Khóa luận tốt nghiệp Trường ĐH Sư phạm Hà Nội 2
Nguyễn Thị Thủy K32A Khoa Ngữ văn
1
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Nguyễn Khắc Trường là nhà văn quân đội, bước vào làng văn từ những
năm ở tuổi 20, khi đó người đọc biết đến ông với bút danh Thao Trường- một
cái tên rất quân đội. Đó là đầu những năm 70, từ người lính kĩ thuật của binh
chủng Phòng không - Không quân, Thao Trường trở thành phóng viên mặt
trận viết cho tờ in của báo binh chủng này, rồi ông viết đều đều cho tạp chí
Văn nghệ quân đội. Ông thuộc số những nhà văn trưởng thành từ cuộc kháng
chiến chống Mĩ cứu nước, nhiều năm Thao Trường là tác giả bút kí, truyện
ngắn viết về chiến tranh, hậu phương quân đội và nông thôn. Năm 1986, ông
được trao giải nhất cuộc thi bút kí của tuần báo Văn nghệ và Đài Tiếng nói
Việt Nam phối hợp tổ chức. Sau này cũng tạp chí văn nghệ giới thiệu ông đi
học trường Viết văn Nguyễn Du (khoá 1) cho đến năm 1983.
Ở độ tuổi 44, cuốn tiểu thuyết Mảnh đất lắm người nhiều ma được
hoàn thành khi tác giả có độ chín nhất định về cảm nhận đời sống và nghề
văn. Đề tài và những vấn đề cuốn sách đặt ra không thật mới, vẫn là cuộc
tranh chấp quyền lực và ruộng đất ở nông thôn, vẫn là cuộc đấu tranh giữa cái
thiện và cái ác, nhưng điều tác giả quan tâm ở đây là cuộc sống ở nông thôn
thời kì đổi mới, ý thức dòng họ, gia tộc đang gây trở ngại cho sự nghiệp xây
dựng xã hội mới - xã hội dân chủ, cần đấu tranh một cách kiên định và quyết
liệt hơn. Tiểu thuyết này được trao giải A của hội nhà văn Việt Nam năm
1991 (cùng với hai cuốn tiểu thuyết Bến không chồng của Dương Hướng và
Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh). Mảnh đất lắm người nhiều ma từ khi
mới xuất hiện đã được giới nghiên cứu phê bình và bạn đọc quan tâm chú ý,
được dịch ra nhiều thứ tiếng nước ngoài, và đặc biệt được chuyển thể thành
kịch bản phim “Đất và người” năm 2001.
Khóa luận tốt nghiệp Trường ĐH Sư phạm Hà Nội 2
3
các nhà nghiên cứu, phê bình. Có thể kể đến các công trình nghiên cứu, các
bài viết sau:
Bài “Nguyễn Khắc Trường và…”, Trần Đăng Khoa đã rất sáng tạo khi
dựng nên một cuộc đối thoại giữa người và ma, khéo léo chỉ ra những ưu
điểm và hạn chế của cuốn tiểu thuyết Mảnh đất lắm người nhiều ma. Theo
Trần Đăng Khoa, điều đáng ghi nhận ở cuốn tiểu thuyết này là nhà văn đã có
vốn sống, sự am hiểu sâu sắc về đời sống nông thôn, ở nghệ thuật miêu tả tâm
lí nhân vật và ngôn ngữ của nó. Một nhược điểm dễ nhận thấy là kết cấu
truyện lỏng lẻo, bố trí sự xuất hiện nhân vật có phần gượng ép.
Trong bài viết “Thế giới kì ảo trong Mảnh đất lắm người nhiều ma từ
cái nhìn văn hoá” Lê Nguyên Cẩn đưa ra lời nhận định “cái tạo ra giá trị của
tác phẩm ngoài nội dung hiện thực gắn với một thời kì khó khăn của đất nước
mà còn là thế giời kì ảo mà Nguyễn Khắc Trường đã dụng công xây dựng với
các yếu tố kì ảo rất đặc trưng, đó là mô típ cái chết đi liền với môtíp ma hiện
hồn” Đặc biệt ở bài viết này tác giả còn chỉ rõ thế giới kì ảo được nhìn nhận
dưới ba góc độ: mối tình kì ảo, những nhân vật kì ảo, những nhân vật ma quái
dị dạng tạo ra sự lôi cuốn từ phía người đọc. Tuy chỉ đề cập tới một khía cạnh
của tác phẩm từ góc nhìn văn hoá nhưng bài viết là những chỉ dẫn, gợi ý quan
trọng để chúng tôi triển khai đề tài khoá luận này.
Trong cuộc thảo luận về tiểu thuyết Mảnh đất lắm người nhiều ma,
GS. Trần Đình Sử có sự đánh giá khách quan trên phương diện nội dung và
nghệ thuật cuốn sách như sau “ cuốn sách có sức lôi cuốn từ đầu đến cuối,
nhà văn đã đề xuất một hiện tượng xã hội nghiêm trọng đáng quan tâm trong
cuộc sống hiện nay là ý thức dòng họ, gia tộc đang gây trở ngại cho sự
nghiệp xây dựng xã hội mới, xã hội công dân ở nông thôn (…) Đọc Nguyễn
Khắc Trường, tôi thấy anh rất sung sức, rất giàu các vốn sống, đặc biệt là
ngôn ngữ rất phong phú, sinh động, các thành ngữ, tục ngữ, các ngôn ngữ
Khóa luận tốt nghiệp Trường ĐH Sư phạm Hà Nội 2
Nguyễn Thị Thủy K32A Khoa Ngữ văn
5
văn nghệ quân đội,…, đều ghi nhận giá trị nội dung và nghệ thật của tác
phẩm, bên cạnh đó là một số điểm non tay về kết cấu.
Nhìn chung các công trình nghiên cứu, các bài viết trên đều khẳng định
việc xây dựng thế giới nhân vật đa dạng, phức tạp là phương diện thành công
của tác phẩm. Tuy nhiên các tác giả mới đưa ra những nhận định khái quát mà
chưa dành sự quan tâm thoả đáng cho sự tìm hiểu thế giới nhân vật trong cuốn
tiểu thuyết này. Chính khoảng trống ấy đã gợi ý cho chúng tôi lựa chọn đề tài
này để tìm hiểu.
3. Đối tượng và Phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Khóa luận này tập trung nghiên cứu vấn đề: Thế giới nhân vật trong
tiểu thuyết Mảnh đất lắm người nhiều ma của Nguyễn Khắc Trường.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài khóa luận này lấy cuốn tiểu thuyết Mảnh đất lắm người nhiều
ma làm phạm vi nghiên cứu.
4. Mục đích nghiên cứu
Chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu: Thế giới nhân vật trong tiểu thuyết
Mảnh đất lắm người nhiều ma của Nguyễn Khắc Trường nhằm mục đích
sau:
Nắm vững hiểu biết lí luận về nhân vật, thế giới nhân vật trong văn học,
các biện pháp nghệ thuật thể hiện…
Vận dụng những kiến thức lí luận trên vào tiểu thuyết Mảnh đất lắm
người nhiều ma của Nguyễn Khắc Trường để làm nổi bật giá trị nội dung và
đặc sắc nghệ thuật của tác phẩm
5. Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở về đối tuợng và phạm vị nghiên cứu nêu trên chúng tôi sẽ
kết hợp vận dụng một số phuơng pháp nghiên cứu cơ bản sau:
Khóa luận tốt nghiệp Trường ĐH Sư phạm Hà Nội 2
Nguyễn Thị Thủy K32A Khoa Ngữ văn
7
NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN
1.1 . Quan niệm về nhân vật
1.1.1. Khái niệm về nhân vật và thế giới nhân vật
1.1.1.1. Khái niệm về nhân vật
Về mặt thuật ngữ:
Hiểu theo nghĩa rộng,“Nhân vật” là khái niệm không chỉ được dùng
trong văn chương mà còn ở nhiều lĩnh vực khác. Theo bộ Từ điển tiếng Việt
thì nhân vật là khái niệm hiểu theo hai nghĩa:
Thứ nhất, Nhân vật là đối tượng (thường là con người) được miêu tả,
thể hiện trong tác phẩm văn học. Thứ hai, đó là người có một vai trò nhất định
trong xã hội [12;881] Tức thuật ngữ “nhân vật” được dùng phổ biến ở nhiều
mặt, cả đời sống xã hội, đời sống nghệ thuật lẫn đời sống sinh hoạt hàng
ngày… Nhưng trong phạm vi nghiên cứu của khoá luận, chúng tôi chỉ đề cập
tới khái niệm nhân vật theo nghĩa thứ nhất mà bộ Từ điển tiếng Việt định
nghĩa như vừa trích dẫn ở trên, tức là nhân vật trong tác phẩm văn chương.
Với ý nghĩa như thế của khái niệm nhân vật, ta sẽ trở lại xuất xứ của
thuật ngữ này.
Trong tiếng Hy Lạp cổ, “nhân vật” ( được gọi với cái tên persona) lúc
đầu mang ý nghĩa chỉ cái mặt nạ của diễn viên trên sân khấu. Theo thời gian,
chúng ta đã sử dụng thuật ngữ này với tần số nhiều nhất, thường xuyên nhất
để chỉ đối tượng mà văn học miêu tả và thể hiện.
Đến cuốn Lí luận văn học, Phương Lựu đã định nghĩa khá kĩ về khái
niệm nhân vật văn học: Nói đến nhân vật văn học là nói đến con người được
miêu tả, thể hiện trong tác phẩm bằng phương tiện văn học. Đó là những nhân
Khóa luận tốt nghiệp Trường ĐH Sư phạm Hà Nội 2
Nguyễn Thị Thủy K32A Khoa Ngữ văn
8
bật nào đó trong tác phẩm (…) Nhân vật văn học là một đơn vị đầy tính ước
lệ, không thể đồng nhất nó với con người có thật trong đời sống [7;235].
Nói tóm lại, các nhà văn, các nhà nghiên cứu, nhà lí luận văn học bằng
cách này hay cách khác khi định nghĩa nhân vật văn học vẫn căn bản gặp
nhau ở những nội hàm không thể thiếu của khái niệm này: Thứ nhất, đó phải
là đối tượng mà văn học miêu tả, thể hiện bằng phương tiện văn học. Thứ hai,
đó là những con người hoặc những con vật, đồ vật, sự vật, hiện tượng mang
linh hồn con người, đó là hình ảnh ẩn dụ về con người. Thứ ba, đó là đối
tượng mang tính ước lệ và có cách điệu so với đời sống hiện thực bởi nó đã
được khúc xạ qua lăng kính chủ quan của người nghệ sĩ tài năng.
Đối với mỗi nhân vật văn học thì tính cách được coi là đặc điểm quan
trong nhất, là nội dung của mọi nhân vật văn học [10;280]. Đôtôiepki cũng
từng khẳng định: “ Đối với nhà văn, toàn bộ vấn đề là ở tính cách”. Tính cách
với ý nghĩa rất lớn như vậy nên trước kia một số giáo trình văn học Nga đã
gọi tính cách là nhân vật. Ở đây cần hiểu tính cách là phẩm chất xã hội lịch sử
của con người thể hiện qua các đặc điểm cá nhân gắn liền với phẩm chất tâm
sinh lí của họ, tính cách cũng là nhân vật nhưng là nhân vật được thể hiện với
một chất lượng tư tưởng và nghệ thuật cao hơn, tuy chưa đạt đến mức độ là
điển hình [2;105] và tính cách cũng tự nó cũng bao hàm những thuộc tính như
có nét cụ thể, độc đáo của một con người cá biệt nhưng lại mang cả những nét
chung, tiêu biểu cho nhiều người khác ở một mức độ nhất định đồng thời
cũng có một quá trình phát triển hợp với logíc khách quan của đời sống.
Như vậy, nhân vật có hạt nhân là tính cách. Trong tác phẩm văn
chương, có nhân vật được khắc hoạ tính cách nhiều hay ít nhưng cũng có
nhân vật không được khắc hoạ tính cách.
1.1.1.2. Khái niệm thế giới nhân vật
Khóa luận tốt nghiệp Trường ĐH Sư phạm Hà Nội 2
Nguyễn Thị Thủy K32A Khoa Ngữ văn
10
“Thế giới” là một khái niệm thuộc phạm trù triết học. Theo Từ điển
Trong thế giới nhân vật, người ta có thể phân chia thành các kiểu loại
nhân vật nhỏ hơn (nhóm nhân vật) dựa vào những căn cứ, tiêu chí nhất định.
Nhiệm vụ của người tiếp nhận văn học là phải tìm ra chìa khoá để bước vào
cánh cửa và khám phá thế giới nhân vật đó. Do đó nghiên cứu thế giới nhân
vật cũng khác với phân tích hình tượng thế giới nhân vật. Trong lịch sử văn
học, có thể nói, mỗi tác giả lớn đều có thế giới nhân vật riêng. Mỗi thể loại
văn học cũng có thế giới nhân vật với quy luật riêng của nó.
1.1.2. Vai trò của nhân vật văn học
Có thể nói rằng nhân vật văn học chính là hình ảnh thu nhỏ của con
người trong đời sống. Dưới lăng kính chủ quan của nhà văn, tính cách nhân
vật được nhào nặn ở mức độ nào đó, nhân vật sẽ trở thành hình tượng về con
người và cao hơn, nếu tính cách được khắc hoạ ở những nét điển hình thì
nhân vật sẽ trở thành điển hình của con người. Theo Bêlinxki, “nhà triết học
tư duy bằng phép tam đoạn luận, còn nhà thơ tư duy bằng hình tượng cụ thể
của một bức tranh”. Nói rộng ra tức là văn học phản ánh cuộc sống bằng hình
tượng, bằng những nhân vật cụ thể. Do đó vai trò, chức năng đầu tiên, trọng
yếu nhất của nhân vật là làm phương tiện để nhà văn khái quát hiện thực. Văn
học không thể thiếu vắng nhân vật bởi chỉ có thể qua nhân vật, nhà văn mới
thể hiện được nhận thức của mình về xã hội, về con người với những đặc
điểm về số phận, tích cách của nó. Nhân vật chính là người dẫn dắt người đọc
vào một thế giới riêng của đời sống trong một thời kì lịch sử nhất định
[12;126].
Tính cách của nhân vật mang vai trò đặc biệt quan trọng đối với cả nội
dung và hình thức của tác phẩm văn học. Về nội dung, nhân vật với tính cách
của nó đã trở thành phương tiện để thể hiện tư tưởng của tác phẩm, nó có
Khóa luận tốt nghiệp Trường ĐH Sư phạm Hà Nội 2
Nguyễn Thị Thủy K32A Khoa Ngữ văn
12
nhiệm vụ cụ thể hoá sự thực hiện chủ đề, tư tưởng tác phẩm, tức thông qua sự
vận động và mối liên hệ giữa các tính cách, người đọc sẽ đi đến một sự khái
rõ nhân vật chính và nhân vật trung tâm.
Thứ hai, căn cứ vào đặc điểm tính cách của nhân vật và lí tưởng xã hội
thẩm mĩ của tác giả lại có thể phân chia thành nhân vật chính diện (nhân vật
tích cực) và nhân vật phản diện (nhân vật tiêu cực). Hai kiểu nhân vật này
cũng mang tính lịch sử. Nhân vật chính diện mang trong mình phẩm chất đạo
đức phù hợp với lí tưởng xã hội thẩm mĩ của tác giả và thời đại, được nhà văn
khẳng định và đề cao. Ngược lại, nhân vật phản diện lại mang những phẩm
chất xấu xa, trái với lí tưởng đạo đức của tác giả và thời đại, đáng lên án và
phủ định.
Thứ ba, dựa vào sự phân chia loại thể theo truyền thống của Aristôt thì
gồm có nhân vật trữ tình, nhân vật tự sự, nhân vật kịch. Trong đó nhân vật trữ
tình được thể hiện chủ yếu qua thế giới tinh thần, nội tâm và cảm xúc phong
phú. Nhân vật trữ tình thường không thể hiện qua hành động hoặc nếu có xuất
hiện hành động thì hành động đó đóng vai trò khơi gợi tính cảm xúc chứ
không có tác dụng thúc đẩy thành xung đột. Nhân vật tự sự là nhân vật xuất
hiện trong các tác phẩm tự sự (truyện, tiểu thuyết, kí…) nó thường hiện lên
đầy đủ từ ngoại hình, cử chỉ, ngôn ngữ đến nội tâm bên trong. Nhân vật tự sự
là con người đời thường tham gia vào các tình huống khác nhau của đời sống
để tạo thành chuỗi các tình tiết xung đột trong tác phẩm. Bên cạnh đó nhân
vật kịch là loại nhân vật hiện lên chủ yếu qua hành động, ngôn ngữ, cử chỉ, lời
nói và xung đột, ít được miêu tả cụ thể về ngoại hình.
Ngoài các tiêu chí phân chia nhân vật ở trên còn có một tiêu chí nữa, đó
là dựa vào cấu trúc của nhân vật người ta phân loại thành: Nhân vật chức
năng, nhân vật loại hình, nhân vật tính cách, nhân vật tư tưởng.
Khóa luận tốt nghiệp Trường ĐH Sư phạm Hà Nội 2
Nguyễn Thị Thủy K32A Khoa Ngữ văn
14
Nhân vật chức năng: Là nhân vật xuất hiện để thực hiện một số chức
năng nào đó. Loại nhân vật này thường có đặc điểm, tính cách ổn định với
những phẩm chất cố định, không thay đổi từ đầu đến cuối. Nhân vật chức
khác của nghệ thuật biểu hiện. Quan niệm nghệ thuật về con người gắn liền
với đời sống văn học của mỗi giai đoạn lịch sử.
Văn học Việt Nam sau 1986 có sự chuyển biến từ tư duy sử thi sang tư
duy tiểu thuyết, từ cảm hứng lịch sử dân tộc sang cảm hứng thế sự đời tư.
Tiểu thuyết đã phát huy được khả năng tiếp cận và phản ánh hiện thực con
người trong giai đoạn mới một cách nhanh chóng và sắc bén.
Sang thế kỉ 20, khi các tiểu thuyết gia hiện đại phương Tây, đặc biệt là
ở Pháp không chú trọng đến nhân vật, họ cho rằng tiểu thuyết của các nhân
vật đã thuộc về quá khứ. Khi hoàn cảnh xã hội đã đổi khác, trong bối cảnh
hỗn độn của cuộc sống cá nhân không còn giữ được sức mạnh tuyệt đỉnh, vì
thế tiểu thuyết đã không dung nạp loại nhân vật có tính cách hoặc như người
ta thường gọi là “phản nhân vật”. Trong tác phẩm của họ thay vì nhân vật là
“đồ vật” hoặc chỉ còn là duy nhất dòng chảy của ngôn từ, nhân vật chỉ còn là
những đại từ mơ hồ thì trong tiểu thuyết Việt Nam hiện đại, con người với tất
cả những mối quan hệ ứng xử, thân phận và cuộc đời của nó là đối tượng và
cũng là đặc trưng cơ bản của thể loại.
Số phận con người trở thành mối quan tâm hàng đầu của nhà văn.
Nhiều cuốn tiểu thuyết đã hướng tới miêu tả số phận những con người bình
thường với những bi kịch của cuộc đời họ. Bi kịch giữa khát vọng và thực
trạng, giữa cái muốn vươn lên và cái kìm hãm, giữa nhân bản và phi nhân
bản.
Trong giai đoạn đổi mới, vấn đề con người cá thể được đặt ra một cách
bức xúc, mạnh mẽ, trong cảm hứng sáng tạo của nhà văn. Song con người cá
thể trong văn học hiện nay không phải là con người của chủ nghĩa cá nhân,
Khóa luận tốt nghiệp Trường ĐH Sư phạm Hà Nội 2
Nguyễn Thị Thủy K32A Khoa Ngữ văn
16
của chủ nghĩa cực đoan, phủ nhận mọi nền tảng đạo đức đã được thiết lập
không chịu sự tác động của xã hội. Mà ở đây số phận cá nhân được giải quyết
thoả đáng trong mối liên hệ mật thiết với cộng đồng xã hội. Đằng sau mỗi cá
thế với tất cả chất người tự nhiên của nó, ánh sáng và bóng tối, cao cả và thấp
hèn, ý thức và vô thức. Thế giới bên trong đầy bí ẩn và phức tạp của con
người chịu sự chi phối của hai lực lượng vừa đối lâp, vừa hoà đồng, vừa chối
bỏ lại vừa chung sống với nhau bởi “con người không bao giờ trùng khít với
chính nó” (Bakhơtin).
Tiểu thuyết những năm đổi mới đã quan niệm con người cá nhân như
một nhân cách kiểu mới. Nhà văn đã nhận diện con người đích thực với nhiều
kiểu dạng nhân vật, biểu hiện phong phú và đa dạng nhu cầu tự ý thức, sự hoà
hợp con người tự nhiên, con người tâm linh và con người xã hội.
Trên lĩnh vực tiểu thuyết, nhà văn đã khắc hoạ chân dung những con
người vừa đời thường, bản thể, vừa đẹp đẽ, thánh thiện, luôn khát khao cái
đẹp hướng tới cái thiện. Đó là nét nổi bật mang ý nghĩa nhân văn khi nhìn
nhận con người, tạo nên tiếng nói đa thanh, đầy hoà âm và nghịch âm trong
tiểu thuyết.
Khóa luận tốt nghiệp Trường ĐH Sư phạm Hà Nội 2
Nguyễn Thị Thủy K32A Khoa Ngữ văn
18
CHƯƠNG 2: THẾGIỚI NHÂN VẬT TRONG TIỂU THUYẾT
phổng phao “mặt mũi thô vụng, thật thà” không hiểu ma xui, quỷ khiến thế
nào mà tối nào cậu cũng giấu cha mẹ ra gốc si hẹn hò với “con ma nữ trắng
lôm lốp từ chân tới đầu. Tóc rất dài, buông xoã, khiến khuôn mặt lấp vào
trong mờ ảo, không sao nhìn rõ được. Chân đi nhẹ lướt (…) người con gái kia
chỉ là một cái bóng trắng, một hình người chứ không phải là người. Cái hình
người ấy đi tựa vào vai con trai ông. Đang chập chờn ở bên trái, chớp mắt
một cái lại thấy cái bóng đi bên phải cậu cả và rất nhanh đã hiện rõ lồ lộ là
một người đàn bà đẹp như tiên sa”. Khi bị ông bố phát hiện và không còn
gặp ma nữa, cậu bị ma ám và ốm li bì. Thầy cúng trị tà ba đêm bẩy ngày,
dùng bùa phép và hình nhân thế mạng, sáng ra đã thấy một bầy đom đóm chết
dày quanh gốc si như một sự tuẫn tiết, con nào con nấy to bằng đầu đũa, cậu
cả khỏi ốm nhưng như người mất trí [14;12]. Như vậy sự xuất hiện của nhân
vật ma nữ trong tác phẩm vừa tạo không khí hư - thực, ma quái rùng rợn,
đồng thời yếu tố kì ảo này còn là cách thức lí giải số phận cuộc đời éo le của
nhân vật chính - câụ cả Quỳnh. Ở đây có thể thấy sự khác nhau trong mục
đích nghệ thuật của các tác giả cùng sử dụng một phương thức nghệ thuật.
Nếu như Cù Hựu, Bồ Tùng Linh…xây dựng chuyện tình giữa người và hồn
ma nhằm phê phán, trừng phạt thói ham nữ sắc của nhân vật nam, trực tiếp
mang tính chất thuyết lí, giáo dục, cảnh giới con người trước bờ vực của sự sa
đoạ nhân cách, hay ngợi ca tình yêu tự do… thì Nguyễn Khắc Trường qua
nhân vật kì ảo là ma nữ để lí giải số phận con người và xã hội hiện thực.
Trong Mảnh đất lắm người nhiều ma có năm cái chết trải dài theo
tiến trình thời gian, gắn với những sự kiện đang diễn ra lúc công khai, lúc
ngấm ngầm trong cái xóm Giếng Chùa bé nhỏ ấy. Đó là cái chết bất thường
Khóa luận tốt nghiệp Trường ĐH Sư phạm Hà Nội 2
Nguyễn Thị Thủy K32A Khoa Ngữ văn
20
của ông Vũ Đình Đại, cái chết bi thảm của lão Quyềnh, cái chết bi ai của
người phụ nữ vô tội là bà Son, cái chết hiển thánh của cô Thống Biệu, và đặc
biệt là cái chết khiếp đảm của nhân vật kì ảo không tên - con chị Bé. Đứa bé
không giống với bất kì ai ở cái xóm Giếng Chùa. Trên mảnh đất này chỉ có
mình “cô” tiên đoán được sự hỗn loạn sắp diễn ra ở nơi làng quê bé nhỏ này
nên sớm thoát tục vì bất lực. Cô Thống xuất hiện còn tạo ra cái phông ma
quái - tiếng nói của vô thức và là người phát ngôn cho chủ đề câu chuyện.
Sự lựa chọn nhân vật, xây dựng mối quan hệ giữa các nhân vật là điểm
hội tụ nội dung tác phẩm, là phương tiện nghệ thuật thể hiện quan niệm về
con người, về xã hội của tác giả. Các nhân vật kì ảo được xây dựng trong tổng
thể thế giới nhân vật của tiểu thuyết tạo nên chiều sâu triết lí và sức sống lâu
bền cho tác phẩm.
2.2. Nhân vật tha hoá
Theo Từ điển tiếng Việt, tha hoá là sự biến chất thành xấu đi
[12;1126]
Nhân vật tha hoá là nhân vật suốt ngày bận rộn với những toan tính dục
vọng, ham muốn cá nhân. Và trong cuộc sống mưu sinh đó không ít kẻ đã ngã
gục, họ không còn giữ được cái bản chất và thiên lương trong sáng nữa. Tâm
hồn họ bị vẩn đục, suy nghĩ thì tối tăm, nhỏ nhen, hành động trở nên bỉ ổi. Sự
tha hoá biến chất trở thành sự thực tất yếu và phổ biến. Với tâm lí như thế,
con người không chỉ tăm tối trong suy nghĩ và hành động mà còn trở nên độc
ác, lạnh lùng và tàn nhẫn.
Trong “Mảnh đất lắm người nhiều ma”, dường như bên cạnh kiểu
nhân vật kì ảo, Nguyễn Khắc Trường dụng công xây dựng nhân vật tha hóa
nhằm đưa người đọc trở về gần hơn nữa với thế giới thực tại, để lí giải sâu sắc
hơn cuộc sống nơi Giếng Chùa đâu mới là phần ma, phần quỷ, nguyên nhân
nào dẫn tới hiện tượng đau thương đó. Trong giới hạn đề tài khoá luận, chúng
Khóa luận tốt nghiệp Trường ĐH Sư phạm Hà Nội 2
Nguyễn Thị Thủy K32A Khoa Ngữ văn
22
tôi xem xét nhân vật tha hoá trong tiểu thuyết Mảnh đất lắm người nhiều ma
dưới góc độ hai kiểu nhân vật chính như sau:
2.2.1. Nhân vật tha hoá do hoàn cảnh sống
trong truyện ngắn cùng tên của Nam Cao, tất cả dường như trở nên méo mó,
khổ sở, không những họ tự đánh mất đi nhân hình mà nhân tính đã bị quỷ dữ
lấy đi tự lúc nào không hay. Mối quan hệ tốt đẹp giữa anh em trong gia đình,
tình nghĩa sâu nặng giữa hàng xóm láng giềng giờ đây bị đẩy lùi ra xa,
nhường chỗ cho những ham muốn vật chất tầm thường, họ ích kỉ, mất tính
người. Quàng là người em trai ruột của Quềnh, khi cha mẹ mất đi đã không
chia hương hoả cho người anh ngờ nghệch mà còn “chiếm hết cả ao cả vườn,
chỉ xí cho Quềnh một góc ớm nắng ven vẻn chừng dăm cái nong, cắt đứt tình
nghĩa với người anh không chút thương xót. Quàng trở nên táng tận lương
tâm khi nghe tin Quềnh bội thực mà chết (…) Quàng quyết định chôn cất anh
mình thật nhanh, con ma keo kiệt trong nguời Quàng đã xui Quàng làm một
việc táng tận, hắn chôn ông anh khốn khổ bằng một bó chiếu” [14; 51].
Cuộc sống túng thiếu, nghèo khó đã làm con người tự đánh mất đi nhân
hình, nhân tính của chính mình. Đó là hình ảnh anh chàng Thó không nghề
nghiệp ổn định, làm việc bất lương hay ăn trộm ăn cắp, chỉ vì một hũ rượu
trong đám tang cụ cố Vũ Đình Đại, Thó chấp nhận là một con ma đội lốt
người doạ dẫm bà Phúc “Thó vớ lấy cái chậu nhôm đang dựa cạnh đống bát
đũa, đưa lên che lấy mặt, chân đứng lom khom ở tư thế vùng chạy. Bà Phúc
đang xăm xăm, tí nữa đâm sầm vào “con ma” đang đứng sừng sững trước
mặt [14; 35]. Cuộc sống mưu sinh xô đẩy Thó vào con đường tiếp tay cho kẻ
ác, đang tâm đào mồ, đào mả cụ Cố chi họ Vũ Đình, đào mả chôn cất lại xác
Quyềnh…đó là bi kịch của người nông dân mất đi bản chất lương thiện, đang
sa ngã, trượt dài trên con đường tội ác.
Khóa luận tốt nghiệp Trường ĐH Sư phạm Hà Nội 2
Nguyễn Thị Thủy K32A Khoa Ngữ văn
24
Cái đói nghèo khiến con người ta dễ dàng đánh đổi tất cả chỉ mong
mình tồn tại như một con người. Đó là hình ảnh của người phụ nữ tha phương
cầu thực với cái tên chị Bé “Đó là một người đàn bà tuổi dòng dòng. Cao và
gầy. Hốc hác và lôi thôi. Nhưng chân tay lại rất nhanh” Cuộc đời của chị trải
lão Quyềnh về lại hốt hoảng tưởng lầm người phụ nữ sống nhờ túp lều lão là
ma “Thó bước giật lùi. Được mấy bước Thó quay cổ vùng chạy. Đúng là như
ma đuổi, lao cả vào những bụi gai xấu hổ, ngã lăn chiêng lại vùng dậy chạy.
Vừa chạy miệng vừa a a như người câm hoảng loạn” Không chỉ có Thó,
ngay cả bà Đồ Ngật, đã sống hơn nửa cuộc đời mà vẫn bị cái tâm lí ấy chi
phối, ám ảnh, bởi vậy khi trông thấy chị Bé “bà Đồ Ngật chạy te tái đến thở
ra đằng tai” [14; 53].
Như vậy, thông qua hàng loạt những nhân vật trong truyện: bà Đồ Ngật,
ông Quản Ngư, thằng Thó, chị Bé…có thể nói rằng môi trường sống đã chi
phối rất lớn tới cuộc sống, tính cách và tình cảm của con người. Chỉ cần một
nạn đói những năm Giáp hạt thôi, người ta sẵn sàng từ bỏ những tình cảm tốt
đẹp, thiêng liêng để mưu cầu lợi ích cá nhân, đánh mất tình thương và trách
nhiệm bản thân mình. Những phong tục hủ lậu, những định kiến lỗi thời của
một xã hội đã qua giờ đây vẫn còn sức mạnh chi phối tới đời sống tâm linh, ý
thức của con người biến họ dần trở nên ù lì, mệt mỏi, mất sự sống.
2.2.2. Nhân vật tự tha hoá
Nhân vật tự tha hoá là những con người bản thân họ ích kỉ, vụ lợi, tự
đánh mất đi bản thân mình và những mối quan hệ tốt đẹp xung quanh. Trong
những năm đầu của công cuộc đổi mới, cuộc sống nông thôn ta cũng cựa quậy
vận động theo chiều hướng tích cực. Song bên cạnh đó là cuộc đấu tranh dai
dẳng, ngấm ngầm mà vô cùng quyết liệt nhằm tranh chấp quyền lực, đất đai
giữa các bè đảng, phe cánh trong làng ngoài xã. Họ không trừ một thủ đoạn
nào (kể cả dồn người thân vào chỗ chết), lợi dụng nhân danh các tổ chức