BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
---------------
VŨ HỮU THÀNH
THÀNH NGỮ TRONG MẢNH ĐẤT LẮM NGƯỜI NHIỀU MA
CỦA NGUYỄN KHẮC TRƯỜNG
VÀ MƯỜI LẺ MỘT ĐÊM CỦA HỒ ANH THÁI
Chuyên ngành: Ngôn ngữ học
Mã ngành: 60.22.02.40
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN
Người hướng dẫn khoa học:
T.S PHAN THỊ NGUYỆT HOA
2
Nghệ An, 2015
LỜI CẢM ƠN
Thực hiện luận văn này, chúng tôi xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn
sâu sắc tới T.S Phan Thị Nguyệt Hoa - người đã trực tiếp tận tình hướng
dẫn chúng tôi.
Xin được cảm ơn GS. TS Đỗ Thị Kim Liên và các thầy cô giáo thuộc
bộ môn Ngôn ngữ học trường Đại học Vinh; những người thân trong gia
đình, bạn bè, đồng nghiệp đã giúp đỡ và đóng góp nhiều ý kiến quý báu
cho chúng tôi trong suốt quá trình nghiên cứu, thực hiện đề tài.
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
1.1. Thành ngữ là một đơn vị ngôn ngữ có giá trị hết sức đặc biệt trong
hoạt động giao tiếp. Thành ngữ được sử dụng khá phổ biến trong cuộc sống
hàng ngày lẫn trong văn bản chính luận, báo chí, đặc biệt là trong các tác
phẩm văn chương… Do cấu tạo của thành ngữ sử dụng ít từ, kiệm lời
nhưng lại có một giá trị biểu trưng hết sức sâu sắc, cách nói giàu hình ảnh,
gợi nghĩa bóng, lời ít ý nhiều, có sức khái quát cao nên người nói - người
viết ưa dùng thành ngữ. Thông qua ý nghĩa thành ngữ, cách sử dụng chúng,
chúng ta nhận ra nét đặc trưng văn hóa vùng miền cũng như phản ánh lối
nói, nếp nghĩ, cách tư duy của từng vùng, từng cộng đồng. Chính vì vậy,
thành ngữ ngày càng thu hút đông đảo lực lượng nghiên cứu trên nhiều bình
diện: cấu trúc, ngữ nghĩa, thi pháp, triết học, giáo dục. Tuy vậy, các nhà
nghiên cứu mới dừng lại tìm hiểu thành ngữ như những đơn vị cố định, có
sẵn mà chưa có xem xét thành ngữ trong hoạt động lời nói, cụ thể biểu hiện
trong tác phẩm văn chương, để thấy được sự vận động và phát triển của
thành ngữ trong thực tế sử dụng, chính vì lí do đó, việc đi sâu nghiên cứu
cách sử thành ngữ trong các tác phẩm của từng tác giả là hết sức cần thiết.
1.2. Nguyễn Khắc Trường và Hồ Anh Thái thuộc thế hệ nhà văn sau
thời kì sau 1975, trong đó Hồ Anh Thái nổi lên như là một hiện tượng lạ
của văn học Việt Nam từ những năm 90 . Hai tác giả này sáng tác nhiều thể
loại như: tiểu thuyết, truyện ngắn, truyện dài, tạp văn…Điều đặc biệt là họ
đã gặp gỡ nhau trong việc lựa chọn và sử dụng một số lượng thành ngữ rất
lớn trong tác phẩm của mình, tạo được hiệu quả biểu đạt cao, gây được cảm
xúc thẩm mĩ cho người đọc. Song, trên thực tế vấn đề này lại chưa
được quan tâm nghiên cứu một cách đầy đủ, có hệ thống. Chọn nghiên cứu
đề tài về thành ngữ của Nguyễn Khắc Trường và Hồ Anh Thái là một
hướng tiếp cận mới mẻ, chứng minh rõ ràng hơn về sự phát triển và cách
3
Thanh đã đánh giá hiệu quả ngôn ngữ trong Mảnh đất lắm người nhiều ma:
"Ngôn ngữ miêu tả của tác giả có sức gợi cảm sâu sắc từ việc khắc họa tư
thế của người quyền biến với cặp mắt ba góc nhìn cứ ngằm ngằm tới cái
mắt hiêng hiếc lệch đi như xe sang vành, nhìn cứ xiên xiên cũng tạo được
sự liên tưởng về tính cách nhân vật..."
2.2. Lịch sử nghiên cứu thành ngữ trong tác phẩm Hồ Anh Thái
Hồ Anh Thái là một tác giả mới của văn xuôi đương đại. Ông đã
nhanh chóng khẳng định được tài năng văn chương của mình. Tìm hiểu về
Hồ Anh Thái có thể kể đến một số bài viết và công trình nghiên cứu sau
đây: Bài viết của Anh Chi: “Hiện tượng văn chương Hồ Anh Thái”; Báo
Thể thao Văn hóa: “Bên này bên ấy”; Báo Đất Việt ra ngày
19/10/2011: “Hồ Anh Thái kể chuyện bắt chuột”; Báo Thể thao và Văn
hóa ra ngày 12/9/2011: “Hồ Anh Thái lấy chữ mà chơi”; Võ Anh Minh
(2005), Văn xuôi Hồ Anh Thái nhìn từ quan niệm nghệ thuật về con người
(Luận văn thạc sĩ Ngữ văn), Đại học Vinh; Nguyễn Đình Thiện
(2007), Đặc điểm câu văn trong truyện ngắn Hồ Anh Thái, (Luận văn thạc
sĩ Ngữ văn), Đại học Vinh; Trần Quỳnh Trang (2007), Những cách tân
trong nghệ thuật tự sự Hồ Anh Thái (Luận văn thạc sĩ Ngữ văn), Đại học
Vinh; Nguyễn Thị Huệ (2008), Đặc trưng ngôn ngữ tiểu thuyết của Hồ
Anh Thái, Báo Đại biểu nhân dân, 2009; Những đặc sắc của nghệ thuật
trần thuật trong tiểu thuyết Đức Phật nàng Savitri và tôi của Hồ Anh
Thái, (Luận văn thạc sĩ Ngữ văn), Đại học Vinh; Đặc điểm sử dụng thành
ngữ trong tác phẩm của Hồ Anh Thái và Dương Thụy, (Luận văn thạc sỹ
Ngữ văn), Đại học Vinh. Trong cuốn Tạp chí Đàn ông, 3-2006, Huy Lâm
nhận xét về Mười lẻ một đêm: "Khá giống với phong cách và giọng điệu
của ba cuốn tiểu thuyết và truyện ngắn gần đây, Hồ Anh Thái đem đến cho
độc giả từ đầu đến cuối là một giọng điệu châm biếm, hài hước và cười cợt
của thành ngữ trong từng ngữ cảnh khác nhau, được các nhân vật trao – đáp
với nhau nhằm đạt đến mục đích của mình.
5.3. Phương pháp so sánh
Chọn sử dụng phương pháp này chúng tôi nhằm hướng đến chỉ ra sự
tương đồng khác biệt trong việc sử dụng thành ngữ trong sáng tác Nguyễn
Khắc Trường và Hồ Anh Thái. Mặt khác, chúng tôi cũng tiến hành đối
6
chiếu thành ngữ gốc với các thành ngữ được hai tác giả sử dụng để chỉ ra
hoạt động hành chức cụ thể của đơn vị ngôn ngữ này.
5.4. Phương pháp tổng hợp
Phương pháp này được chúng tôi sử dụng ở cuối mỗi phần, mỗi
chương và phần kết luận.
6. Đóng góp của đề tài
Có thể xem đây là công trình đầu tiên nghiên cứu thành ngữ trong 2
tác phẩm cụ thể của Nguyễn Khắc Trường và Hồ Anh Thái từ góc nhìn
phong cách sử dụng và sự phát triển thành ngữ mới trong hành chức một
cách có hệ thống.
7. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung
chính của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1. Một số giới thuyết liên quan đến đề tài
Chương 2. Thành ngữ trong tác phẩm của Nguyễn Khắc Trường và
Hồ Anh Thái xét trên bình diện cấu tạo
Chương 3. Thành ngữ trong tác phẩm Nguyễn Khắc Trường và Hồ
Anh Thái xét trên bình diện ngữ nghĩa
7
8
Theo Mai Ngọc Chừ (2001), Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt, đã đưa
ra định nghĩa: ''Thành ngữ là cụm từ cố định hoàn chỉnh về cấu trúc và
ngữ nghĩa. Nghĩa của chúng có tính hình tượng và gợi cảm'' [14, 157]
Nguyễn Thiện Giáp (2008) trong Giáo trình ngôn ngữ học, đã đưa ra
định nghĩa: "Thành ngữ(idiom) là những cụm từ trong cơ cấu cú pháp và
ngữ nghĩa của chúng có những thuộc tính đặc biệt, chỉ có ở cụm từ đó. Nói
cách khác, thành ngữ là một cụm từ mà ý nghĩa của nó không được tạo
thành từ ý nghĩa của các từ cấu tạo nên nó"[20, 109] và trong Từ vựng học
tiếng Việt, đã đưa ra khái niệm khá ngắn gọn: "Thành ngữ là những cụm từ
cố định vừa có tính hoàn chỉnh về nghĩa, vừa có tình gợi cảm."[12, 16]
Theo Hoàng Văn Hành (2010) trong Tuyển tập ngôn ngữ học, lại cho
rằng: "Theo cách hiểu thông thường, thì thành ngữ là một loại tổ hợp từ cố
định, bền vững về hình thái – cấu trúc, hoàn chỉnh và bóng bẩy về nghĩa,
được sử dụng với chức năng như từ" và "Thành ngữ là hiện tượng trung
gian nằm ở khu đệm, giữa một bên là từ, thuộc từ vựng; một bên là ngữ,
thuộc cú pháp; và một bên nữa là các hiện tượng thuộc văn họa dân
gian(tục ngữ, ca dao)..."[18, 22]
Hay theo tác giả Hoàng Phê (2010), Từ điển Tiếng Việt, cũng đã đưa
ra khái niệm: "Thành ngữ là tập hợp từ cố định đã quen dùng mà nghĩa
của nó thường không thể giải thích được một cách đơn giản bằng nghĩa
của các từ tạo nên" [51, 1178]
Ngoài ra, trong Tục ngữ Việt Nam dưới góc nhìn ngữ nghĩa – ngữ
dụng, tác giả Đỗ Thị Kim Liên cũng đã đưa ra các tiêu chí phân loại thành
ngữ và tục ngữ về cấu tạo, ngữ nghĩa, chức năng, đích tác động.
Tóm lại, các nhà nghiên cứu ngôn ngữ dù đã đưa ra nhiều quan điểm
về thành ngữ, dựa trên những cơ sở, đặc điểm thuộc tính khác nhau. Chúng
tôi xin đưa ra cách hiểu của mình về thành ngữ như sau: Thành ngữ là một
cụm từ cố định, có kết cấu vững chắc, có ý nghĩa hoàn chỉnh, giàu hình
rậm...
10
Trật tự các âm tiết ổn định, ít thay đổi (trừ các biến thể): Thành ngữ 4,
6 âm tiết có thể đổi trật tự, nhưng người sử dụng vẫn giữ nguyên vì thói
quen. Ví dụ như: chân lấm tay bùn -> chân bùn tay lấm; thượng cẳng chân
hạ cẳng tay ->thượng cẳng tay hạ cẳng chân... Đây là những trường hợp
biến thể (dị bản), nó không biểu thị sự thiếu ổn định trong kết cấu thành
ngữ.
Sự có mặt của từng từ tố trong thành ngữ là ổn định. Chẳng hạn như
ăn trên ngồi trốc: trong câu này "trốc" là đầu dùng nhiều ở bắc miền
Trung, người miền Bắc và Nam không nói trốc, nhưng vẫn sử dụng. Ý
nghĩa của thành ngữ không chịu sự tác động của từng yếu tố trong thành
ngữ. Ví dụ: vắt cối chày ra nước hay vắt cổ chày ra nước cùng đều chỉ sự
keo kiệt.
1.1.2.2. Đặc trưng về nghĩa
Thành ngữ có đặc trưng nổi bật là tính hoàn chỉnh và bóng bẩy về
nghĩa của nó. Nghĩa của thành ngữ thường biểu thị những khái niệm hoặc
biểu tượng nói về các thuộc tính, quá trình hay sự vật. Nói một cách khác
thì thành ngữ thường biểu hiện giá trị nghĩa bóng theo tính hàm ẩn. Nghĩa
này được biểu hiện ở hai phương diện: nghĩa biểu trưng và và bình diện bậc
nghĩa.
Nghĩa biểu trưng có cơ sở liên tưởng gắn bó với từng dân tộc, truyền
thống, đặc trưng văn hóa, phù hợp với tâm lý dân tộc. Bên cạnh đó xét về
bình diện bậc nghĩa, đi từ tiếp xúc hình ảnh (nghĩa đen) đến việc tiếp nhận
biểu trưng (nghĩa bóng).
Ví dụ: ngứa mồm ngứa miệng
Nghĩa đen: Cảm giác mồm miệng bị cái gì đó tác động gây ngứa,
muốn gãi ở mồm miệng.
1.1.3. Phân biệt thành ngữ với tục ngữ và thành ngữ trong văn bản
nghệ thuật
1.1.3.1. Phân biệt thành ngữ với tục ngữ
Thành ngữ và tục ngữ là hai đối tượng nghiên cứu của khoa học, cả
hai đều được sử dụng khá phong phú và đa dạng trong đời sống hằng ngày
12
của nhân dân. Nếu như thành ngữ là đối tượng nghiên cứu của ngành ngôn
ngữ, bộ môn từ vựng ngữ nghĩa nói riêng; thì tục ngữ là đối tượng nghiên
cứu của văn học dân gian. Thế nhưng để phân biệt và hiểu đúng thành ngữ,
tục ngữ trong một số trường hợp cũng không hề đơn giản.
Có thể kể ra những công trình tiêu biểu của các tác giả nghiên cứu đã
cố gắng đưa ra các tiêu chí phân biệt thành ngữ và tục ngữ như:
Tác giả Dương Quảng Hàm trong "Việt Nam văn học sử yếu" (1951)
đã nhận định: "Một câu tục ngữ tự nó phải có ý nghĩa đầy đủ, hoặc khuyên
răn, hoặc chỉ bảo điều gì, còn thành ngữ chỉ là những lời nói có sẵn để ta
tiện dùng mà diễn một ý gì hoặc tả một trạng thái gì cho có màu mè [15,
21]". Ở đây, tác giả chưa phân định rõ được thành ngữ và tục ngữ, về mặt
tác dụng của cả hai có phần giống nhau.
Trong Góp ý kiến về phân biệt thành ngữ với tục ngữ (1973), tác giả
Cù Đình Tú đã đưa ra nhận xét: "Sự khác nhau cơ bản giữa thành ngữ và
tục ngữ là ở sự khác nhau về chức năng, thành ngữ là những đơn vị định
danh, về mặt này thành ngữ tương đương như từ, còn thành ngữ cũng như
các sáng tạo khác của dân gian như ca dao, truyện cổ tích đều là các
thông báo"[60, 40].
Đến Vũ Ngọc Phan (1978) trong Tục ngữ, ca dao, dân ca Việt Nam,
tác giả đã phân biệt một cách khá rõ ràng hơn: "Tục ngữ là một câu tự nó
diễn đạt trọn vẹn một ý, một nhận xét, một kinh nghiệm, một luân lý, một
công lý, có khi là một sự phê phán. Còn thành ngữ là một phần câu sẵn có,
chưa cười đã tối chỉ về cảm giác thời gian ngày và đêm của hai mùa trong
năm.
Sự phân định thành ngữ và tục ngữ theo các tiêu chí trên chỉ mang tính
tương đối.
1.1.3.2. Thành ngữ trong văn bản nghệ thuật
Thành ngữ bắt nguồn từ chất liệu của dân gian. Nghệ thuật ngôn từ
của văn học dân gian bao giờ cũng đi tiên phong cho ngôn ngữ văn học. Đó
là ngôn ngữ chiết xuất từ ngôn ngữ dân tộc, gắn bó với lời ăn tiếng nói
15
hàng ngày của nhân dân, được nhân dân tinh luyện để tạo nên chất vàng
mười. Vì thế, thành ngữ mới mang lại giá trị biểu đạt hiệu quả như vậy.
Bên cạnh đó, thành ngữ cùng với ca dao, tục ngữ là một trong những
nguyên liệu quan trọng của ngôn ngữ văn học, nó không chỉ là sự biểu hiện
truyền thống văn hóa mà còn là những minh chứng quý giá cho nghệ thuật
văn chương riêng biệt của từng dân tộc. Chính nhờ điều này, nhiều nhà văn
nhà thơ tài năng đã vận dụng triệt để khả năng biểu đạt vô tận đó vào tác
phẩm của mình.
Thành ngữ được sử dụng tương đương như từ, có thể thay thế từ và kết
hợp với từ sáng tạo câu. Mỗi một thành ngữ gần như là một sự tái hiện về
các sự vật, sự việc, hình tượng cụ thể, riêng lẻ nâng lên ở mức độ phổ quát,
phổ biến và trừu tượng. Chính nhờ điều này, thành ngữ đã được vận dụng
rất phù hợp với đặc trưng của nghệ thuật văn chương, đặc biệt trong thi ca,
nhằm tạo ra tính hàm súc cô đọng, lời ít ý nhiều, giàu hình ảnh, nhạc điệu,
có tính nghệ thuật cao.
Trước hết xin được đề cập đến tác giả Nguyễn Du với tác phẩm
“Truyện Kiều”. Có thể thấy một trong những lí do làm người đọc cảm nhận
ngôn ngữ trong “Truyện Kiều”đậm chất dân gian, gần gũi với đời sống hàng
ngày là nghệ thuật sử dụng tiếng nói quần chúng của đại thi hào qua biệt tài
như: Chật như nêm (Trong nhà người chật như nêm); Giấm chua, lửa nồng
(Giấm chua lại tội bằng ba lửa nồng); Trong ấm ngoài êm (Sao cho trong
ấm thì ngoài mới êm); Khuất mặt, cách lòng (Dám xa xôi mặt mà thưa thớt
lòng); Kiếp tằm vương tơ (Con tằm đến thác hãy còn vương tơ); Kẻ cắp bà
già (Phen này kẻ cắp bà già gặp nhau); Cá chậu chim lồng (Bõ chi cá chậu
chim lồng mà chơi); Kiến bò miệng chén (Kiến bò miệng chén đi đâu)…
Không chỉ Nguyễn Du mà các tác giả khác như Nam Cao, Nguyên
Hồng, Ngô Tất Tố, Ma Văn Kháng…cũng đã chọn sử dụng các thành ngữ
trong tác phẩm của mình và đạt được hiệu quả nghệ thuật hết sức độc đáo.
Đặc biệt, Nam Cao đã sử dụng số lượng thành ngữ dày đặc trong tác phẩm
“Chí Phèo”. “Chí Phèo” là truyện ngắn có dung lượng một truyện vừa và
qui mô hình tượng, không gian, thời gian của một tiểu thuyết. Song, dù
17
truyện ngắn hay vừa thì điều rất đáng lưu ý là: trong 37 trang sách, xuất
hiện tới 47 thành ngữ. Đây là con số không câm lặng mà có giá trị biểu đạt
sâu sắc về nội dung và giá trị nghệ thuật sâu sắc.
Thành ngữ là một cấu trúc tuy có tính cố định, nhưng qua cách sử
dụng sáng tạo của các nhà văn nhà thơ trong các văn bản nghệ thuật, không
ít thành ngữ đã có sự biến đổi, mang lại hiệu quả diễn đạt cao. Chẳng hạn
như thành ngữ sông cạn đá mòn được Tản Đà viết:
"Dù cho sông cạn đá mòn
Còn non còn nước vẫn còn thề xưa"
Bác Hồ viết: "Đồng bào Nam Bộ là dân nước Việt Nam. Sông có thể
cạn, núi có thể mòn, song chân lý đó không bao giờ thay đổi!"
Ở hai ví dụ trên, ta thấy Tản Đà sử dụng thành ngữ nguyên dạng sông
cạn đá mòn thì Hồ Chí Minh lại sáng tạo bằng cách thêm yếu tố "có thể",
thay "đá" bằng "núi" để phù hợp với dụng ý diễn đạt của Người.
Như vậy, trong quá trình phát triển của ngôn ngữ thì thành ngữ cũng
bình đẳng với tác giả. Điều đáng nhấn mạnh ở đây, không phải là những
đối thoại thông thường mà là đối thoại về tư tưởng, về ngữ nghĩa, về quan
điểm nằm trong chính phát ngôn của họ. Bakhtin đã viết: “Chính sự định
hướng đối thoại của lời nói con người giữa những lời nói của người khác
(với tất cả mọi mức độ tính chất xa lạ) tạo cho ngôn từ những khả năng
nghệ thuật mới và cốt yếu, tạo nên tính văn xuôi nghệ thuật đặc thù mà
biểu hiện đầy đủ nhất và sâu sắc nhất là ở trong tiểu thuyết”.
Trước đây (1945-1975), nếu như ngôn ngữ đối thoại trong tiểu thuyết
thường mang đậm tính văn chương thì trong tiểu thuyết đương đại, ngôn
ngữ đời sống, ngôn ngữ thông tục tràn vào, không màu mè, làm dáng mà
đậm tính đời thường.
Từ sau Đổi mới đến nay, đặc tính đối thoại, đa âm trong ngôn ngữ và
văn phong tiểu thuyết đã được gia tăng một cách rõ rệt. Các tác phẩm Thời
xa vắng (Lê Lựu), Ngược dòng nước lũ (Ma Văn Kháng), Thiên sứ (Phạm
Thị Hoài), Bến không chồng (Dương Hướng), Mảnh đất lắm người nhiều
19
ma (Nguyễn Khắc Trường), Nỗi buồn chiến tranh (Bảo Ninh), Cơ hội của
Chúa (Nguyễn Việt Hà), Chinatown (Thuận), Ba người khác (Tô Hoài),
Ngồi (Nguyễn Bình Phương), Mười lẻ một đêm (Hồ Anh Thái)... cho thấy
tiểu thuyết Việt Nam đã vượt qua một chặng dài trên con đường hiện đại
hóa ngôn ngữ cũng như đa dạng hóa các dạng thức diễn ngôn. Ở đó, có thể
nhận ra những cuộc cật vấn, đối thoại, tranh biện giữa tác giả và nhân vật,
người kể chuyện và nhân vật, nhân vật và bạn đọc... trên một dòng tự sự
bắt đầu bị lật xới, xáo trộn mạnh mẽ. Trong tiểu thuyết hôm nay, đặc biệt là
ở các tiểu thuyết cách tân, sự đa dạng về ngôn ngữ không chỉ bao hàm sự
hiện diện đồng thời của các loại lời của người trần thuật, nhân vật và lời
gián tiếp tự do (đan xen lời của người trần thuật và lời nhân vật) mà còn là
cuộc phiêu lưu thực sự của chủ thể các loại lời ấy trên cùng một văn bản, là
kể trong khắc họa tính cách nhân vật. Mỗi nhân vật được nhà văn quan
niệm như một ý thức, một tiếng nói, một chủ thể độc lập. Nhà văn không
còn ở vị trí đứng trên, thông tỏ mọi sự kiện, toàn tri mà hòa nhập, tham gia
vào cuộc đối thoại của nhiều ý thức độc lập qua hệ thống hình tượng.
Trong những năm tiền đổi mới, ngôn ngữ đối thoại chiếm một tỷ lệ
cao trong tác phẩm của một số nhà văn trong đó có Nguyễn Khải. Lời phát
ngôn nào cũng thể hiện một đặc điểm tính cách cụ thể, luôn va đập, cọ xát,
đầy cá tính (Cha và con và..., Gặp gỡ cuối năm). Ý thức đối thoại trong
tiểu thuyết Nguyễn Khải những năm đổi mới tiếp tục tỏ rõ ưu thế trong bối
cảnh lịch sử mới, khi tính dân chủ của thể loại nói riêng và văn học nói
chung ngày càng được phát huy (Thượng đế thì cười). Đối thoại ở đây
không còn là đối thoại của nhiều chủ thể phát ngôn, nhiều bè mà là đối
thoại trong độc thoại. Trong Thượng đế thì cười không chỉ là cật vấn, đối
thoại với chính mình mà còn mang hơi hướng phản tỉnh, nhận thức lại, là
sự kết hợp hài hòa giữa diễn ngôn hướng nội với giọng điệu tự trào, vừa ưu
tư vừa hài hước: “Cuối cùng thì hắn nhận ra hắn là ai rồi. Hắn trở thành đàn
bà, thành thái hậu từ lâu rồi, tuy hắn chả có một tí quyền nào ngoài xã hội
nhưng vẫn là một quyền uy tối thượng trong gia đình”. Sự nhận ra bản thân
của hắn mang sắc thái tự giễu, tự trào của chủ thể các lời kể, tạo ra “chủ
21
âm” của văn bản. Hoặc đoạn thoại sau là sự đan cài giữa chủ thể lời với
những phát ngôn ngoài chủ thể: “Cô giáo chủ nhiệm gọi tôi ra gặp riêng.
Cô giáo dạy toán gọi tôi ra gặp riêng. Bí thư liên đoàn trường gọi tôi ra gặp
riêng. Em nên tập trung để dẫn đầu cả lớp kỳ thi cuối năm. Em nên tập
trung để mang lại danh dự cho toàn trường kỳ thi đại học. Người đem trách
nhiệm trao cho tôi. Người mang thi cử ra làm tôi sợ. Không ai đả động gì
tới Thụy. Không ai tỏ ra muốn biết Thụy” (Chinatown – Thuận). Hay: “Cả
nhà ai cũng muốn đi đón. Tính thuê một Lada. Hoàng gạt đi. Anh mượn