Download miễn phí Luận văn Xác định phân bố liều bức xạ photon ở lối ra của máy gia tốc primus – siemens dùng trong xạ trị
Các máy gia tốc được sửdụng trong lâm sàng ngày nay được kếthừa từsựnghiên cứu, cải
tiến công nghệmạnh mẽtrong suốt hơn ba mươi năm qua và khẳng định được giá trị, vai trò của
loại thiết bịnày. Dù có những khác nhau vềkiểu dáng chếtạo giữa các hãng sản xuất, song những
nguyên tắc yêu cầu trong điều trịcơbản là giống nhau.
Với mục đích ứng dụng trong lâm sàng, một sốyêu cầu đặt ra cho các máy gia tốc cần thiết
kếsao cho thỏa mãn những tiêu chuẩn chủyếu sau đây [4,5]:
o Chùm tia bức xạphải được xác định rõ và thay đổi được vềcác kích thước trường chiếu.
o Liều lượng bức xạphải đồng đều bên trong chùm tia.
o Liều lượng của thiết bịphát ra phải ổn định không chỉtrong mỗi giai đoạn điều trịmà ổn
định trong suốt thời gian sửdụng của thiết bị.
o Năng lượng, cường độvịtrí và hướng của chùm tia X hay electron phải được kiểm soát
trong điều trị.
o Liều lượng tia xạphân bốtrên bệnh nhân phải được đo đạc một cách chính xác.
http://s1.liketly.com/flash/edoc/jh2i1fkjb33wa7b577g9lou48iyvfkz6-swf-2013-10-21-luan_van_xac_dinh_phan_bo_lieu_buc_xa_photon_o_loi.xXBQwcEKOx.swf /tai-lieu/de-tai-ung-dung-tren-liketly-41365/Để tải bản DOC Đầy Đủ xin Trả lời bài viết này, Mods sẽ gửi Link download cho bạn sớm nhất qua hòm tin nhắn.Tóm tắt nội dung:
eV/m)
Mật độ các ion
/1m
Tia X Electron thứ cấp 0,28 8,5
Gamma Electron thứ cấp 0,36 11
Tia X (30KeV-180KeV) Electron thứ cấp 3,2 100
Tia X 8 KeV Electron thứ cấp 4,7 145
Tia anpha 5,5 MeV Ion hóa trực tiếp 120 3700
Nơtron 12 MeV proton 3,5 290
Trong hệ SI, đơn vị đo độ truyền năng lượng tuyến tính là J/m hay keV/m
Sự phân bố năng lượng hấp thụ của bức xạ trong vật chất còn phụ thuộc vào bản chất của
mỗi loại bức xạ. Đối với bức xạ ion hóa gián tiếp, độ truyền năng lượng tuyến tính nhỏ hơn nhiều so
với bức xạ ion hóa trực tiếp.
1.3.6 Liều giới hạn
Khi tiếp xúc với các chất phóng xạ hay nguồn phóng xạ, các bức xạ ion hoá, các nhân viên
công tác bị chiếu xạ và nhận được một liều hấp thụ nào đó. Tùy thuộc vào liều hấp thụ mà nhân viên
nhận được, bức xạ hạt nhân sẽ ảnh hưởng khác nhau đến họ. Để đảm bảo sức khỏe cho nhân viên
làm việc, cần giảm ảnh hưởng của các bức xạ. Về mặt an toàn bức xạ hạt nhân, cần đưa ra
những quy định cụ thể về liều hấp thụ cho phép mà người nhân viên còn có thể làm việc trực tiếp
với nguồn phóng xạ hay bức xạ ion hóa.
Liều giới hạn được hiểu là giá trị lớn nhất của liều hấp thụ tích lũy trong một năm mà người
làm việc trực tiếp với bức xạ hạt nhân có thể chịu được, không ảnh hưởng đến sức khỏe của bản
thân [1], [2] ,[6].
Theo quy định chung về luật lao động, người có độ tuổi từ 18 tuổi trở lên mới được làm việc
trong cơ sở sử dụng bức xạ hạt nhân. ICRP đã khuyến cáo công thức tính liều hấp thụ tích lũy cho
phép trong một năm đối với nhân viên chuyên nghiệp làm việc trực tiếp với nguồn phóng xạ [2]:
D = 50 (N-18) nSv hay D = 5(N-18) rem (1.43)
Trong đó N là tuổi của nhân viên chuyên nghiệp N19, D là liều hấp thụ tích lũy trong một
năm
Bảng 1.3 Giới hạn liều hấp thụ tích lũy cho phép đối với người làm việc với bức xạ [3]
Giới hạn liều Thời gian đề nghị Cơ quan đề nghị
150 mSv/năm 1950 ICRP
50 mSv/năm 1977 ICRP
20 mSv/năm 1990 ICRP
Theo Pháp lệnh An toàn và Kiểm soát bức xạ hạt nhận của Việt Nam [8], liều hấp thụ tương
đương cho toàn thân đối với nhân nhiên làm việc với nguồn bức xạ và bức xạ hạt nhân là
20mSv/năm. Trong 5 năm có một năm có thể lên đến 50mSv nhưng tổng liều trong 5 năm liên tục
không được vượt quá 100mSv. Quy định này phù hợp với quy định của Ủy ban An Toàn Bức xạ
Quốc tế
1.4. HIỆU ỨNG SINH HỌC CỦA BỨC XẠ
Khi bức xạ xuyên vào trong các mô tế bào của cơ thể sống, nó tương tác chủ yếu thông qua
quá trình ion hóa. Kết quả của quá trình ion hóa trong tế bào là tạo ra các cặp ion có khả năng phá
hoại cấu trúc phân tử của các tế bào, làm tế bào bị biến đổi hay bị tiêu diệt [7].
Đối với con người, cấu tạo mô cơ thể chủ yếu là nước. Khi bị chiếu xạ, phân tử H2O bị ion
hóa, phân chia thành các cặp H+ và OH-, các ion này bị kích thích lại tạo ra các ion khác…Năng
lượng của bức xạ khi đi qua cơ thể người càng lớn thì số lượng ion tạo ra càng nhiều. Các ion này
gây ra phản ứng rất mạnh, tác động trực tiếp tới các phân tử sinh học phổ biến là protein, lipit, ADN
làm cho cấu trúc của các phân tử này bị sai hỏng gây ra những hậu quả: kìm hãm hay ngăn cản sự
phân chia tế bào, làm sai sót nhiễm sắc thể dẫn tới việc tế bào bị chết hay bị biến đổi chức năng
hay gây đột biến gen, đó là do các tổn thương sau đó có thể làm mất hay sắp xếp lại các vật chất
di truyền trên phân tử ADN, làm chết tế bào. Trong đó quá trình làm chết tế bào là quá trình quan
trọng nhất trong việc điều trị ung thư.
Các tác dụng sinh học do tia xạ tạo ra kéo dài rất nhiều so với thời gian hấp thụ năng lượng.
Quá trình hấp thụ năng lượng diễn ra trong khoảng 10-10 s còn các hiệu ứng sinh học kéo dài từ vài
giây đến vài năm.Tùy theo liều lượng bức xạ mà cơ thể hấp thụ ít hay nhiều mà các biến đổi của các
tế bào có thể phục hồi được hay không. Và với cùng một liều lượng bức xạ, nếu hấp thụ làm nhiều
lần thì các biến đổi bệnh lí ít xảy ra với các mô tế bào hơn là hấp thụ trong một lần.
Sau khi bị chiếu xạ, các tổn thương của tế bào có thể phục hồi. Kết quả nghiên cứu cho thấy,
các tế bào bình thường (các tế bào lành) có khả năng phục hồi nhanh hơn các tế bào ung thư. Khi
chiếu một liều lượng phù hợp thì có thể tiêu diệt được các tế bào ung thư còn các tế bào lành vẫn có
thể phục hồi lại được [4,5]. Người ta xây dựng được biểu đồ sự phụ thuộc của xác suất tiêu diệt tế
bào theo liều chiếu có dạng cơ bản như hình 1.6.
Hình 1.6. Đường cong xác suất tiêu diệt tế bào theo liều xạ
Từ biểu đồ trên ta thấy rằng nếu liều xạ nằm trong khoảng Do đến Do+ dDo thì chủ yếu các tế
bào ung thư bị tiêu diệt còn các tế bào lành bị tiêu diệt không đáng kể.
Trong các giai đoạn khác nhau thì sự phản ứng với tia xạ của tế bào cũng khác nhau. Theo sinh
học, chu kỳ sinh sản của tế bào được chia thành các pha tuần hoàn như sơ đồ trên hình 1.7.
Hình 1.7 . Các pha trong chu kỳ sinh sản của tế bào
Trong sơ đồ trên, pha S là tổng hợp tế bào; pha G2 là tiền phân chia tế bào; pha M là phân
chia tế bào; pha G1 là tiền phân chia tế bào.
- Pha S; kéo dài từ 1,5 đến 36h, trong pha này, tế bào kháng tia xạ.
- Pha G2: kéo dài từ 30 phút đến 1,5 giờ.
- Pha G1: kéo dài hàng tháng.
- Pha M: kéo dài từ 30 phút đến 2,5 giờ. Đây là pha tế bào nhạy cảm tia xạ nhất.
Xác
suất
tiêu diệt
tế bào
Đối với tế bào u
Đối với tế bào lành
Do Do+dDo
S
G1
M
G2
Người ta còn thấy các vùng tế bào có tỉ lệ máu lớn hơn sẽ nhạy cảm tia xạ hơn, nên khi chiếu
xạ, người ta làm cho vùng cần được chiếu được cung cấp nhiều máu hơn.
Bằng việc nghiên cứu sự phản ứng của các mô tế bào khi bị chiếu xạ và các quá trình phát
triển, phân chia của tế bào để xác định độ nhạy phóng xạ trong các giai đoạn người ta xây dựng nên
cơ sở sinh học cho kỹ thuật xạ trị. Tất cả các kỹ thuật xạ trị đều phải đảm bảo liều lượng tối đa đạt
tại khối u và giảm thiểu liều lượng tới các mô lành xung quanh.
1.5.PHƯƠNG PHÁP XẠ TRỊ DÙNG TIA GAMMA
1.5.1. Khái niệm và mục đích của xạ trị
Điều trị bằng tia xạ (xạ trị) là quá trình điều trị có sử dụng bức xạ ion hóa hay tia phóng xạ
cho quá trình điều trị nhiều bệnh khác nhau. Mục đích của xạ trị là nhằm đưa một liều phóng xạ rất
chính xác tới một thể tích bia đã xác định với một mức độ tổn thương nhỏ nhất cho các mô lành bao
quanh, kết quả là sẽ loại trừ bệnh tật, kéo dài được sự sống hay cải thiện chất lượng cuộc sống. Do
đó, kỹ thuật xạ trị được xây dựng để chữa bệnh hay làm nhẹ bớt những biểu hiện của bệnh tật một
cách hiệu quả.
Cùng với kỹ thuật chẩn đoán bằng tia X và bằng đồng vị phóng xạ, xạ trị là một trong những
ứng dụng quan trọng của bức xạ trong y tế.
Phẫu thuật, xạ trị và hóa trị là 3 cách điều trị ung thư chủ yếu hiện nay.
Phẫu thuật và xạ trị được áp dụng cho trường hợp kh...