫn nhau, theo đó các lỗi sai đều được giải đáp, mà thường là trong
bầu không khí rất thoải mái. Với việc thảo luận cùng với các thành viên khác
trong lớp và nhóm, nhiệm vụ học tập được giải quyết dễ dàng hơn. Thông
qua trao đổi trong nhóm kết hợp được sức mạnh của từng cá nhân, dẫn đến sự
hỗ trợ và giúp đỡ nhau trong học tập. Trên cơ sở những hoạt động chung sẽ
khơi dậy tinh thần tập thể, vì lợi ích của nhóm, của cộng đồng và xã hội.
1.1.3.4. Các hình thức tổ chức dạy học theo nhóm
Tuỳ thuộc vào nội dung và thời lượng của tiết học, giáo viên có thể sử
dụng các hình thức tổ chức dạy học nhóm sau:


19

* Làm việc theo cặp 2 học sinh
Đây là hình thức học sinh trao đổi với bạn ngồi kế bên để giải quyết
tình huống do giáo viên nêu ra, trong quá trình giải quyết các tình huống, học
sinh sẽ thu nhận kiến thức một cách tích cực. Nhóm này thường được sử dụng
khi giao cho HS chấm bài, sửa bài cho nhau (qua phiếu học tập, qua các bài
tập lựa chọn trong sách giáo khoa...). Ưu điểm của hình thức tổ chức này là
không mất thời gian tổ chức, không xáo trộn chỗ ngồi mà vẫn huy động được
HS làm việc cùng nhau.

* Làm việc theo nhóm 4-5 hoặc 7-8 học sinh
Nhóm 4-5 hoặc 7-8 học sinh cùng trao đổi một chủ đề mà giáo viên nêu
ra. Trong quá trình này các nhóm có thể trao đổi nội dung cho nhau để phản
biện, để so sánh, góp ý cho nhau.


Nhóm chuyên sâu

Nhóm chuyên sâu

Nhóm xuất phát

DD
DD

Nhóm chuyên sâu

Ưu điểm của nhóm chuyên gia là việc báo cáo công việc của các nhóm
sẽ do tất cả các thành viên của nhóm đảm nhận chứ không phải chỉ do một học
sinh khá giỏi đảm nhận. Mỗi học sinh sẽ nắm một mảng thông tin để lắp ghép
thành một thông tin hoàn chỉnh và sẽ không có một học sinh nào đứng ngoài
hoạt động của lớp học.
* Nhóm kim tự tháp
Đây là cách tổng hợp ý kiến tập thể của lớp học về một vấn đề của bài
học. Đầu tiên giáo viên nêu một vấn đề cho các học sinh làm việc độc lập.
Sau đó ghép 2 học sinh thành một cặp để các học sinh chia sẻ ý kiến của
mình. Kế đến các cặp sẽ tập hợp thành nhóm 8, nhóm 16…Cuối cùng cả lớp
sẽ có 1 bảng tổng kết các ý kiến hoặc một giải pháp tốt nhất để giải quyết một
vấn đề. Như vậy, bất kỳ ý kiến cá nhân nào cũng đều dựa trên ý kiến của số
đông.


21

* Hoạt động trà trộn
Trong hình thức này, tất cả các học sinh trong lớp phải đứng dậy và di


Nhóm : HS ↔ HS

Đối tượng học tập
Kinh nghiệm cá nhân
– Kinh nghiệm cá nhân


22

(hợp tác, thảo luận)
- Bước 3:

Tổ chức – Nhóm ↔ Nhóm



Nội dung học tập

(hợp tác, thảo luận)
- Bước 4:

Trọng tài, – Tự điều chỉnh kiến – Tri thức cá nhân
cố vấn

thức thu nhận được

Trong 4 bước trên, cần lưu ý trong bước 2 và bước 3, HS làm việc theo
nhóm, còn bước 1 và bước 4 là bước làm việc cá nhân, HS tự suy nghĩ, tìm
tòi. Bước 4 giúp HS tự lĩnh hội, tự điều chỉnh tri thức thu nhận được. Nó giúp


kiến, thảo luận trong nhóm, xử
lý thông tin.

- Đưa ra những câu hỏi gợi ý -Tự ghi lại ý kiến theo chủ kiến
khi thảo luận bế tắc hoặc đi của mình, khai thác những gì đã
chệch hướng.

hợp tác với bạn hoặc tham khảo
thêm ý kiến của GV để bổ sung

sản phẩm ban đầu của mình
- Yêu cầu mỗi nhóm báo cáo - Đại diện các nhóm trình bày, bảo


23

kết quả.
Bước 3

vệ sản phẩm của mình trước lớp.

- Ghi lại những điểm nhất trí và chưa - Tỏ thái độ trước những ý kiến
nhất trí, những khía cạnh mà các của các nhóm khác.
nhóm bỏ qua.
- Tổ chức thảo luận toàn lớp

- Khai thác bổ sung ý kiến của
các nhóm khác, điều chỉnh sản
phẩm của nhóm mình.

thường
xuyên

Sử dụng Ít
không
dụng
thường
xuyên

sử Không
sử dụng


24

SL TL% SL

TL
%

12 54,5

10

45,5

SL TL% SL TL%

1


tài liệu

18,2

11

50,0

2

9,1

5

22,7

5

Dạy học đặt và giải
6
quyết vấn đề

27,3

8

36,4

7


7

31,8

14

63,6

0

0,0

Qua số liệu trên cho thấy còn rất ít giáo viên sử dụng phương pháp dạy
học theo hướng phát huy tính tích cực của học sinh. Sử dụng hoạt động nhóm
trong dạy học đã được áp dụng nhưng với tỷ lệ thấp, chủ yếu chỉ ở những tiết
học ngoại khoá, các tiết thực hành và giao bài tập về nhà cho từng nhóm với
mục đích giúp học sinh dễ hoà nhập, học hỏi lẫn nhau và khơi dậy tinh thần
tập thể.
Một số ít giáo viên đã cố gắng cải tiến phương pháp, chú ý sử dụng các
thí nghiệm, các phương tiện dạy học trong dạy học sinh học, chú ý phát huy
tính tích cực của học sinh qua hệ thống câu hỏi đàm thoại, gợi mở dẫn dắt tư
duy học sinh. Tuy nhiên tình trạng phổ biến là giáo viên dạy chay với lời
thuyết giảng làm tiết học kém hấp dẫn, mất tính sinh động.
Trong dạy học sinh học, giáo viên mới chỉ quan tâm chủ yếu đến quá
trình dạy của giáo viên nên tâm thế của học sinh trong các giờ học là chờ đón
kiến thức do giáo viên truyền thụ và chỉ quan tâm ghi nhớ những kiến thức
nào cần phải học thuộc. Học sinh hoàn toàn chưa có thói quen đón nhận
những công việc, các nhiệm vụ cần hoàn thành trong giờ sinh học để tự tìm ra
kiến thức mới.


do sau:
- Một số học sinh ở trạng thái luôn thụ động.
- Giáo viên khó giữ được trật tự lớp vì sĩ số HS nhiều.
- Phải chuẩn bị cho tiết dạy rất công phu và khó tổ chức. Dễ bị "cháy"
giáo án nếu không giới hạn được thời gian cho thảo luận…., nói chung là giáo
viên gặp nhiều khó khăn trong tổ chức cho học sinh học tập theo nhóm.
Ngoài ra, qua khảo sát giáo án và trao đổi trực tiếp với giáo viên, chúng
tôi nhận thấy nhiều giáo viên gặp khó khăn trong việc chuẩn bị bài giảng theo
hình thức tổ chức hoạt động nhóm trong lớp. Một trong những nguyên nhân
của vấn đề này là thực tế thiếu một mô hình tiếp cận khái quát cùng với những
bài giảng hướng dẫn thực hiện các công việc để giáo viên có thể vận dụng cho
các kiến thức có thể tổ chức hoạt động nhóm và các biện pháp tổ chức dạy học
theo nhóm hiệu quả.
1.2.2. Học tập theo nhóm của học sinh



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status