BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN THỊ THANH HƯỜNG CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUYẾT ĐỊNH THAM GIA
HOẠT ĐỘNG KINH DOANH PHI NÔNG NGHIỆP CỦA HỘ GIA
ĐÌNH Ở NÔNG THÔN VIỆT NAM 2012
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH - NĂM 2014
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN THỊ THANH HƯỜNG MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục bảng biểu.
Danh mục hình vẽ, đồ thị.
Tóm tắt 1
CHƯƠNG I 2
GIỚI THIỆU 2
1.1 Lý do chọn đề tài 2
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 3
1.3 Câu hỏi nghiên cứu 3
1.4 Phạm vi nghiên cứu. 4
1.5 Đối tượng nghiên cứu. 4
1.6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài nghiên cứu. 4
CHƯƠNG II 5
TỔNG QUAN LÝ THUYẾT 5
2.1 Định nghĩa . 5
2.2 Vai trò của nền kinh tế phi nông nghiệp. 5
2.3 Mối liên kết giữa các hoạt động nông nghiệp và phi nông nghiệp. 9
2.4 Các yếu tố tác động vào sự tham gia các hoạt động kinh tế phi nông nghiệp của
hộ…………………………………………………………………………… 12
2.4.1 Yếu tố “đẩy” và “kéo”………………………………………………………….12
2.4.2 Yếu tố bên ngoài, năng lực hộ. 15
2.4.3 Mô hình kinh tế hộ nông dân với hoạt động phi nông nghiệp 20
2.5 Đầu tư vào lĩnh vực kinh doanh của nông hộ nông thôn. 27
2.6 Nghiên cứu thực nghiệm về tác động của hoạt động phi nông nghiệp ở nông thôn
Bảng 4. 5 so sánh giữa hộ có thành viên trong nước gửi tiền về và hộ có thành viên
ở nước ngoài gửi tiền về 54
DANH MỤC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
Hình 2. 1 mối quan hệ sản xuất và tiêu dùng giữa hai khu vực nông nghiệp và phi
nông nghiệp. 10
Hình 2. 2 Phân bổ thời gian của hộ nông dân với hoạt động phi nông nghiệp 24
Hình 2. 3 Phân bổ thời gian của hộ nông dân không có hoạt động phi nông nghiệp25
Hình 2. 4 Nhân tố quyết định của hoạt động phi nông nghiệp 27
Hình 2. 5: Phân loại các nguồn thu nhập tiềm năng của hộ gia đình. 28
Hình 3.1 :Khung phân tích 37
Hình 4. 1 :Tỷ lệ đầu tư vào các ngành nghề của hộ. (ĐVT :%) 41
Hình 4. 2: Tỷ lệ đăng ký giấy phép kinh doanh của hộ đầu tư phi nông nghiệp
(ĐVT: %). 42
Hình 4. 3 Vốn đầu tư trung bình của hộ gia đình vào các lĩnh vực trong giai đoạn
2008-2012. ĐVT : 1.000 đồng 47
-1-
Tóm tắt
Nghiên cứu này sử dụng bộ dữ liệu Điều tra mức sống hộ gia đình của Việt Nam
năm 2012 nhằm mục đích phát hiện ra các yếu tố ảnh hưởng vào việc tham gia vào
sản xuất, kinh doanh phi nông, lâm, thủy sản (gọi chung là phi nông nghiệp) ở cấp
hộ gia đình ở nông thôn Việt Nam và đưa ra một số ý kiến nghị nhằm cải thiện mức
độ tham gia phi nông nghiệp của nông hộ. Tập dữ liệu bao gồm 6.696 hộ gia đình
nông thôn của 8 vùng kinh tế. Sử dụng mô hình logit để phân tích các yếu tố có ảnh
hưởng tới quyết định tham gia vào phi nông nghiệp hay không.
Kết quả cho thấy nguồn nhân lực cả về số lượng và chất lượng đóng vai trò quan
bình quân một tháng của thành viên hộ năm 2012 thì các hoạt động nông, lâm, thủy
sản chiếm 31,2%; tỷ trọng của thu nhập từ hoạt động dịch vụ và thương mại chỉ
chiếm 13,5%. Tuy có sự chuyển đổi cơ cấu kinh tế từ nông, lâm, thủy sản sang các
ngành khác tuy nhiên sự chuyển đổi này diễn ra khá chậm. Nếu xét trong cơ cấu thu
nhập bình quân một tháng của thành viên hộ gia đình nông thôn thì tỷ lệ thu nhập từ
nông, lâm, thủy sản giảm từ 39,4% trong năm 2008 xuống còn 31,8% trong năm
-3-
2012; còn tỷ lệ thu nhập từ thương nghiệp và dịch vụ tăng rất ít từ 12,1% (2008) lên
13,5% (2012). Tỷ lệ nông hộ có tham gia hoạt động phi nông, lâm, thủy sản trong
năm 2008 là 31,5% giảm xuống còn 27,6% trong 2012 (Tổng Cục Thống Kê, năm
2012). Có thể thấy tham gia, phát triển sản xuất, kinh doanh phi nông, lâm thủy sản
chưa được chú trọng nhiều ở nông thôn.
Thách thức lớn nhất đối với sự phát triển và chuyển đổi cơ cấu kinh tế của nước ta
hiện nay là việc chuyển lao động ra khỏi nông nghiệp để tăng năng suất lao động và
tăng thu nhập của nông dân. Không thể chỉ đợi cho công nghiệp hiện đại ở đô thị và
ở các khu công nghiệp thu hút lao động, hay trông đợi vào việc di dân hay xuất
khẩu lao động. Cần phải phát động một phong trào phát triển khu vực phi nông
nghiệp ở nông thôn để tạo việc làm và mở ra những nguồn thu nhập mới cho nông
hộ. Đó chính là lý do tôi thực hiện nghiên cứu vấn đề “ Các nhân tố ảnh hưởng đến
quyết định tham gia hoạt động kinh doanh phi nông nghiệp của hộ gia đình ở nông
thôn Việt Nam 2012”.
- Tìm hiểu các nhân tố nào ảnh hưởng đến quyết định tham gia hoạt động kinh
doanh phi nông nghiệp của hộ gia đình ở nông thôn Việt Nam 2012.
- Từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm giúp thúc đẩy tham gia kinh doanh phi
nông nghiệp trong khu vực nông thôn để có thể nâng cao chất lượng đời sống
ở nông thôn.
- Hiểu rõ những đặc điểm của nông hộ có tác động đến quyết định đến việc
tham gia kinh doanh phi nông nghiệp ở Việt Nam và lượng hóa những yếu tố
đó.
- Gợi ý chính sách phù hợp để góp phần thúc đẩy tham gia kinh doanh phi
nông nghiệp ở nông thôn Việt Nam.
-5-
Nền kinh tế phi nông nghiệp nông thôn : có thể được định nghĩa là bao gồm tất
cả các hoạt động phi nông nghiệp tạo ra thu nhập cho hộ gia đình nông thôn (bao
gồm cả thu nhập bằng hiện vật và tiền), thông qua việc tiến hành hoặc tự làm chủ
hoạt động phi nông nghiệp đó. Theo định nghĩa này kinh tế phi nông nghiệp nông
thôn thường được định nghĩa như bao gồm tất cả các hoạt động kinh tế trong khu
vực nông thôn, ngoại trừ nông nghiệp, chăn nuôi, săn bắn và câu cá (Lanjouw và
Lanjouw,1997). Có nghĩa là tất cả thu nhập và hoạt động kinh tế, được tiến hành
hoặc tự làm chủ, được đặt tại khu vực nông thôn nhưng không thuộc nông nghiệp.
Đó có thể là chế biến nông sản, thành lập một doanh nghiệp nhỏ
Thực tế, trong một số trường hợp, các nhà nghiên cứu và quản lý phân chia các
hoạt động vào các khu vực một cách không thống nhất. Các hoạt động được làm tại nhà
với các đầu vào là các loại cây trồng, vật nuôi và được làm ở quy mô nhỏ sử dụng lao
động nông nhàn là chính đôi khi được xem là hoạt động nông nghiệp. Ví dụ, một số
người thường xếp họat động chế biến nông sản quy mô hộ gia đình là họat động nông
nghiệp. Một số người đưa cả vị trí hoặc quy mô của sản xuất vào phân loại theo ngành.
Các hoạt động này có liên quan mật thiết đến nông nghiệp nhưng về bản chất chúng lại
không phải là các hoạt động nông nghiệp. Ngược lại, cũng có một số người lại xếp lao
� Nâng cao chất lượng cuộc sống, hàng hóa và dịch vụ ở nông thôn.
a. Vai trò của phi nông nghiệp đối với lao động, thu nhập.
Lĩnh vực nông nghiệp là xương sống của nền kinh tế cung cấp thực phẩm, lực lượng
lao động cho các ngành công nghiệp sản xuất và dịch vụ. Nhưng năng suất sản xuất
nông nghiệp nói chung là thấp ở các nền kinh tế kém phát triển do sự thiếu hiệu quả
trong sản xuất và trao đổi. Trong khi đó, có rất ít cơ hội việc làm ở vùng nông thôn,
tình trạng thiếu lao động có thể phát sinh trong mùa cao điểm, tuy nhiên ngoài thời
gian mùa vụ, lao động thường tìm đến các thành phố để tìm việc làm. Nông dân ở
các nước đang phát triển thường xuyên phải đối mặt với khó khăn tài chính do sản
xuất nông nghiệp không ổn định hoặc giá cả bấp bênh. Các hoạt động phi nông
-7-
nghiệp ở nông thôn dường như cung cấp một giải pháp đầy hứa hẹn để giải quyết
những vấn đề này bằng cách tạo ra cơ hội việc làm địa phương và tạo ra các nguồn
thu nhập mới cho người dân. Bằng chứng là các hoạt động phi nông nghiệp phong
phú đã đóng góp đáng kể cho phát triển kinh tế và xoá đói giảm nghèo ở nông thôn
(Lanjouw, 2001; De Janvry et al., 2005; Démurger, 2010). Nghiên cứu của De
Janvry et al. (2005) về vai trò của phi nông nghiệp trong giảm đói nghèo ở Trung
Quốc, sử dụng mô hình log tuyến tính cho thấy thu nhập bình quân của hộ gia đình
tham gia vào các hoạt động phi nông nghiệp cao hơn hơn so với các hộ gia đình chỉ
tham gia vào các hoạt động nông nghiệp. Các hoạt động phi nông nghiệp không chỉ
hấp thụ một số lượng lớn lao động nông thôn dư thừa, mà còn cải thiện đáng kể các
tiêu chuẩn nông thôn (De Démurger, 2010; Janvry et al., 2005).
Các hoạt động phi nông nghiệp có thể ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp thông
qua cả thị trường lao động và thị trường vốn. Sự lưu chuyển của lao động từ nông
nghiệp sang các hoạt động phi nông nghiệp có thể có hoặc có thể không ảnh hưởng
đến sản lượng nông nghiệp, điều này tùy thuộc vào mức độ thặng dư lao động và
mức độ hoàn thiện của thị trường lao động nông thôn (Bardhan and Udry, 1999).
tác động của thời tiết và cũng có xu hướng có thu nhập tổng thể cao hơn so với
những người không có nguồn thu nhập từ phi nông nghiệp. Hơn nữa, thu nhập phi
nông nghiệp thường là một nguồn tiết kiệm chính mà các hộ nông dân ở các vùng
nghèo sử dụng để mua lương thực trong thời điểm khó khăn (Reardon, 1998).
c. Ảnh hưởng của vấn đề việc làm trong lĩnh vực phi nông nghiệp với
vấn đề bất bình đẳng thu nhập.
Các chương trình xúc tiến doanh nghiệp nhỏ được thiết kế để kích thích lĩnh vực
việc làm phi nông nghiệp, sẽ làm giảm sự bất bình đẳng thu nhập ở nông thôn và
kết quả là bất bình đẳng xã hội và căng thẳng chính trị được giảm bớt. Việc này
thường được trình bày như một giả thuyết cho rằng các hoạt động phi nông nghiệp
làm giảm sự bất bình đẳng trong tổng thu nhập trong “ làng” và do đó có một “ cân
bằng” có hiệu lực. Tuy nhiên, khả năng thu nhập được tạo ra bởi các hoạt động này
-9-
có thể được phân phối không đồng đều thậm chí ưu ái nhiều hơn cho những người
giàu và có thể làm trầm trọng thêm bất cân đối thu nhập, mặc dù mức thu nhập ngày
càng tăng trong tất cả các tầng lớp dân cư. Nói cách khác, đối với một hộ gia đình
nhất định, với một mức thu nhập nông nghiệp, một sự tăng thu nhập phi nông
nghiệp rõ ràng làm tăng tổng thu nhập, làm phong phú thêm thu nhập bằng cách đền
bù sự giảm đi trong sản xuất nông nghiệp.
Hoạt động phi nông nghiệp không nhất thiết phải cải thiện phân phối thu nhập ở
nông thôn. Nghiên cứu thực nghiệm từ châu Á và châu Mỹ La tinh cho thấy các hộ
gia đình nghèo dựa vào thu nhập nông nghiệp và các hộ gia đình có thu nhập cao
tương đối có tham gia việc làm hay tự kinh doanh phi nông nghiệp (Reardon, 1998;
Lanjouw, 2001).
2.6 Mối liên kết giữa các hoạt động nông nghiệp và phi nông nghiệp.
Các khái niệm về liên kết phi nông nghiệp thường được sử dụng để mô tả mối quan
hệ giữa các khu vực nông nghiệp và phi nông nghiệp. Các lĩnh vực này có thể được
nông nghiệp.Nguồn: Lê Xuân Bá và cộng sự (2006)
Do đó, lợi nhuận và thị trường đầu ra cho các sản phẩm được xác định bằng thu
nhập địa phương (cung cấp và phân phối) và thị hiếu. Hộ gia đình, người nghèo, có
nhiều khả năng để chi tiêu cho hàng hóa và dịch vụ địa phương trong ngành phi
nông nghiệp, trong khi các hộ gia đình giàu có hơn sẽ có xu hướng chi tiêu vào các
mặt hàng có giá trị cao hơn, hoặc hàng hóa nhập khẩu . Ý nghĩa của việc này là việc
thay đổi kỹ thuật trong nông nghiệp mang lại lợi ích cho người sản xuất nhỏ sẽ có
-11-
một tác động lớn đến nền kinh tế địa phương thông qua các mối liên kết với các hộ
gia đình nghèo và hộ có thu nhập trung bình hơn thông qua những hộ gia đình giàu
(Reardon, 1998).
Một nhóm quan hệ khác cũng rất đáng quan tâm đó là các liên kết về vốn và lao
động, luồng vốn có thể di chuyển giữa hai khu vực. Tiết kiệm của khu vực nông
nghiệp có thể được tham gia cho phát triển công nghiệp và ngược lại. Năng suất lao
động trong nông nghiệp có thể được tham gia cho phát triển công nghiệp và ngược
lại. Năng suất lao động trong nông nghiệp tăng lên vừa có thể giải phóng lao động,
vừa có thể tăng tỷ lệ lương trong khu vực phi nông nghiệp do mức thu nhập trung
bình của khu vực nông nghiệp được tăng lên, đòi hỏi mức lương của khu vực phi
nông nghiệp cũng phải tăng lên mới thu hút được lao động. Ngược lại, năng suất lao
động tăng lên trong khu vực phi nông nghiệp có thể hạn chế dòng lao động từ nông
nghiệp chuyển sang do cầu về lao động giảm.
Các khu vực nông nghiệp và phi nông nghiệp có thể được liên kết trực tiếp thông
qua liên kết sản xuất, trong đó xảy ra một trong hai phía thượng nguồn, hạ nguồn.
Mặt khác, mối liên kết chi tiêu gián tiếp xảy ra khi thu nhập phát sinh tại một trong
vậy thường chứa đựng nhiều yếu tố rủi ro và người nông dân thường đa dạng hóa họat
động của mình không đơn giản chỉ vì năng suất lao động phi nông nghiệp cao hơn mà
còn là đỡ rủi ro hơn. Việc chia sẻ rủi ro giữa hai khu vực được xem là một lý do quan
trọng thúc đẩy sự tham gia các hoạt động phi nông nghiệp của người nông dân. Mặc dù
vậy, cũng nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng chia sẻ rủi ro không phải là nguyên nhân chính
mặc dù nó thường được nhắc đến khi xem xét yếu tố xác định đến sự đa dạng hóa thu
nhập của người nông dân, chính họat động phi nông nghiệp cũng tiềm ẩn rất nhiều rủi
ro.Có nhiều trường hợp rủi ro trong nông nghiệp thấp hơn, độc lập hay tỷ lệ nghịch
với rủi ro phi nông nghiệp (Davis and Pearce, 2000).
2.4 Các yếu tố tác động vào sự tham gia các hoạt động kinh tế phi nông nghiệp
của hộ.
2.4.1 Yếu tố “đẩy” và “kéo”
Sơ đồ liên kết hai khu vực ở trên, về mặt bản chất có thể cho phép đưa ra các yếu
tố tác động đến dòng chuyển dịch lao động giữa hai khu vực này. Sự thay đổi của các
yếu tố bao hàm trong sơ đồ cũng như sự thay đổi về mức độ liên kết giữa chúng đều có
-13-
thể dẫn việc chuyển dịch lao động giữa hai khu vực. Ví dụ, sự phát triển của khu vực
phi nông nghiệp sẽ làm gia tăng nhu cầu lao động cho khu vực này. Năng suất lao động
tăng cao trong khu vực phi nông nghiệp sẽ tăng mức hấp dẫn về mặt thu nhập đối với
lao động nông nghiệp chuyển sang nhưng cũng có thể làm hạn chế lao động di chuyển
do nhu cầu lao động phi nông nghiệp ít đi (giả sử rằng nhu cầu sử dụng sản phẩm phi
nông nghiệp là không đổi họăc thay đổi chậm hơn với tốc độ thay đổi của năng suất).
Các hạn chế trong khu vực sản xuất nông nghiệp (đất đai, năng suất cây trồng vật
nuôi…) sẽ làm cho lao động nông nghiệp dư thừa và có nhu cầu chuyển dịch sang khu
vực khác. Tuy nhiên điều dễ nhận thấy trong sơ đồ trên là sự quan hệ giữa bản thân các
yếu tố với nhau, yếu tố này phụ thuộc vào yếu tố kia. Mặt khác mô hình này cũng
không giải thích được lý do tại sao nguời nông dân lại chọn đa dạng hóa sang họat
Hơn nữa, đặc điểm khí hậu nông nghiệp của khu vực (có lợi hay bất lợi, biến đổi
nhiều hoặc ít sẽ ảnh hưởng đến động cơ đa dạng hóa thu nhập của nông hộ vào hoạt
động phi nông nghiệp. Hộ gia đình trong một nền nông nghiệp có nguy cơ cao sẽ
được có nhiều yếu tố “đẩy” để tham gia đa dạng hóa vào các hoạt động sản xuất
kinh doanh. Ngược lại, các hộ gia đình trong khu vực nông nghiệp ít rủi ro có thể
tham gia vào các hoạt động sản xuất kinh doanh chủ yếu do lợi nhận cao hơn.
Bảng 2. 1: Yếu tố “đẩy” và “kéo”
Yếu tố “ đẩy” Yếu tố “kéo”
-Tăng dân số.
-Khan hiếm đất đai và khó tiếp cận
nguồn đất đai màu mỡ cho sản xuất nông
nghiệp.
-Năng suất nông nghiệp giảm sút .
-Thiếu tiếp cận với thị trường đầu vào
nông nghiệp.
-Sản phẩm nông nghiệp bị từ chối trên
thị trường hoặc sức tiêu thụ thấp.
-Không có đủ nguồn lực tài nguyên thiên
nhiên cho sản xuất nông nghiệp.
-Xảy ra các sự kiện tạm thời và các cú
-Lợi suất lao động trong kinh doanh
phi nông nghiệp cao.
-Lợi suất tham gia trong kinh doanh
phi nông nghiệp cao.
-Rủi ro kinh doanh phi nông nghiệp
thấp hơn so với hoạt động nông nghiệp.
- Cung cấp tiền mặt để đáp ứng nhu
cầu của các hộ gia đình.
-Các cơ hội kinh tế, thường gắn liền
� Yếu tố bên trong: Năng lực của hộ (được xác định bằng cách giáo dục, thu
nhập , tài sản và tiếp cận tín dụng , vv)
Yếu tố bên ngoài
Cơ sở hạ tầng nông thôn có tác dụng quan trọng trong hoạt động thu nhập phi nông
nghiệp nông thôn. Các cơ sở hạ tầng (đường giao thông, thông tin liên lạc, mức độ
di chuyển dễ dàng ) được xem là một yếu tố quan trọng quyết định tham gia của hộ
-16-
gia đình. Cơ sở hạ tầng thể chế và vật lý có thể sẽ giảm chi phí thu thập thông tin,
chi phí vận chuyển, giao dịch, có thể nâng cao lợi nhuận tiềm năng và khả năng
tham gia vào các hoạt động phi nông nghiệp (Barrett et al., 2001; Lanjouw and
Feder, 2001; Davis, 2003; Reardon et al., 2007). Đồng thời, cải thiện đường giao
thông và tiếp cận thông tin dễ dàng có thể dẫn đến thu nhập nông nghiệp cao hơn và
có thể làm cho canh tác hấp dẫn hơn và giảm hoạt động phi nông nghiệp (Reardon
et al., 2007). Phần thu nhập phi nông nghiệp thường cao hơn trong khu vực điện khí
tốt, bởi vì điều này làm giảm chi phí năng lượng cho các hoạt động phi nông nghiệp
(Reardon, 1997; Escobal, 2001; Lanjouw and Lanjouw, 2001). Sự phát triển của
mạng lưới đường bộ có tác dụng hỗn hợp. Cải thiện đường làm giảm chi phí của
hàng hoá địa phương và hàng hoá nhập khẩu được thực hiện trong khu vực nông
thôn, do đó đe dọa các doanh nghiệp địa phương (Haggblade et al., 2002). Mặt khác,
cải thiện đường giao thông tạo thuận lợi cho trao đổi hàng hoá địa phương để mở
rộng thị trường trong và ngoài nước.
Mật độ của mạng lưới đường bộ là một khía cạnh quan trọng của kinh tế phi nông
nghiệp và tăng trưởng kinh tế (Lanjouw et al., 2001). Jalan và Ravaillon (1998) thấy
rằng mật độ đường là một trong những yếu tố quyết định khả năng thoát khỏi đói
nghèo ở nông thôn Trung Quốc. Komives et al (1999) thấy rằng có một sự phân
chia trong việc tiếp cận các nhu cầu cơ sở hộ gia đình (điện, nước, thoát nước, và
dịch vụ điện thoại) giữa các hộ gia đình thành thị và nông thôn, trừ Đông Châu Âu
kinh nghiệm, sức khỏe) (Carney et al., 1999; Ellis, 2000) và số lượng (Reardon et
al., 2007). Chất lượng thường được thể hiện qua giáo dục. Giáo dục ở đây không có
nghĩa là biết đọc, biết viết mà còn đề cập đến kỹ năng quan trọng trong phần lớn các
hoạt động kinh tế phi nông nghiệp. Hơn nữa, giáo dục còn đề cập tới những lợi ích
vô hình như khả năng tương tác trong xã hội, hoặc hình thành liên kết xã hội tại
trường trung học và trường cao đẳng đào tạo hay môi trường sống để phục vụ trong
kinh doanh. Ngoài ra còn liên quan đến việc tiếp thu những kỹ năng cần thiết cho
hoạt động phi nông nghiệp. Nghiên cứu cho thấy cha mẹ ở thành phố Mexico thấy
-18-
giáo dục trung học là không cần thiết, so với các kỹ năng trồng trọt, lái xe và đàm
phán với các thương gia (Wiggins et al., 1999).
Cả về chất lượng và số lượng lao động cần thiết để đáp ứng các yêu cầu tối thiểu
của bất kỳ quá trình sản xuất và do đó sẽ đóng một vai trò trong xác định đa dạng
hóa thu nhập. Thông thường, các hộ gia đình nông thôn có nhiều lao động có xu
hướng tham gia vào các hoạt động phi nông nghiệp cao hơn (Reardon, 1997; Ellis,
1998).
Vai trò của giới tính cho phép hoặc hạn chế việc tham gia vào hoạt động kinh tế và
vai trò này cũng thay đổi từ nước này sang nước khác. Ở nông thôn Uganda phụ nữ
tham gia tích cực hơn trong nuôi trồng hơn nam giới, sau đó tham gia nhiều hơn vào
các hoạt động phi nông nghiệp (Canagarajah et al., 2001). Ở Ấn Độ, việc làm phi
nông nghiệp nông thôn trong những thập kỷ qua đã mở rộng nhanh chóng hơn cho
nam giới, và gần đây đã có một sự suy giảm chung trong tỷ lệ phụ nữ tham gia
(Coppard, 2001) trong các hoạt động sửa chữa và vận chuyển , hầu như chỉ có nam
giới tham gia. Nói chung, cả nam giới và phụ nữ làm việc trong ngành nông nghiệp,
nhưng sự tham gia của phụ nữ trong lĩnh vực phi nông nghiệp thấp hơn so với
những nam giới (Coppard, 2001).
Vốn xã hội
Mặt khác, các hoạt động phi nông nghiệp có thể phục vụ như một nguồn thay thế
của tiền mặt khi thị trường tín dụng nông thôn không có hiệu quả (Reardon, 1998)
Sở hữu đất đai
Sở hữu đất đai có thể đóng một vai trò quan trọng trong quyết định đa dạng hóa.
Đầu tiên, một hộ gia đình sở hữu đất đai cao có thể được đánh giá tương quan cao
với thu nhập nông nghiệp và cũng liên quan đến khả năng cấp tiếp cận tín dụng. Sở
hữu đất đai lớn hơn có thể cho phép một hộ gia đình theo đuổi các hoạt động phi
nông nghiệp thông qua các khoản thu nhập phát sinh từ việc trang trại, thông qua
việc bán đất hoặc thông qua tiếp cận với tín dụng. Đồng thời, hộ gia đình có sở hữu
đất nhỏ hơn và không có đất có thể được đẩy vào phi nông nghiệp các hoạt động do