TINH THẦN DÂN CHỦ VÀ TƯ DUY ĐỐI THOẠI TRONG TRONG VĂN HỌC VIỆT NAM SAU 1975 - Pdf 26

TINH THẦN DÂN CHỦ VÀ TƯ DUY ĐỐI THOẠI TRONG TRONG
VĂN HỌC VIỆT NAM SAU 1975.
Nguyễn Phượng
Nhìn một cách khái lược, văn học Việt Nam trong thế kỷ XX trải qua ba
chặng đường lớn.
Chặng thứ nhất, từ đầu thế kỷ XX đến 1945, nền văn học vận động theo
hướng hiện đại hóa.
Chặng thứ hai, từ 1945 đến 1975, nền văn học vận động theo hướng đại
chúng hóa và chính trị hóa.
Chặng thứ ba, từ sau 1975, đặc biệt là từ sau 1986 cho đến nay, nền văn học
vận động theo hướng dân chủ hóa và tinh thần đối thoại.
Tinh thần dân chủ và tư duy đối thoại có thể nói là một trong rất nhiều
nguyên nhân thúc đẩy văn học nghệ thuật nước ta đổi mới và phát triển đồng thời
được coi là có vai trò hết sức quan trọng, nếu không muốn nhấn mạnh là quan
trọng nhất, dường như không thể thiếu trong lĩnh vực hoạt động tinh thần của nền
văn học Việt Nam đương đại.
1. Tinh thần dân chủ và tư duy đối thoại, một đặc điểm cơ bản của nền văn
học từ sau Đổi Mới
Cơ sở hình thành và tái xác lập tinh thần dân chủ và tư duy đối thoại vốn
được manh nha từ sau 1975, khi đất nước ta hoàn toàn thống nhất, non sông thu về
một mối và cuộc sống trở lại hòa bình. Nhưng hai yếu tố trên chỉ thực sự bùng nổ
và phát triển mạnh mẽ kể từ sau Đại hội VI ( 1986 ) của Đảng.
Cùng với văn bản của nghị quyết là những lời kêu gọi đổi mới tư duy, nhìn
thẳng vào sự thật, không né tránh sự thật và can đảm nói lên sự thật từ diễn đàn của
Đại hội được đăng tải trên các phương tiện truyền thông và nhanh chóng nhận
được sự hưởng ứng rộng rãi của mọi tầng lớp nhân dân đặc biệt là những người trí
thức, trong đó có những người viết văn.
Nghị quyết 05 của Bộ Chính trị BCHTWĐCS Việt Nam, nhan đề : “Đổi
mới và nâng cao sự lãnh đạo và quản lý văn hóa văn nghệ lên một bước phát triển
cao hơn” có đoạn :
“ Tự do sáng tạo là điều kiện sống còn để tạo nên giá trị đích thực trong văn

cá nhân, là sự can dự của người trí thức vào thời đại mình nhằm làm phong phú và
giàu có hơn cho đời sống tinh thần và tư tưởng của xã hội. Không dừng lại ở đó,
nếu trước đây hiện thực chiến tranh có thể yêu cầu “ vóc nhà thơ đứng ngang tầm
chiến lũy”, thậm chí với một sứ mệnh hệ trọng hơn :
Ta là ai? Như ngọn gió siêu hình
Câu hỏi hư vô, thổi nghìn nến tắt
Ta vì ai? Khẽ xoay chiều ngọn bấc
Bàn tay người thắp lại triệu chồi xanh…
( Chế Lan Viên )
thì giờ đây, cuộc sống đòi hỏi mỗi nhà văn cần phải nỗ lực học hỏi và phấn đấu để
là một nhà tư tưởng trong công việc sáng tạo. Anh ta đâu còn (mà cũng không thể)
đóng vai trò là người “ biết tuốt” để chỉ soi sáng nhận thức, trí tuệ cho công chúng
mà còn phải là người tham gia cùng người đọc bàn bạc, đối thoại về mọi vấn đề
của thời đại.
Rõ ràng, một bối cảnh mang tính dân chủ đã mở ra trong đời sống tinh thần
và những hoạt động sáng tạo thuộc về lĩnh vực tinh thần của người Việt đương đại.
Tinh thần dân chủ và tư duy đối thoại nói trên một khi đã tác động vào ý
thức và quan niệm của người cầm bút thì cũng đồng thời cũng tác động mạnh mẽ
thậm chí là một yếu tố kích thích mạnh mẽ khiến người cầm bút tự thấy cần thiết
phải thay đổi tư duy trên bình diện sáng tác.
Sự thay đổi nói trên nhìn ở bình diện vĩ mô sẽ thấy nền văn học chuyển
mạnh từ khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn sang khuynh hướng thế sự và
đời tư; nhìn ở góc độ vi mô là sự phá vỡ tính đơn giọng cho sự thâm nhập của tính
đa giọng, đa thanh; là sự phá vỡ kiểu tư duy độc thoại để nhường chỗ cho kiểu tư
duy đối thoại trong ý thức của người sáng tạo.
Có thể minh định điều đó qua các xu hướng sau đây :
2.1. Từ sự mở rộng phạm vi khám phá hiện thực đến việc đào sâu vào
những vùng ẩn mật trong đời sống tâm linh của con người…
Sự thay đổi quan niệm về vai trò của văn học lẽ cố nhiên dẫn tới một cái
nhìn mới về hiện thực. Đó là ý thức của người cầm bút về sự cần thiết phải mở

Hiệu ứng tích cực từ phía công chúng đối với những cuốn tiểu thuyết viết về
đề tài này như : Lửa từ những ngôi nhà, Miền cháy, Cỏ lau của Nguyễn Minh
Châu, Chim én bay của Nguyễn Trí Huân, Trong cơn gió lốc của Khuất Quang
Thuỵ và đặc biệt là Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh, Bến không chồng của
Dương Hướng, Ăn mày dĩ vãng của Chu Lai, Thời của những tiên tri giả của
Nguyễn Viện…tuy chưa phải là căn cứ duy nhất cho việc thẩm định, đánh giá
nhưng cũng đã gián tiếp cho thấy ý thức dân chủ hoá thực sự là một nhân tố đặc
biệt kích thích những thể nghiệm, những tìm tòi sáng tạo đối với giới cầm bút.
Mặc dù hiện vẫn còn những nhận định chưa thống nhất nhưng trong khác
biệt người ta đều thừa nhận điểm khả thủ của những sáng tác kể trên là đã có một
sự thay đổi lớn về quan niệm và bút pháp. Đặc biệt, nhờ việc đào sâu vào thế giới
bên trong con người, phiêu lưu vào cái thế giới của tiềm thức và vô thức, những
vùng ẩn mật nhất của phạm trù tâm linh thuộc về con người, nhiều cây bút đã diễn
đạt cái diện mạo khốc liệt, dữ dội và tàn bạo của chiến tranh một cách sâu sắc hơn
chính do họ đã biết tiếp cận hiện thực chiến tranh từ một bình diện khác, bình diện
số phận con người.
Ở các đề tài khác cũng diễn ra hiện tượng tương tự. Cũng không ngẫu nhiên
đề tài thế sự - đời tư lại trở thành điểm nóng thu hút mọi thể loại trong đời sống
văn học mười năm cuối thế kỷ. Vì chính ở đề tài này người cầm bút mới thực sự
được tự do phát huy những khám phá cá nhân về đời sống, được bộc lộ cái nhìn và
cách nhìn riêng của người nghệ sĩ trên những vấn đề mà mình phát hiện và trong
nhiều trường hợp, sự đề xuất của cá nhân những nghệ sĩ đã gợi mở nhiều vấn đề
quan trọng mà cũng khá thú vị đối với đời sống xã hội Việt Nam đương đại. Các
sáng tác được in và được tái bản của Nguyễn Minh Châu sau khi nhà văn qua đời
vì bạo bệnh, tập truyện Trăng soi sân nhỏ của Ma Văn Kháng, Hà Nội trong mắt tôi
của Nguyễn Khải, Hậu thiên đường của Nguyễn Thị Thu Huệ, Biển cứu rỗi của Võ
Thị Hảo, Tầng trệt thiên đường của Bùi Hoằng Vị, các cuốn tiểu thuyết Hai nhà
của Lê Lựu, Trí nhớ suy tàn của Nguyễn Bình Phương, Đi tìm nhân vật của Tạ Duy
Anh, Cơ hội của Chúa của Nguyễn Việt Hà…các tập thơ Khát của Vi Thuỳ Linh,
Nằm nghiêng của Phan Huyền Thư…cùng nhiều cây bút khác tuy không gây dư

những suy tư và trải nghiệm cá nhân và thiết lập một xác tín mới : rằng kinh
nghiệm của mỗi cá nhân cũng hết sức quan trọng và bình đẳng về mặt giá trị với
kinh nghiệm của cả cộng đồng. Ngoài ra, về thái độ, người cầm bút giờ đây cũng
hiểu rằng những đề xuất của một nhà văn sẽ phải tước bỏ và kiên quyết khước từ
tính chất giáo huấn, dạy đời thì sáng tác của anh ta mới có thể có ý nghĩa với cuộc
đời, ít nhất trong khía cạnh là một sự tham gia vào quá trình bàn bạc, đối thoại để
cùng đi tìm và xác định ý nghĩa và những giá trị mới mẻ của sự sống.
Thái độ nói trên của người viết được bộc lộ qua các sáng tác của Nguyễn
Minh Châu ở giai đoạn trước và trong Đổi Mới và được tiếp tục ở Nguyễn Khải,
Ma Văn Kháng, Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài cùng nhiều cây bút khác trong
chặng từ 1990 trở đi…nhưng có thể nói nó được bộc lộ rõ nhất ở… Nguyễn Khải.
Thật vậy, từ những năm 90 trở đi, Nguyễn Khải bỗng gắn bó với truyện ngắn
và đã cho ra đời hàng loạt sáng tác đặc sắc.
Thực ra, về truyện ngắn, Nguyễn Khải đã nổi tiếng từ ba mươi năm trước
với Mùa lạc, Tầm nhìn xa…nhưng sự xuất hiện lần này thật khác. Giọng quyền uy,
ban phát chân lý của lối viết đậm chất chính luận trước đây đã nhường chỗ cho
giọng tâm tình, tâm sự, chia sẻ, giãi bầy và nghiêng theo hướng triết luận. Chẳng
hạn với Nắng chiều, là triết lý mới mang tinh thần dân chủ : nếu được bình đẳng về
cơ hội, con người ta, bất kể ai, đều có khả năng toả sáng. Với Một người Hà Nội, là
sự thẳng thắn thừa nhận, cái lối sống mà mình vẫn đề cao, rao giảng và tự ngợi ca
thực chất là một lối sống xô bồ, tuỳ tiện và phản văn hoá. Lối sống văn hoá và
minh triết thực sự chính là lối sống thức thời, đầy chủ động, trong bất cứ hoàn cảnh
nào cũng luôn luôn tỉnh táo, biết chia sẻ, chịu đựng cùng với cộng đồng nhưng
cũng phải biết không bao giờ được làm mất đi chính bản thân mình của người cô,
một người Hà Nội, đại diện đích thực cho đất Kinh kỳ kia. Tinh thần không có
chân lý nào duy nhất đúng cũng được thể hiện khá rõ trong Hậu duệ dòng họ Ngô
Thời, Người vợ, Hai ông già ở đồng Tháp Mười…
Dừng lại ở sáng tác của Nguyễn Khải chỉ như một đại diện. Thực ra, tinh
thần dân chủ và tư duy đối thoại đã trở thành một đặc điểm bao trùm và được bộc
lộ ở hầu khắp các thể loại từ phóng sự, tuỳ bút đến tiểu thuyết và thơ ca. Chẳng

pháp tượng trưng, bút pháp huyền thoại…
Tiêu biểu nhất trong số các tác phẩm mang xu hướng đổi mới về cách tiếp
cận hiện thực cũng như bút pháp sau 1990 chắc chắn phải là Nỗi buồn chiến tranh
của Bảo Ninh. Hiện thực cuộc chiến trong cuốn tiểu thuyết của Bảo Ninh tương
phản gay gắt với những hình ảnh thắng lợi khải hoàn ta thường bắt gặp đẫy rẫy
trong văn học Việt Nam. Lối viết theo phương pháp hiện thực xã hội chủ nghĩa
trong các tác phẩm viết về chiến tranh trước Bảo Ninh khiến người cầm bút thường
nhấn mạnh đến tài thao lược của các nhà lãnh đạo và khí thế nhân dân tham gia
cuộc chiến đấu giải phóng Tổ Quốc. Đến lượt mình, Bảo Ninh đã chọn một hướng
tiếp cận khác, ông vượt qua các chiến thuật và chiến dịch; ông quan tâm đến con
người.
Cuốn tiểu thuyết của Bảo Ninh được coi là “ một trong những bản kết toán
chiến tranh xúc động nhất được viết bằng tiếng Việt từ trước đến nay” ( Dana
Healy ). Trong bản kết toán đó, nhà văn khước từ sự tụng ca chiến tranh và cố gắng
chiếu dọi một thứ ánh sáng mới để có thể nhìn sâu vào hiện thực cùng những vết
thương không thể lành trong tâm hồn của con người bởi sự tàn phá của chiến tranh.
Không ít trang của cuốn tiểu thuyết đã được nhà tiểu thuyết sử dụng kỹ thuật dòng
ý thức và một lối miêu tả đời sống bên trong của nhân vật theo hình thức nội soi.
Trong tầm mức mới của cái nhìn này, bao góc khuất, bao bí mật của tiềm thức và
vô thức trong tâm tư của người lính đã từng đi qua chiến tranh, phải nói chính xác
hơn là của người lính sống sót sau cuộc chiến bỗng được phơi bày và làm cho
người đọc kinh hoàng. Rõ ràng không có người thắng kẻ bại và cũng chẳng vinh
quang gì cái việc giết chóc và đau khổ. Cuốn tiểu thuyết trở thành sách bán chạy.
Năm 1991 nó được giải thưởng Hội Nhà Văn và nổi tiếng ở nước ngoài.
Thực tế là trong xu hướng đổi mới bút pháp và tích cực vận dụng kỹ thuật
trần thuật hiện đại Bảo Ninh không đơn độc. Tiếp nối Bảo Ninh là Phạm Thị Hoài
với bút pháp huyền thoại trong Thiên sứ, là Nguyễn Bình Phương với những thể
nghiệm tượng trưng pha lẫn siêu thực trong Trí nhớ suy tàn là Nguyễn Việt Hà với
những ám ảnh hiện sinh trong Cơ hội của Chúa hay Tạ Duy Anh với những hoài
nghi, tự vấn trong Đi tìm nhân vật, hoặc Bùi Hoằng Vị với lối viết giả tưởng trong

tinh thần tham khảo, học hỏi kỹ lưỡng các lý thuyết. Nhận xét của ai đó rằng, ngay
cả một số nhà lý luận, phê bình nổi danh ở ta, trên thực tế, vẫn chỉ đóng vai trò là
đại lý cho những trường phái và chủ nghĩa ở Tây âu nào đó mà thôi không phải là
không đáng để suy ngẫm.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status