Tiểu thuyết viết về nông thôn trong văn học Việt Nam sau năm 1986 (Qua Mảnh đất lắm người nhiều ma của Nguyễn Khắc Trường, Ma làng của Trịnh Thanh Phong, Dòng s - Pdf 26



1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
LÊ THỊ LIÊN TIỂU THUYẾT VIẾT VỀ NÔNG THÔN TRONG VĂN
HỌC VIỆT NAM SAU NĂM 1986
(QUA MẢNH ĐẤT LĂM NGƯỜI NHIỀU MA CỦA
NGUYỄN KHẮC TRƢỜNG, MA LÀNG CỦA TRỊNH
THANH PHONG VÀ DÒNG SÔNG MÍA CỦA ĐÀO
THẮNG) LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành văn học Việt Nam

Hà Nội- 20132
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

danh mục tài liệu tham khảo của luận văn.

Tác giả luận văn

Lê Thị Liên 4
Lời cảm ơn!

Trong quá trình thực hiện nghiên cứu đề tài tôi đã nhận được sự quan tâm, giúp đỡ nhiệt
tình từ rất nhiều phía. Trước hết tôi xin chân thành cảm ơn PGS.TS Hà Văn Đức – Khoa Văn học,
trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội đã tận tình hướng dẫn và
tạo điều kiện thuận lợi nhất cho tôi thực hiện đề tài này.
Xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo đã có những ý kiến đóng góp chân thành, sâu sắc
cho tôi trong quá trình thực hiện luận văn.
Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất đến gia đình, bạn bè – những người đã luôn
ủng hộ, động viên tôi nỗ lực để hoàn thành tốt nhất luận văn này.

2.1 Bức tranh hiện thực cuộc sống nông thôn 31
2.1.1 Hiện thực nông thôn thời kì tiền đổi mới 31
2.1.2 Vấn đề tàn dư của cái cách ruộng đất 39
2.1.3 Hiện thực đời sống tâm linh và đời sống tính dục trong ba tiểu thuyết 44
3.2 Các kiểu nhân vật trong ba tiểu thuyết 55
3.2.1 Nhân vật tha hóa 55 6
3.2.2 Nhân vật ki kịch 64
3.2.3 Nhân vật vượt lên trên hoàn cảnh số phận 70
Chƣơng 3: TIỂU THUYẾT VIẾT VỀ NÔNG THÔN NHÌN TỪ GÓC ĐỘ
PHƢƠNG THỨC BIỂU HIỆN 78
3.1 Nghệ thuật khắc họa nhân vật 78
3.1.1 Xây dựng những chi tiết ngoại hình 79
3.1.2 Khắc họa nội tâm nhân vật 85
3.2 Đặc điểm ngôn ngữ 89
3.2.1 Ngôn ngữ của người kể chuyện 90
3.2.2 Ngôn ngữ nhân vật 93
3.3 Kết cấu 98
3.3.1 Kết cấu lồng ghép 98
3.3.2. Kết cấu buông lửng để ngỏ 103
KẾT LUẬN 107
TÀI LIỆU THAM KHẢO 109

7
PHẦN MỞ ĐẦU

tôi quyết định chọn đề tài “ Tiểu thuyết viết về nông thôn trong văn học Việt Nam
sau năm 1986 (Qua Mảnh đất lắm người nhiều ma của Nguyễn Khắc Trường, Ma
làng của Trịnh Thanh Phong, Dòng sông mía của Đào Thắng” cho luận văn cao
học của mình. Chúng tôi hi vọng đề tài được lựa chọn sẽ góp một tiếng nói nhỏ vào
định hướng chung của nền văn hóa nghệ thuật nước nhà, thêm một sự đồng thuận
trong thái độ của cộng đồng với vấn đề nông thôn Việt Nam.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Sau Đại hội Đảng VI (1986) văn học Việt Nam đã có một bước chuyển mình
rất lớn lao trên tất cả các thể loại, đặc biệt là thể loại tiểu thuyết. Sự nở rộ của tiểu
thuyết thời kì đổi mới, đặc biệt là các tiểu thuyết về nông thôn được coi như một
thành tựu của văn học thời kì này đã thu hút các nhà nghiên cứu quan tâm, chú ý.
Trong quá trình tìm hiểu các tư liệu liên quan đế đề tài, chúng tôi có được
một số tư liệu có thể tạm phân ra một số vấn đề chính sau đây:
2.1 Những ý kiến chung về sự chuyển biến của văn xuôi viết về nông thôn
Sau khi Đảng phát động cuộc đổi mới, văn học nói chung và văn xuôi viết về
nông thôn nói riêng có bước chuyển biến căn bản. Nhờ không khí dân chủ của xã
hội, chưa bao giờ tác phẩm văn xuôi lại xuất hiện nhiều và đa dạng như thời kì này.
Giới nghiên cứu, phê bình cũng được rộng đường dư luận hơn trước nên số lượng
bài viết rất phong phú. Hầu hết các bài viết đều đề cập đến những khía cạnh khác
nhau của đời sống nông thôn trước và sau đổi mới, và thống nhất ghi nhận sau Đại
hội Đảng VI (1986), văn xuôi viết về nông thôn đã có sự thay đổi đáng kể. Tác giả
Trần Cương trong bài Văn xuôi viết về nông thôn nửa sau những năm 80 [12] đã
nhận thấy có hai sự chuyển biến của văn xuôi viết về nông thôn nửa sau những năm
80 so với những năm trước đó, đó là: Sự chuyển biến trong chủ đề và sự chuyển
biến trong phạm vi bao quát hiện thực. Ở bài viết này, khi nói về chuyển biến trong
chủ đề Trần Cương đã đánh giá “ dường như lần đầu tiên xuất hiện hai chủ đề thuộc
về con người mà trước kia chưa có đó là sản phẩm con người và hạnh phúc cá 9

10
qua sự chuyển biến về chủ đề, phạm vi bao quát hiện thực và cách thể hiện nhân
vật. Đồng thời, tác giả cũng đánh giá những thành tựu bước đầu về phương diện
nghệ thuật: ngôn ngữ, thể loại, phong cách chung và giọng điệu.
Tác giả Phạm Ngọc Tiến trong bài Đề tài nông thôn không bao giờ mòn đăng
trên báo Tuổi trẻ ngày 2/12/2007 cũng có cái nhìn lạc quan. Trong bài viết tác giả
đã khẳng định đề tài nông thôn không bao giờ “bạc màu”, “không bao giờ mòn”.
Bởi nông thôn Việt Nam đang từng bước chuyển mình, đáng được ghi nhận. Quá
trình nông thôn hóa, sự tác động của công nghiệp vào nông nghiệp, sự lai căng về
văn hóa…cũng có mặt tích cực và tiêu cực nên đáng để các nhà văn suy ngẫm, trăn
trở. [67].
Trong công trình nghiên cứu Tiểu thuyết Việt Nam từ 1986 – 2005: Diện mạo
và đặc điểm, tác giả Lê Thị Hường đã chỉ ra được những đặc điểm chính của tiểu
thuyết giai đoạn này là sự đa dạng về hệ đề tài, trong đó đề tài nông thôn là một
trong những đề tài đã gây được ấn tượng. Các nhà văn đã gặp gỡ nhau ở vấn đề cốt
lõi của nông thôn: gia đình và dòng tộc, phong tục, nếp nghĩ, nếp sống của những
con người sống trên những mảnh đất phần lớn còn chịu sức đè của thói tục cũ. [30].
Nhân dịp cuộc thi tiểu thuyết lần 2 (2002- 2004) kết thúc, báo Sài Gòn giải
phóng đã có cuộc trao đổi với Chủ tịch hội nhà văn Việt Nam – nhà thơ Hữu Thỉnh.
Trong cuộc trao đổi, nhà thơ đã khẳng định: Có mùa gặt mới của tiểu thuyết nông
thôn đầu thế kỷ XXI. Nét mới của cuộc thi tiểu thuyết lần 2 là các nhà văn đã có sự
mở rộng biên độ khi viết về nông thôn. Họ “đặt nông thôn Việt Nam trong những
biến cố của dân tộc đầy bão táp theo chiều dài lịch sử”, “với độ mở và góc khuất
mà trước đó nhiều nhà văn chưa có điều kiện để truyền tải tới bạn đọc. Những yếu
tố đó tạo nên bộ mặt và sức bền của nông thôn Việt Nam. Qua Dòng sông mía,
Cánh đồng lưu lạc… đã chứng tỏ được “ sức sống của dân tộc, cốt cách của người
nông dân được phác họa một cách sắc sảo” [65].
Như vậy, văn xuôi và tiểu thuyết viết về nông thôn từ sau năm 1986 đã thực
sự hồi sinh, để lại nhiều dấu ấn qua mỗi giai đoạn, mỗi tác giả và mỗi tác phẩm.

12
khi đánh giá về giá trị của cuốn tiểu thuyết này. Đáng chú ý là các ý kiến thảo luận
về Mảnh đất lắm người nhiều ma do báo Văn nghệ tổ chức ngày 25 tháng 1 năm
1991. Trong cuộc thảo luận này các nhà nghiên cứu xem xét, đánh giá tác phẩm
dưới nhiều góc độ, khía cạnh khác nhau. Có ý kiến đưa ra sự đánh giá tổng quát về
tác phẩm và khẳng định tài năng của Nguyễn Khắc Trường (Hà Minh Đức), đánh
giá tác phẩm ở chiều sâu văn hóa của nó (Bùi Đình Thi), cũng có ý kiến xem xét,
đánh giá tác phẩm ở khía cạnh đóng góp của nó với đề tài nông thôn (Phong Lê), ở
nghệ thuật trần thuật và cách tổ chức cốt truyện (Trần Đình Sử, Trung Trung
Đỉnh,…) Có thể dẫn ra một số nhận xét tiêu biểu. Nhà nghiên cứu Nguyễn Đăng
Mạnh khẳng định: “Đã lâu lắm rồi mới xuất hiện một tác phẩm viết về nông thôn
Việt Nam theo đúng mạch của Tắt đèn, Chí Phèo…Mảnh đất lắm người nhiều ma là
cuốn tiểu thuyết hấp dẫn nhờ nghệ thuật kể chuyện. Sự dẫn dắt tình tiết, sự tổ chức
các tình huống đã tạo được nhiều bất ngờ… [58;430 – 431]. Hà Minh Đức cũng
khẳng định: “Nguyễn Khắc Trường đã viết về nông thôn với cách nhìn chân thực,
chủ động làm bộc lộ qua những trang viết một nông thôn có nhiều chuyển động, xáo
trộn, đấu tranh giữa cái tốt và cái xấu, tranh chấp nhau giữa các thế lực” [58;
424]. Với Phong Lê “Cuốn sách đặt ra và gây được ấn tượng ở các vấn đề chìm và
nổi, ở bề mặt và bề sâu trong sự đan xen đó. Không chỉ là chất thơ mà còn là bi
kịch, và là những bi kịch gọi nhau, Không chỉ những con người nhân danh đủ dạng
trong thế bài trừ tiêu diệt lẫn nhau mà còn là đủ những dị dạng, bị đẩy ra hoặc bị
hút vào những giao tranh quyết liệt đó”. Và “sức hấp dẫn của cuốn sách là ở một
số vỉa mới mà nó khai thác, gắn bó với những vấn đề chung, vừa thực sự, vừa lưu
cữu của nông thônn chúng ta”.[58; 426]. Bên cạnh những ý kiến bình luận trên,
trong cuộc thảo luận còn có các ý kiến đóng góp của Ngô Thảo, Hoàng Ngọc Hiến,
Hồ Phương, Nguyễn Phan Hách,… Nhìn chung những bài viết này đều có nhận
định chung là ý thức dòng họ là vấn đề nổi bật trong các vấn đề về hiện thực nông
thôn được phản ánh trong tác phẩm. Ngoài ra còn các bài viết trên báo và tạp

những mưu mô toan tính của những người có thế lực có quyền thế, lợi dụng đúng
chỗ đứng của mình để thu lợi… Tác phẩm trong một chừng mực nào đó đã phản
ánh được thực trạng khá đau đớn vẫn còn diễn ra trong đời sống tinh thần của một
số làng quê nông thôn.”, tác giả bài viết cũng cho rằng:“Cái làm nên sức hấp dẫn 14
của Ma làng là ở tấm lòng của tác giả, ở cái nhìn xã hội vừa nghiêm khắc vừa hiền
lành đôn hậu của nhà văn. Đặc biệt cái làm nên sức nặng của ngòi bút Trịnh Thanh
Phong chính là ở chỗ, tuy luôn day dứt, trăn trở trước những số phận, những cảnh
đời, mảnh đời vụn vỡ, những tác giả không bao giờ thỏa hiệp với cái xấu” [49].
Chính điều này chi phối đến giọng điệu, nghệ thuật xây dựng nhân vật. Bên cạnh
nội dung tác giả bài viết cũng đề cập sơ bộ nhất vài nét nghệ thuật tự sự trong Ma
làng như lối trần thuật “Bằng nhiều chi tiết, qua lối trần thuật độc đáo giàu sức
gợi”, giọng điệu “Nghe và cách miêu tả những nhân vật này, thấy được thái độ vừa
trân trọng, cảm thông vừa nghiêm khắc phán xử của nhà văn”, “giọng điệu mỉa mai
bông tếu cũng trở thành một phương thức khá quen thuộc của nhiều cây viết”, kết
cấu tác phẩm của Trịnh Thanh Phong được nhận xét “Trịnh Thanh Phong có được
một phần kết luận hợp lý”… Tuy đây là những đánh giá rất sơ lược về nghệ thuật
trong Ma làng nhưng nó cũng đã gợi ý cho chúng tôi trong khi tìm hiểu những
phương diện nghệ thuật trong tiểu thuyết của Trịnh Thanh Phong.
Triệu Đăng Khoa trong bài: Hỏi chuyện nhà văn tác giả “Ma làng” Báo
Nông nghiệp nông thôn số tháng 9 năm 2008: Khẳng định sức hấp dẫn của tác
phẩm “Ma làng” với mọi thế hệ người đọc. Sức hấp dẫn mà tác phẩm Ma làng có
được do nội dung mà nó phản ánh đó chính là những mưu mô toan tính, những biến
thái tinh vi của bọn phú hào mới mang tư duy của người nông dân. Cùng với đó là
cách xây dựng nhân vật cũng như tấm lòng của nhà văn đối với người nông dân.
Trung Trung Đỉnh trong bài: Tiểu thuyết ma làng và những thói tục mới ở
làng quê trên báo văn nghệ trẻ số tháng 3/2003 đã đề cập khá rõ nét về nội dung
cũng như những mâu thuẫn được đề cập đến trong tác phẩm Ma làng. Tác giả bài

3. Mục đích nghiên cứu
Lựa chọn đề tài Tiểu thuyết viết về nông thôn trong văn học Việt Nam sau
năm 1986 (Qua ba tác phẩm Mảnh đất lắm người nhiều ma (Nguyễn Khắc Trường),
Ma làng (Trịnh Thanh Phong), Dòng sông mía (Đào Thắng)), luận văn nhằm mục
đích tìm hiểu diện mạo nông thôn trong thời kì đổi mới, đồng thời phát hiện những
đặc điểm nổi bật về nội dung và nghệ thuật của ba tác phẩm trên nói riêng và trong
văn xuôi Việt Nam viết về đề tài nông thôn trong giai đoạn này nói chung. Từ đó sẽ 16
thấy được những đóng góp quan trọng của những sáng tác viết về đề tài nông thôn
đối với quá trình vận động và đổi mới của văn xuôi Việt Nam sau 1986.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu chính của chúng tôi trong đề tài này là những vấn đề
về nội dung và nghệ thuật trong ba tiểu thuyết Mảnh đất lắm người nhiều ma
(Nguyễn Khắc Trường), Ma làng (Trịnh Thanh Phong), Dòng sông mía (Đào
Thắng). Tuy thời điểm sáng tác của mỗi tác giả không trùng lặp, nhưng tác phẩm
của họ lại gặp nhau ở ý tưởng tái hiện lại gương mặt nông thôn một thời đã qua với
những cái “có thật”. Qua đó thế hệ sau có thể biết thêm về làng quê xưa và nay có
đặc điểm gì đã biến chuyển, có đặc trưng gì vẫn bảo tồn bền vững trở thành hồn cốt
của nông thôn Việt Nam.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Tiếp cận đề tài xuất phát từ đặc điểm tiểu thuyết viết về nông thôn, chúng tôi
tập trung khai thác bức tranh hiện thực và các kiểu nhân vật được thể hiện trong
Mảnh đất lắm người nhiều ma của Nguyễn Khắc Trường, Ma làng của Trịnh Thanh
Phong và Dòng sông mía của Đào Thắng.
Ngoài việc tập trung khảo sát ba tác phẩm trên chúng tôi còn tiến hành khảo
sát một số sáng tác về nông thôn trong văn học Việt Nam trước và sau năm 1986
viết về đề tài nông để có cái nhìn so sánh, đối chiếu.

nửa phong kiến. Nghĩa là có sự thay đổi trong cơ cấu xã hội, cơ cấu kinh tế và cơ
cấu giai cấp, nhưng riêng ở nông thôn Việt Nam thì nền kinh tế nông nghiệp lạc
hậu, quan hệ sản xuất phong kiến gắn liền với sự tồn tại của giai cấp địa chủ và
nông dân về cơ bản vẫn là như trước. Điều đáng nói là sự áp bức giai cấp ở đây (cụ
thể giữa địa chủ và nông dân), ngày một gay gắt hơn, căng thẳng hơn. Bức tranh
này chúng ta có thể nhận thấy rõ qua nhiều tác phẩm kí sự, truyện ngắn, đặc biệt là
những cuốn tiểu thuyết nổi tiếng của các tác giả tiêu biểu thuộc trào lưu hiện thực
phê phán như : Bước đường cùng (Nguyễn Công Hoan); Tắt đèn (Ngô Tát Tố); Chí
Phèo (Nam Cao)….Tập hợp lại, đó là một toàn cảnh tiêu biểu, bao quát được thực
trạng của nông thôn Việt Nam xảy ra trước Cách mạnh tháng Tám 1945.
Bức tranh toàn cảnh nông thôn của các nhà văn hiện thực như những đàn
chim én báo hiệu mùa xuân cách mạng sắp tới gần. Ở những tác phẩm này, ngoàigiá
trị hiện thực còn chứa đựng giá trị nhân đạo hết sức sâu sắc. Đó là những đòi hỏi về
quyền sống, quyền làm người. Đó là sự quan tâm đến số phận của những kiếp người
bé nhỏ, đầy bất hạnh. Đó là ý thức phản kháng của nhân vật khi bị dồn vào những
bước đường không còn lối thoát.
Cách mạng tháng Tám là một sự kiện vĩ đại trong lịch sử dân tộc Việt Nam.
Với thắng lợi này, nước ta từ một nước thuộc địa đã trở thành một nước độc lập
dưới chế độ dân chủ cộng hoà, đưa nhân dân ta từ thân phận nô lệ trở thành người
dân độc lập, tự do, làm chủ nước nhà. Và một điều mà chúng ta dễ nhận thấy là bộ 19
mặt của nông thôn Việt Nam đã có những thay đổi to lớn. Thành công của cuộc
Cách mạng đã đem đến cho người nông dân cuộc sống mới, sinh mệnh mới. Giờ
đây ruộng đất đã được trao tận tay với quyền làm chủ và họ bắt đầu quá trình xây
dựng và kiến thiết cuộc sống mới. Nhưng cũng trong giai đoạn này, người nông dân
lại phải tiếp tục tham gia vào cuộc kháng chiến chống lại thực dân Pháp, giải phóng
đất nước. Chính vì vậy, trong những năm này, văn xuôi viết về nông thôn hầu như
không tách riêng ra thành một mảnh rõ rệt với văn xuôi nói chung. Đề tài nông thôn

Văn xuôi viết về phong trào hợp tác xã nông nghiệp cũng có những sáng tác
tiêu biểu của các tác giả như: Đào Vũ với Cái sân gạch và Vụ lúa chiêm; Vũ Thị
Thường với Cái hom giỏ và Gánh vác; Nguyên Khải với Tầm nhìn xa, Mùa lạc,
Hãy đi xa hơn nữa, Gia đình lớn; Nguyễn Kiên với Đồng tháng năm và Vụ mùa
chưa gặt…
Thời kì 1964 – 1975: Giai đoạn này cả nước bước vào cuộc kháng chiến
chống Mỹ. Nông thôn vừa là hậu phương lớn chi viện cho miền Nam tiền tuyến vừa
sẵn sàng chiến đấu giữ vững nền độc lập, bởi vậy văn xuôi viết về nông thôn trong
giai đoạn chống Mỹ ít nhiều mang âm điệu sử thi anh hùng. Đây là thời kỳ văn xuôi
viết về nông thôn có được nhiều thành tựu cả về tác phẩm lẫn đội ngũ sáng tác, có
thể kể đến: Nguyễn Thị Ngọc Tú với Đất lành, Buổi sáng; Chu Văn với Bão Biển,
Đất mặn; Nguyễn Khải với Chủ tịch huyện; Nguyễn Minh Châu với Cửa
sông…Nhìn chung, qua các tác phẩm trên đã phản ánh được hiện thực nông thôn
sống động với nhiều sự kiện và chi tiết tiêu biểu, nêu được những tấm gương sáng
về nhiệt tình cách mạng và khí thế chống Mỹ cứu nước của hậu phương. Đặc biệt
qua các tác phẩm của Chu Văn (Bảo biển) hay Nguyễn Khải (Chủ tịch huyện) đã có
cái nhìn sâu sắc, toàn diện hơn về người nông dân.
Văn xuôi viết về nông thôn giai đoạn 1975 – 1985 bắt đầu chuyển động với
các tiểu thuyết Nhìn dưới mặt trời (Nguyễn Kiên); Bí thư cấp huyện (Đào Vũ). Đây
là hai tác giả có quá trình viết về nông thôn từ rất sớm, nhưng những vấn đề được
lựa chọn đưa vào thời điểm đó thực sự là những vấn đề xã hội bức thiết: đó là hiện
tượng ô dù, tham ô được nhắc tới để mọi người cùng nhận thức và tìm cách loại bỏ 21
(Nhìn dưới mặt trời); đó còn là nỗi khổ cực của người nông dân do cách thức làm
ăn ở hợp tác cũ khi chưa có khoán được đề cập khá quyết liệt (Bí thư cấp huyện ).
1.1.2 Tiểu thuyết viết về nông thôn sau đổi mới (1986)
Năm 1986 được xem là mốc lớn đánh dấu sự đổi mới toàn diện của đất nước.
Diện mạo của đất nước dần dần được thay đổi, dần dần được thoát khỏi thời kì

rõ rệt. Nhiều nhà văn đã không còn coi trọng miêu tả sự kiện lịch sử là mục đích của
nghệ thuật mà coi trọng hơn đến hiện thực con người.
Hiện thực đời sống của xã hội đã trở thành mảnh đất đầy tiềm năng cho sự
phát triển và sáng tạo thể loại tiểu thuyết. “Nếu thừa nhận cảm hứng về con người
với những bước thăng trầm của số phận là đặc trưng nổi bật của tiểu thuyết thì rõ
ràng, tiểu thuyết thời kì đổi mới đã khơi đúng, khơi sâu vào mạch chính của thể
loại”. [51; 176]. Nửa sau thập niên 80, thập niên 90 của thế kỷ XX, đời sống văn
học xuất hiện thêm một loạt tiểu thuyết “làm cho văn đàn sôi động và sóng gió”.
Tác giả Bùi Việt Thắng thống kê, sau năm 1975 “đã xuất hiện hàng loạt nhà văn
chuyên tâm viết tiểu thuyết và có nhiều thành công đáng kể như: Chu Lai (11 tiểu
thuyết), Lê Lựu (7 tiểu thuyết), Nguyễn Khải (7 tiểu thuyết), Ma Văn Kháng (8 tiểu
thuyết)…” [51; 183].
Khi chiến tranh đã lùi xa, con người bắt đầu làm quen với cuộc sống đời
thường, thì một số nhà văn vẫn hồi ức về chiến tranh, về những năm tháng ác liệt đã
qua. Đó là Bảo Ninh với Nỗi buồn chiến tranh (1991), Chu Lai với Ăn mày dĩ vãng
(1992), Nguyễn Quang Lập với Những mảnh đời đen trắng… Song, bộ mặt chiến
tranh trong đó đã khác trước, khi các nhà văn đã dám viết về những mất mát đau
thương đầy bi lụy đằng sau mỗi chiến thắng, viết về những khao khát, những suy
nghĩ thực của những người chiến sĩ trong chiến đấu, có thể là những toan tính,
những sợ hãi và có cả những tình yêu mãnh liệt… Đó không còn là cuộc chiến được
“tô hồng” đầy lý tưởng của giai đoạn trước mà là quá khứ được tái hiện lại trong
quan niệm và nhận thức mới.
Sau chiến tranh, cuộc sống hòa bình bắt đầu với bao vấn đề mới mẻ nhưng
cũng đầy bức xúc thời hậu chiến. Điều này đã mở ra một hướng đi mới cho văn học. 23
Phạm vi hiện thực được mở ra toàn diện hơn và cũng chân thực hơn. Từ hiện thực
chủ yếu được giới hạn trong những vấn đề cơ bản của đời sống chính trị xã hội, văn
học đã tìm đến một hiện thực rộng lớn hơn của đời sống nhân sinh thế sự. Những

Sự nổi trội của đề tài nông thôn không chỉ được đánh giá bằng tiêu chí số
lượng mà còn khẳng định bằng chất lượng nghệ thuật. Giá trị thực tế đã được khẳng
định với khá nhiều tác phẩm đoạt giải thưởng của Hội Nhà văn. Mảnh đất lắm
người nhiều ma của Nguyễn Khắc Trường đoạt giải năm 1991, Dòng sông mía (Đào
Thắng) đoạt giải năm 2004 và trở thành hiện tượng văn học đáng chú ý nhất năm.
Ma làng của Trịnh Thanh Phong tuy không giành được giải thưởng của Hội nhà văn
nhưng đã đạt giải nhì của Ủy ban toàn quốc liên hiệp các hội Văn học nghệ thuật
Việt Nam năm 2002, và được chuyển thể thành bộ phim cùng tên, khi công chiếu
được nhiều khán giả đón nhận nồng nhiệt.
Sự đổi mới tư duy nghệ thuật trong sáng tạo tiểu thuyết nói chung và trong
tiểu thuyết về đề tài nông thôn từ sau năm 1986 thể hiện trên nhiều phương diện: đề
tài, cốt truyện, nhân vật, ngôn ngữ. Đề tài chiến tranh lịch sử, dân tộc của giai đoạn
trước được thay thế bằng đề tài thế sự, đời tư. Văn học hiện thực giai đoạn 1930 –
1945 tái hiện bức tranh hiện thực đời sống tối tăm, ngột ngạt bởi sự tồn tại của
những mâu thuẫn mang tính thời đại, ở đó, người nông dân sống thân phận nghèo
khổ của con sâu cái kiến, không có quyền tự chủ trong lao động và trong sinh hoạt
bình thường. Văn học viết về thời kì đất nước xây dựng xã hội chủ nghĩa ở miền
Bắc, với mục tiêu được đặt lên hàng đầu là khích lệ niềm tin vào chế độ mới tốt
đẹp, các nhà văn tập trung tái hiện một gương mặt nông thôn trong hăng say lao
động và sản xuất. Và đến thời kì đổi mới, tiểu thuyết viết về nông thôn đã tập trung
tái hiện một bức tranh hiện thực đời sống, xã hội nơi thôn quê đầy biến động trong
việc thực thi những chính sách của nhà nước: Cải cách ruộng đất, công cuộc sửa sai,
chủ trương đưa nông dân vào hợp tác xã, thời kì bao cấp,… Trải qua mỗi biến động,
làng quê Việt Nam không còn không gian bình yên từ ngàn đời xưa mà trở nên rối
ren, náo động. Cái mới chưa được xây dựng thì cái cũ vẫn chưa thể xóa bỏ. Tiểu
thuyết thời kì này không tập trung vào mâu thuẫn giai cấp như giai đoạn trước năm
1945 mà đã chỉ ra rất nhiều mâu thuẫn khác nảy sinh trong xã hội nông thôn: mâu 25

Trích đoạn Đặc điểm ngôn ngữ Ngôn ngữ của người kể chuyện Ngôn ngữ nhân vật Kết cấu lồng ghép Kết cấu buông lửng để ngỏ
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status