thế giới nhân vật trong tiểu thuyết hồ quý ly và mẫu thượng ngàn - Pdf 24

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Vài thập kỷ cuối thế kỷ XX, tiểu thuyết Việt Nam nh có phần chững
lại, Ýt gặt hái được những thành công rực rỡ. Người ta thường nhắc đến
những thành công ở thể loại truyện ngắn của nhiều cây bút có thương hiệu
như Ma Văn Kháng, Nguyễn Khải, Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Ngọc Tư,
Còn ở thể loại tiểu thuyết, trong vài thập kỷ này, dường như đang vắng bóng
những tên tuổi nổi trội.
Trước thực tế đó, những người quan tâm đến sự phát triển của tiểu
thuyết đã phải lên tiếng "khích lệ" hoặc dóng những hồi chuông "báo động"
về tiểu thuyết. Chuyên luận Tiểu thuyết Việt Nam đang ở đâu? của nhiều tác
giả cùng các bài viết nghiên cứu phê bình của những cây bút tiểu thuyết có
nghề đang hâm nóng bầu không khí tiểu thuyết. Kết quả, có khá nhiều ý kiến
trái ngược nhau khi đánh giá thực trạng tiểu thuyết đương đại. Nhà văn Ma
Văn Kháng trong bài viết Tiểu thuyết, một giá trị không thể thay thế trên báo
Văn nghệ số 46 năm 2002 đã khái quát về tình hình tiểu thuyết Việt Nam như
sau: "Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại dường như đang rơi vào trạng thái cụt
nhụt sức sáng tạo. Số tiểu thuyết hàng năm đã Ýt ỏi, lại còn yếu kém, gần nh
không gây được Ên tượng gì với bạn đọc"
Trong hoàn cảnh đó, Nguyễn Xuân Khánh cho ra đời hai tiểu thuyết:
Hồ Quý Ly (2000) và tiếp đó là Mẫu Thượng Ngàn (2006) đã làm xôn xao văn
đàn Việt Nam.
Cả hai cuốn tiểu thuyết đều giành những giải thưởng cao: Hồ Quý
Ly - Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam - 2001, giải thưởng Hội Nhà văn
Hà Nội 2001 ; Mẫu Thượng Ngàn - giải thưởng Hội Nhà văn Hà Nội
2006 , được giới nghiên cứu phê bình đánh giá cao và độc giả đón nhận
nồng nhiệt. Đây thực sự là một kết quả đáng trân trọng của tiểu thuyết Việt
Nam đương đại.
1
Hai cuốn tiểu thuyết đã thành công trên nhiều bình diện, có nhiều giá
trị, nhưng Ên tượng nổi bật là sức cuốn hút của thế giới nhân vật của chúng.

đội. Trong thời gian đó, ông sáng tác truyện ngắn đầu tay Một đêm và được
giải thưởng Văn nghệ Quân đội năm 1958. Đó là chuyện về một anh lính trẻ
đi bộ suốt đêm để về trả phép đúng hẹn, và suốt đêm Êy anh đẩy giúp chuyến
xe của một người đàn bà. Tiếp đó năm 1963 , Nguyễn Xuân Khánh cho ra
mắt tập truyện Rừng sâu. Câu chuyện mang tên tập sách nói về một anh bộ
đội coi kho hàng trong rừng sâu, hết chiến tranh người ta quên mất cái kho
đó, nhưng anh vẫn ở lại rừng sâu coi kho
Sau đó, vì bị coi là "có vấn đề tư tưởng", Nguyễn Xuân Khánh không
được làm công tác văn hoá, tư tưởng trong Quân đội. Ông được giải ngũ, về
làm việc ở Báo Thiếu Niên tiền phong. Rồi "tai nạn nghề nghiệp" ông phải về
hưu non. Ông sống cùng vợ con tại căn nhà nhỏ, trong ngõ phố Trần Khát
Chân và nếm trải đủ mọi khó khăn thiếu thốn của cuộc sống: Ông làm thợ
may, nuôi lợn, có lúc còn làm nghề bán máu,
Cuộc đời ông có quá nhiều ngã rẽ và không Ýt những gian nan, nhưng
nghiệp viết văn thì dai dẳng. Nguyễn Xuân Khánh viết đều đặn, không bao
giờ nghỉ. Trong những năm nuôi lợn ông đã viết cuốn tiểu thuyết Trư Cuồng
kể chuyện về cái chứng điên của mét người khi quá gần gũi với lợn.
Song song với Trư Cuồng, Nguyễn Xuân Khánh còn viết Suối Đen nói
về cái cống nước trước cửa nhà ông ở xóm Thanh Nhàn chảy từ Nhà máy
rượu Hà Nội ra sông Lừ đã thành một con suối. Bên con suối đó là những
thân phận ông gặp hàng ngày và cảm thương họ.
Còng trong những năm gian nan đó, Nguyễn Xuân Khánh viết tiểu
thuyết Miền Hoang tưởng - kể chuyện về những con người đời thường,
những vấn đề xám xịt trong hiện thực cuộc đời, như anh nhạc sỹ bị đuổi
3
khỏi biên chế, anh giáo viên nghèo, anh hoạ sỹ thất nghiệp, Năm 1990,
Nguyễn Xuân Khánh cho công bố bản thảo đó và đã cÈn thận đứng dưới
cái tên khác - bót danh Đào Nguyễn, nhưng tác phẩm bị phê phán nặng
nề. Có người còn đòi đưa anh ra toà. Nhưng mét sù may mắn đã cứu
Nguyễn Xuân Khánh.

người với ý nghĩa trọn vẹn của nó.
Sau đây là một sè ý kiến tiêu biểu về nghệ thuật tiểu thuyết và nhân vật trong
Hồ Quý Ly và Mẫu Thượng Ngàn đã công bố trên sách báo, luận văn tốt nghiệp.
VÒ cuốn Hồ Quý Ly:
Trong cuéc Hội thảo về tiểu thuyết Hồ Quý Ly ngày 21/9/2000 do Nhà
xuất bản Phụ nữ kết hợp với Hội Nhà văn Hà Nội tổ chức, đã có rất nhiều ý
kiến đánh giá:
Nhà văn Vũ Bão nhận xét: "Cuốn tiểu thuyết Hồ Quý Ly đã làm sang
cho Hội Nhà văn Hà Nội. Mỗi nhân vật của Nguyễn Xuân Khánh thường
mang thêm một tầng ý nghĩa mới Èn mình giữa các dòng chữ. Nhà văn
Nguyễn Xuân Khánh không đi theo vết chân đi trước. Ông rẽ trái, đạp cỏ lau,
đạp đá tai mèo, dẫn nhân vật băng qua những miền đất mới. Ông không
buông mình trôi xuôi theo dòng chảy của lịch sử. Ông cắt ngang cuộc đời đầy
biến động, tìm những nét tinh tế trong tính cách nhân vật, giành không gian
cho nhân vật hoạt động".
Nhà văn Trần Thị Trường trong bài Những nhân vật nữ trong tiểu
thuyết Hồ Quý Ly, đã đưa ra những ý kiến xác đáng về cách xây dựng các
nhân vật nữ của Nguyễn Xuân Khánh: " Mười bốn người phụ nữ, mười bốn
số phận, mười bốn tính cách và mười bốn lối ứng xử, để rồi có mười bốn kết
cục."
5
Theo bà, Nguyễn Xuân Khánh đã xây dựng hết sức thành công các
nhân vật nữ. Nguyễn Xuân Khánh đã "chiêm ngẫm được cả những ý nghĩ
trong cõi thẳm sâu tâm hồn người khác".
Nhà văn Châu Diên trong bài Tham luận về tiểu thuyết Hồ Quý Ly cũng
đã khẳng định những thành công của Nguyễn Xuân Khánh ở nhiều phương
diện, đặc biệt ông nhấn mạnh:
"Nói đến cách tạo nhân vật, ta sẽ không thể nào quên công lao của
Nguyễn Xuân Khánh trong việc tạo ra nhân vật chính Hồ Quý Ly. Đó là mét
con người có nhiều phẩm chất ".

khác nữa. Nhìn chung các tác giả đều đã chỉ ra được nét đặc sắc của Nguyễn
Xuân Khánh trong nghệ thuật xây dựng nhân vật, tạo nên thế giới nhân vật vô
cùng chân thực, sống động, hấp dẫn.
Tuy nhiên, các bài báo, nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở mức độ giới
thiệu khái quát hoặc bước đầu đánh giá thành công hay hạn chế ở một khía
cạnh nào đó của cuốn tiểu thuyết mà thôi. Những ý kiến đó là xác đáng
nhưng chưa hệ thống và chưa minh chứng rạch ròi.
Đã có một số luận văn Thạc sỹ khoa học Ngữ văn đi chuyên sâu về một
số khía cạnh của cuốn tiểu thuyết như: luận văn Tiểu thuyết lịch sử Hồ Quý
Ly - 2004 của Lê Thị Chung đã nghiên cứu và chỉ ra những thành công của
cuốn tiểu thuyết ở góc độ đặc điểm thể loại tiểu thuyết lịch sử; khẳng định vị
trí của Hồ Quý Ly trong tiến trình phát triển của tiểu thuyết lịch sử Việt Nam.
Lê Thị Chung còng rất quan tâm đến vấn đề nhân vật của cuốn tiểu thuyết.
Luận văn đã có cách đánh giá một cách khá hệ thống về đặc điểm thế giới
nhân vật trong tiểu thuyết Hồ Quý Ly; nhân vật lịch sử, nhân vật hư cấu, nhân
vật chính diện, nhân vật phản diện, nhân vật trung gian, cho ta hình dung về
sự đa dạng, phong phú của hệ thống nhân vật trong tác phẩm.
7
Đỗ Hải Ninh trong luận văn Tiểu thuyết Hồ Quý Ly trong sự vận động
của tiểu thuyết lịch sử nước ta nửa sau thể kỷ XX (2003), đã đề cập và chỉ ra
một số nét đặc sắc của thế giới nhân vật trong cuốn tiểu thuyết: nhân vật đầy
sức sống, nhân vật tư tưởng
Trong luận văn: Nhìn chung về tiểu thuyết Việt Nam từ năm 1995 đến
nay (2005) của Phạm Thị Thu Thuỷ đã khẳng định: Nguyễn Xuân Khánh có
thành tựu trong việc xây dựng nhân vật tiểu thuyết, đặc biệt xây dựng nhân
vật chính Hồ Quý Ly.
Tiếp nối những người đi trước, Luận văn của chúng tôi sẽ tiếp tục phát
hiện những nét độc đáo của Nguyễn Xuân Khánh trong nghệ thuật xây dựng
thế giới nhân vật ở tác phẩm của ông.
Về cuốn Mẫu Thượng Ngàn :

những quan niệm khác nhau" [36-43].
Nói về kết cấu tiểu thuyết, nhà văn Đỗ Ngọc Yên nhận xét: "Nhà văn
Nguyễn Xuân Khánh đã tạo lập được một kiểu kết cấu mới, chặt chẽ và hoàn
chỉnh xoay quanh việc miêu tả đối thoại và quá trình tiếp biến giữa các nền
văn hoá để tìm ra đâu là bản sắc văn hoá Việt" [59-12].
Bên cạnh đó, tác phẩm cũng còn chưa tránh khỏi một sè "tì vết". Hội
đồng xét giải của Hội Văn học nghệ thuật Hà Nội đã chỉ ra hạn chế của tác
phẩm "ở mét số chương đoạn, sự dông dài tỉ mỉ làm chùng lại dòng chảy của
câu chuyện". Nhưng hạn chế là rất Ýt, rất nhỏ so với những thành công của
cuốn tiểu thuyết. Và “Mẫu Thượng Ngàn vẫn là cuốn tiểu thuyết nổi bật
trong những ứng cử viên của giải thưởng năm nay" (Nhận xét của Hội đồng
xét giải Hội Văn học Nghệ thuật Hà Nội năm 2006).
Gần đây nhất là kết quả nghiên cứu của Hoàng Thị Thu Trang trong
Khoá luận tốt nghiệp Thế giới nhân vật trong tiểu thuyết Mẫu Thượng Ngàn
-5/2007, đã phát hiện ra và bước đầu khái quát thành một số đặc điểm của thế
9
giới nhân vật trong tác phẩm: thế giới nhân vật phong phó, sinh động, có
nhiều tính cách Hoàng Thị Thu Trang cũng đã chỉ ra: trong Mẫu Thượng
Ngàn, Nguyễn Xuân Khánh sử dụng khá đa dạng các biện pháp nghệ thuật
xây dựng nhân vật Tuy nhiên, với khuôn khổ của một Khoá luận tốt
nghiệp, tác giả luận văn cũng chưa triển khai vấn đề một cách hệ thống, sâu
sắc.
Nh vậy, những ý kiến nhận xét, đánh giá về cuốn Mẫu Thượng Ngàn
mới chỉ dừng lại ở mức độ khái quát, sơ lược. Và vì mới ra đời, nên cũng
chưa có những công trình khoa học nghiên cứu chuyên sâu về nó. Trong luận
văn của mình, chúng tôi sẽ đi sâu vào tìm hiểu tác phẩm để rót ra những kết
luận, những ý kiến xác đáng, mới mẻ về cuốn tiểu thuyết. Đặc biệt là những
phát hiện về thế giới nhân vật tác phẩm mà đề tài đi sâu.
3. Nhiệm vô, đối tượng nghiên cứu
Ở luận văn này, chúng tôi sẽ tìm hiểu, hệ thống, phân tích, đánh giá các

một số tác giả tiêu biểu khác để làm nổi bật sức hấp dẫn của thế giới nhân vật
trong hai cuốn tiểu thuyết Hồ Quý Ly và Mẫu Thượng Ngàn.
Những phương pháp này chúng tôi sử dụng có khi tách biệt, nhưng hầu
nh là đan xen, kết hợp trong quá trình nghiên cứu hoàn thành luận văn này.
6. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Đôi nét khái quát lý thuyết về nhân vật văn học, nhân vật
trong thể loại tiểu thuyết và việc xây dựng thế giới nhân vật.
11
Chương 2: Thế giới nhân vật trong tiểu thuyết Hồ Quý Ly và Mẫu
Thượng Ngàn .
Chương 3: Nghệ thuật xây dựng thế giới nhân vật trong tiểu thuyết Hồ
Quý Ly và Mẫu Thượng Ngàn.
12
PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1
ĐÔI NÉT KHÁI QUÁT LÝ THUYẾT VỀ NHÂN VẬT VĂN HỌC,
NHÂN VẬT TRONG THỂ LOẠI TIỂU THUYẾT VÀ VIỆC
XÂY DỰNG THẾ GIỚI NHÂN VẬT.
1.1. Nhân vật văn học
1.1.1. Khái niệm: "Nhân vật văn học là con người được miêu tả thể hiện
trong văn học bằng phương tiện văn học [64 - 277]. Nói cách khác, nhân vật
văn học là hình tượng nghệ thuật về con người, có ý nghĩa con người. Nhân
vật là con đẻ của nhà văn, là sản phẩm của của tư duy nghệ thuật, sự sáng tạo
của nhà văn, nhằm thể hiện một tư tưởng cụ thể.
Nhân vật văn học có thể là những con người giống như thật hoặc có
nguyên mẫu ở ngoài đời như Mẹ La, ông Dâng, cụ Cam, mẹ Nghĩa, Đơ
Vanhxi, ThySan, Giáng Hương trong Cửa Biển của Nguyên Hồng; là Quang
Trung – Nguyễn Huệ trong Hoàng Lê Nhất Thống Chí của nhóm Ngô Gia

biết, ước ao, kỳ vọng về con người. Nhà văn sáng tạo nhân vật là để thể hiện
những cá nhân nhất định và quan niệm về các nhân vật đó" [64-278]. Thông
qua các nhân vật, nhà văn có thể khái quát các tính cách, số phận con người
và các quan niệm về chúng. Tính cách là một hiện tượng lịch sử , xã hội xuất
hiện trong hiện thực khách quan. Chức năng khái quát của nhân vật cũng
mang tính lịch sử. Tức là, mỗi nhân vật thường mang ý nghĩa tiêu biểu cho
một thời đại nhất định. Ví dụ những nhân vật Kiều, Đạm Tiên trong Truyện
Kiều của Nguyễn Du là hiện thân cho nỗi bất hạnh của người phụ nữ dưới
thời phong kiến - những số phận "tài hoa mà bạc mệnh"; nhân vật chị Dậu
trong Tắt Đèn của Ngô Tất Tố là tiêu biểu cho nỗi khổ của người phụ nữ nông
dân Việt Nam trước cách mạng
14
Nhưng ý nghĩa của nhân vật không chỉ là thể hiện tính cách. Vì mỗi
tính cách là kết tinh của một môi trường cho nên nhân vật còn là người dẫn
dắt ta vào một thế giới đời sống. Ví dụ: nhân vật Lão Hạc, nhân vật Chí Phèo
trong các tác phẩm cùng tên của Nam Cao dẫn ta vào thế giới đời sống đói
nghèo, túng quẫn của những người nông dân Việt Nam trước cách mạng: Họ
bị đẩy vào bước đường cùng không lối thoát (Lão Hạc); bị biến dạng cả nhân
hình, nhân tính (Chí Phèo). Hay những nhân vật cụ Cố Hồng, Xuân Tóc đỏ,
cô Tuyết, bà Phó Đoan, Tuypn trong Số Đỏ của Vũ Trọng Phụng, lại dẫn ta
vào thế giới đời sống của tầng lớp tiểu tư sản thành thị Việt Nam những năm
1936 - 1939 thế kỷ XX khi mà xã hội đang rộ lên phong trào "cải cách, Âu
hoá" với tất cả sự nhố nhăng, đồi bại cái xã hội mà Vũ Trọng Phụng gọi là
"Xã hội chó đểu".
Một chức năng quan trọng khác của nhân vật là thể hiện những quan
niệm nghệ thuật và tư tưởng thẩm mỹ của nhà văn về con người, cuộc đời.
Nhà văn xây dựng nhân vật không chỉ để phản ánh hiện thực mà để phản ánh
tư tưởng, ý đồ nghệ thuật, sự sáng tạo của mình về đời sống, con người. Vì
thế, ở một khía cạnh khác, nhân vật chính là cách nêu vấn đề và khêu gợi
người đọc đồng sáng tạo. Ví dụ, khi xây dựng nhân vật Quan Công, Lưu Bị,

trong tác phẩm cùng tên của Nam Cao
Nhân vật phụ: là nhân vật mang các tình tiết, sự kiện, tư tưởng có tính
chất phụ trợ, bổ sung, làm nổi bật nhân vật chính. Tuy vậy, các nhân vật phụ
cũng là một bộ phận không thể thiếu góp phần làm nên diện mạo tác phẩm.
Mỗi nhân vật phụ được nhà văn tạo ra đều hàm chứa những tư tưởng nhất
định trong tác phẩm. Trong mối quan hệ với nhân vật chính, nhân vật phụ đôi
khi rất năng động, nó thúc đẩy, làm cho nhân vật chính bộc lộ: Ví dụ sự xuất
hiện của Năm Thọ, Binh Chức trong tác phẩm Chí Phèo, làm nổi bật nhân vật
16
Chí Phèo; nhân vật Binh Tư và nhân vật ông Giáo trong tác phẩm Lão Hạc
cũng có tác dụng làm hoàn thiện con người Lão Hạc
1.1.3.2. Xét về phương diện hệ tư tưởng
Nhân vật văn học xét trong quan hệ tư tưởng lại có thể chia ra thành
nhân vật chính diện, nhân vật phản diện, nhân vật tích cực, tiêu cực. Cách
phân loại nhân vật này, gắn liền với những mâu thuẫn đối kháng trong xã hội,
hình thành trên cơ sở đối lập giai cấp và quan điểm tư tưởng.
Nhân vật chính diện: là những nhân vật mang lý tưởng, quan điểm tư
tưởng, đạo đức tốt đẹp của tác giả và của thời đại. đó là người mà tác phẩm
khẳng định và đề cao nh những tấm gương về phẩm chất cao đẹp của con
người một thời. Ví dụ nh nhân vật Kiều, Từ Hải là nhân vật chính diện, tích
cực trong Truyện Kiều, là những nhân vật mang vẻ đẹp đạo đức, lý tưởng của
con người trong thời đại phong kiến
Nhân vật chính diện là nhân vật thể hiện lý tưởng xã hội và lý tưởng
thẩm mỹ của thời đại mình. Đó là các khuynh hướng tư tưởng tiến bộ. Các
phẩm chất chính diện của nhân vật chính diện phản ánh các phẩm chất tốt đẹp
có thật của con người trong đời sống, bộc lộ trong thực tế, được nhà văn khái
quát, nâng cao, chứ không bịa đặt ra.
Nhân vật phản diện hay tiêu cực là những con người mang những phẩm
chất xấu xa trái với đạo đức và lý tưởng, đáng lên án và phủ định. Ví dụ nhân
vật Bá Kiến, Nghị Quế, Nghị Hách, Quan Huyện Hinh, là những nhân vật

thuật thường rất đa dạng mang nhiều tư tưởng, hành động, tính cách phức tạp
vừa tốt vừa xấu, tích cực lẫn tiêu cực và được nhìn nhận trong sự tiếp thụ
của tác giả cũng như bạn đọc từ nhiều quan niệm, góc độ khác nhau. Vì vậy
rất cần mềm dẻo trong nhìn nhận phân loại nhân vật.
18
1.1.3.4. Xét về đặc điểm thể loại
Ta có nhân vật kịch, nhân vật tự sự, nhân vật trữ tình
- Nhân vật kịch là những nhân vật không được khắc hoạ cụ thể, tỉ mỉ,
nhưng tính cách lại nổi bật nhằm gây Ên tượng mạnh và thể hiện là những
nhân vật sinh động. Đặc trưng của thể loại kịch là tái hiện những xung đột đời
sống. Do vậy nhân vật kịch thường chứa đựng trong nó những cuộc đấu tranh
với những mâu thuẫn bên ngoài và bên trong nhân vật. Đặc điểm này giúp ta
cảm nhận nhân vật kịch là những con người được miêu tả vừa sinh động vừa
đa dạng. Đó là những con người vừa biết hành động suy nghĩ bên ngoài, vừa
có những trăn trở dằn vặt bên trong đời sống tâm hồn.
Nhân vật tự sự: là những nhân vật có tất cả các phương diện cho sự tồn
tại một con người. Là những nhân vật có ngoại hình, quan hệ, hành động, nội
tâm Nó là những nhân vật luôn hành động thể hiện nội dung tư tưởng tác
phẩm. Nó không bị giới hạn về số lượng nhân vật, không giới hạn hoạt động,
không gian, thời gian,
Nhân vật trữ tình: là những nhân vật thường được thể hiện trong tác
phẩm trữ tình. Đó là những nhân vật không có diện mạo, hành động, lời nói,
quan hệ cụ thể như nhân vật tự sự hay nhân vật kịch. Nhân vật trữ tình thường
được cụ thể trong giọng điệu, cảm xúc, tâm trạng, trong cách cảm, cách
nghĩ và qua đó, ta có thể nhận ra những tâm hồn, những con người.
1.1.4. Các phương thức, phương tiện và biện pháp thể hiện nhân vật
Sự thể hiện nhân vật văn học bao giờ cũng nhằm khái quát một nội
dung đời sống xã hội và một quan niệm về cuộc đời, con người của nhà văn.
Vì vậy, sự thể hiện của nhân vật phải được xem xét trong sự phù hợp với nội
dung nhân vật, đồng thời, phải phù hợp với mỗi kiểu loại nhân vật.

động… mà còn có đời sống nội tâm phong phú và bản thân nhân vật luôn có
20
sự phát triển nội tại. Ở nhân vật tiểu thuyết có thể chứa đựng cả nhân vật kịch,
nhân vật trữ tình ở những phần nhất định. Có thể nói nhân vật tiểu thuyết bao
hàm rất nhiều kiểu, loại nhân vật văn học khác nhau.
Trong tiểu thuyết, số lượng nhân vật nhiều. Trong một chỉnh thể thế giới
nghệ thuật tác phẩm, tiểu thuyết có khả năng kể về nhiều số phận, nhiều con
người, đặt ra nhiều vấn đề nhân sinh.
Thế giới nhân vật tiểu thuyết có thể rất đồ sộ. Các nhân vật tiểu thuyết
tạo nên một xã hội vô cùng phong phú, phức tạp với nhiều quan hệ, hành
động, ý nghĩ, tư tưởng, giọng điệu… Nó phong phó nh chính cuộc sống.
1.2.2. Đặc điểm nhân vật tiểu thuyết
Thứ nhất, khác với các nhân vật sử thi, nhân vật kịch, nhân vật truyện
Trung cổ… (là những con người hành động), nhân vật tiểu thuyết là những
con người nếm trải, tư duy, chịu nhiều đau khổ dằn vặt của đời. Nhân vật tiểu
thuyết được đặt trong những hoàn cảnh cụ thể và được miêu tả như một con
người đang trưởng thành, biến đổi và do đời dạy bảo. Nhân vật phải đi qua
nhiều hoàn cảnh, nhiều quan hệ và đặc biệt không chỉ tích hợp về lượng mà
phải thay đổi về chất và nó phải khác biệt giữa nhân vật này với nhân vật khác
và trong chính nhân vật. Tức là, nhân vật luôn có sự phát triển tính cách tạo
nên những tính cách đa dạng, sống động, lôi cuốn người đọc. Ví dụ, các nhân
vật trong tiểu thuyết của Nam Cao là như thế: các nhân vật luôn phải đối mặt
và trải qua nhiều hoàn cảnh, quá trình để hoàn thiện nhân cách.
Thứ hai, nhân vật tiểu thuyết là những con người có ý thức về sự sống
của mình, có thể tích cực, chủ động cũng có thể thụ động, trì trệ. Bản chất
của nhân vật khi tích cực là không bao giờ bằng lòng với bản thân, là những
con người tự ý thức, luôn tiến lên, thay đổi. Nhân vật Đôn-ki-hô-tê trong tiểu
thuyết cùng tên của nhà văn Xéc-van-tét là nhân vật tiêu biểu số một cho loại
nhân vật này. Còn khi trì trệ, thụ động thì nhân vật như những con người
21

sát đang làm việc trên đất Hoà Bình có đoạn; "Cả hai người lại im lặng. Ôi!
cái phương Đông đầy bí Èn mà sao chóng ta cứ coi thường. Gió rừng hiu
hiu thổi. Muôn thứ hương đột nhiên trỗi dậy. Khứu giác của con người vốn
đã bị cùn nhụt đi vì cuộc sống tiện nghi Ýt phải dùng đến nó. Hay là bởi
phương Tây giá lạnh làm teo tóp thứ giác quan nguyên thuỷ đó chăng. Do
đó, sự cảm nhận tinh tế mùi hương không có điều kiện để phát triển Một
thứ hương ngọt ngào chợt bay qua. Hương thức dậy mới đầu lãng đãng, e
Êp nh cô gái mới dạy thì, sau đó nó dào dạt, rồi tới chỗ cuồng nhiệt. Thậm
chí có lúc hương trở lên ngọt ngào, nức nở " [24; 190-191].
Ở đây, yếu tố “thừa” là những câu văn miêu tả hương vị của thiên nhiên
núi rừng phương Đông bí Èn trong khi thể hiện suy nghĩ, tâm trạng của hai
nhân vật. Đó là những câu có thể lược bỏ nhưng Nguyễn Xuân Khánh lại viết
khá dài. Nó có tác dụng giúp ta hiểu rõ hơn về tâm hồn tinh tế, sự hiểu biết
đời sống An Nam của hai con người họ.
Nh vậy, yếu tố “thừa” trong tiểu thuyết là yếu tố nằm ngoài cốt truyện,
không ảnh hưởng tới nội dung, ý nghĩa câu chuyện; là yếu tố cho phép các nhà
tiểu thuyết được sử dụng - khi cần thiết, theo ý đồ sáng tạo nghệ thuật của nhà
văn.
1.2.3. Vị trí, ý nghĩa của nhân vật tiểu thuyết
"Nói đến tiểu thuyết là nói đến nhân vật. Tài nghệ của nhà tiểu thuyết
cũng chủ yếu khúc xạ qua nhân vật vì nó là con đẻ của tinh thần nhà văn"
[47-110]. Trong tiểu thuyết, nhân vật không phải là nơi duy nhất nhưng lại là
nơi thể hiện một cách tập trung nhất, sâu đậm nhất quan niệm về con người
của tác giả. "Tiểu thuyết thường được ví là máy cái của văn học" [47-98] - là
mảnh đất lưu giữ bóng hình cuộc đời con người, vì thế nhân vật luôn được
xem là sức nổ, là sự sống của tiểu thuyết từ xưa đến nay. Nhân vật tiểu thuyết
làm nên sức sống của mỗi cuốn tiểu thuyết.
23
Qua nhân vật, ta thấy được cả tư tưởng nghệ thuật của tác phẩm và ý đồ
sáng tạo của nhà văn. Những nhân vật như Giăng Van Giăng, Phăng Tin…

thuyết đương đại còn được gia cố thêm bằng sự linh hoạt trong việc luân
chuyển giữa người trần thuật từ ngôi thứ nhất và trần thuật từ ngôi thứ ba.
Điều này kéo theo sự đa dạng về giọng trần thuật với sự hiện diện đồng thời
của các loại lời của người trần thuật, của nhân vật… thể hiện “tính chất đa
thanh đối thoại của tiểu thuyết mới” (theo Bakhtin). Từ đó, dẫn đến một
nguyên tắc xây dựng hình tượng của tiểu thuyết đương đại đó là: các nhân
vật được đặt trong nhiều mối quan hệ, nói lên được tính phức tạp của cuộc
đời, tính đa nghĩa của đời sống…
Còng trong nghệ thuật xây dựng nhân vật của tiểu thuyết đương đại, bên
cạnh kiểu nhân vật số phận – tính cách, xuất hiện một cách dày đặc kiểu nhân
vật như là những lập trường tư tưởng: các nhân vật chính trong Hồ Quý Ly
của Nguyễn Xuân Khánh; hoặc những nhân vật tâm lý như Kiên trong Nỗi
buồn chiến tranh của Bảo Ninh, hay có khi là những kiểu nhân vật “bí Èn” -
phá cách như các nhân vật trong tiểu thuyết của Nguyễn Bình Phương…
Nói tóm lại, tiểu thuyết đương đại Việt Nam đã có những cách tân rõ rệt
trong nghệ thuật, đặc biệt là nghệ thuật xây dựng nhân vật… tạo nên những
nhân vật Ên tượng, đa nghĩa.
1.3. Việc xây dựng thế giới nhân vật trong tác phẩm văn học
1.3.1. Khái niệm thế giới nhân vật
Thế giới nhân vật là hệ thống các nhân vật được tổ chức tạo thành một
chỉnh thể nghệ thuật, trong đó mỗi nhân vật là một yếu tố của chỉnh thể. Mỗi
thế giới nhân vật được quy định bởi cách tổ chức, sắp xếp theo ý đồ nghệ
thuật, sự sáng tạo của nhà văn làm sao cho các nhân vật trong tác phẩm liên
kết, tác động lẫn nhau, soi sáng nhau để cùng phản ánh đời sống, thể hiện tư
tưởng tác giả và những điều nhà văn muốn nói cùng bạn đọc.
25

Trích đoạn Quan hệ gia đình dòng tộc Quan hệ tình yêu – hôn nhân Một số mối quan hệ nhân vật khác Nghệ thuật xây dựng nhân vật theo hướng đối thoạ Thủ pháp huyền ảo
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status