1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN NGUYỄN THỊ VÂN ANH
THẾ GIỚI NHÂN VẬT TRONG TIỂU THUYẾT
LÊ LỰU THỜI KỲ ĐỔI MỚI LUẬN VĂN THẠC SĨ
THẾ GIỚI NHÂN VẬT TRONG TIỂU THUYẾT
LÊ LỰU THỜI KỲ ĐỔI MỚI Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Văn học Việt Nam
Mã số: 60 22 01 21
Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS. Nguyễn Bá Thành Hà Nội - 2014
3
học, trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn - Đại học
Quốc gia Hà Nội, cảm ơn những người bạn đã nhiệt tình
giúp đỡ chúng tôi hoàn thành công trình này.
Hà Nội, ngày 13 tháng 6 năm 2014
Tác giả
Nguyễn Thị Vân Anh
5
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài 1
2. Lịch sử vấn đề nghiên cứu 2
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6
4. Phương pháp nghiên cứu 6
5. Đóng góp mới của luận văn 7
6. Bố cục của luận văn 7
NỘI DUNG
Chương 1: Tiểu thuyết Lê Lựu trong dòng chảy tiểu thuyết Việt Nam
thời kỳ đổi mới 8
1.1. Tiểu thuyết Việt Nam trước thời kỳ đổi mới 8
1.2. Tiểu thuyết Việt Nam thời kỳ đổi mới 10
1.3. Lê Lựu - nhà văn đạt nhiều thành tựu từ thể loại tiểu thuyết 16
1.3.1. Vài nét về cuộc đời Lê Lựu 16
1.3.2. Sự nghiệp sáng tác 18
1.3.3. Những đóng góp của Lê Lựu về thể loại tiểu thuyết
cho nền văn học đương đại Việt Nam 22
Chương 2: Các kiểu nhân vật trong tiểu thuyết Lê Lựu thời kỳ đổi mới
2.1. Nhân vật văn học trong tiểu thuyết 26
2.1.1. Quan niệm nghệ thuật về con người …26
2.1.2. Nhân vật trong tiểu thuyết 27 7
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Sau 1986 đất nước bước sang một thời kỳ mới, cuộc sống thay da đổi
thịt trên nhiều phương diện. Văn học là tấm gương phản chiếu chân thực xã
hội. Không nằm ngoài quy luật đó, nó cũng từng bước làm mới và thay đổi
bản thân. Các thế hệ nhà văn đã có những cách nhìn, cách tiếp cận hiện thực
và con người phong phú, đa dạng, nhiều chiều, nhiều phương diện chân thực
và toàn diện hơn.
Nhân vật là trọng tâm của tác phẩm. Nó là sự thể hiện chân xác và toàn
diện nhất bộ mặt của tác phẩm và bản chất, lý tưởng của thời đại. Thể loại
tiểu thuyết với tầm vóc và khả năng khái quát rộng lớn là mảnh đất màu mỡ
để nhà văn tái hiện cuộc sống và con người thời đại.
Cùng với các nhà văn lớn như Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Bình
Phương, Hồ Anh Thái, Bảo Ninh, Chu Lai, Dương Hướng…thì Lê Lựu với
thể loại tiểu thuyết đã đưa ông lên vị trí danh dự của những nhà văn xuất sắc
thời kỳ đổi mới. Là một nhà văn suốt đời hướng về con người, Lê Lựu đã gây
dựng nên một thế giới nhân vật phong phú, đa sắc màu. Từ những người lính
trở về sau chiến tranh khó khăn khi hòa nhập với cuộc sống đổi thay, đến
những người nông dân còn lạc hậu bị ràng buộc với những quan niệm phi lý,
những con người tự đánh mất chính mình gây ra những bi kịch đau buồn đến
những con người tha hóa bởi lòng tham vật chất, chức quyền…Xót xa hơn là
những người phụ nữ luôn khát khao tình yêu, hạnh phúc nhưng lại bị xã hội
đè nén và những con người do hoàn cảnh mà trở nên lừa lọc, giả dối…Tất cả
hiện lên chân thực từ tấm lòng chân thành, giàu tình thương yêu của Lê Lựu,
ông không hề thương thay khóc mướn mà trải lòng mình dưới từng trang
9
nhân vật tiểu thuyết Mở rừng có dáng vẻ khác nhau” [23, tr.526]. Bài viết còn
khẳng định sở trường của Lê Lựu khi khắc họa những nhân vật người
lính:“anh dễ thành công khi miêu tả những người lính trẻ, nhất là những
người lính có gốc gác ở một vùng quê. Loại nhân vật này anh rất thuộc, anh
thân thiết và tri kỉ” [23, tr.529].
Tìm hiểu tiểu thuyết Thời xa vắng của Lê Lựu, Thiếu Mai đã khẳng
định tài năng xây dựng nhân vật của Lê Lựu:“Lê Lựu tỏ ra hiểu nhân vật của
mình đến chân tơ, kẽ tóc đến tận những ngọn ngành, sâu thẳm nhất của tình
cảm, suy nghĩ” [23, tr.577].
Lê Tất Cứ tìm hiểu về Lê Lựu và tiểu thuyết Ranh giới (1979) đã đặc
biệt nhấn mạnh đến ngòi bút xây dựng nhân vật của Lê Lựu thông qua hình
tượng trung tâm của tác phẩm - nhân vật Ngân:“Điều đáng nói trước tiên trong
Ranh giới là tác giả đã không để cho các nhân vật mải miết chạy theo cốt truyện
làm mờ đi tính cách, mờ đi tư tưởng mà anh muốn truyền đến bạn đọc. Anh đã
lấy việc xây dựng một hệ thống tính cách để chuẩn bị cho quá trình phát triển
của cốt truyện” [23, tr.622]. Tác giả nhấn mạnh:“Ngòi bút Lê Lựu đã lách vào
một chỗ khó khăn của hiện thực tâm lý nhân vật” [23, tr.624].
Lê Hồng Lâm khi nghiên cứu về nghệ thuật xây dựng nhân vật của Lê
Lựu đã cho rằng: “Ông luôn viết hết mình như ông sống, yêu ghét rạch ròi và
đặc biệt là đi đến tận cùng tính cách của nhân vật. Ở mức độ nào đó nhà văn
Lê Lựu đã tạo ra những nhân vật điển hình cho những hoàn cảnh điển hình”
[23, tr.703]. Nhà phê bình Hồng Thái cũng có quan điểm tương tự khi tìm
hiểu tác phẩm Hai nhà:“tiểu thuyết Hai nhà đọc rất “vào” vì ngòi bút phân
tích tâm lý của Lê Lựu đạt đến trình độ lão luyện” [23, tr.717].
Cuốn Thời xa vắng - tiểu thuyết và phim (2004) tiếp cận tác phẩm Thời
xa vắng trên hai phương diện: phim và tiểu thuyết. Nhà nghiên cứu Văn học
Việt Nam Norico Kato trong bài “Về Thời xa vắng” đã khẳng định: “Thời xa
qua việc tìm hiểu về người trần thuật, kết cấu lời văn trần thuật và giọng điệu
trần thuật. Từ đó thể hiện được sự sáng tạo nghệ thuật và đóng góp của tác giả
đối với nền văn học dân tộc.
Luận văn Thạc sỹ của tác giả Đào Thị Cúc “Không gian và thời gian
nghệ thuật trong tiểu thuyết Lê Lựu thời kỳ đổi mới” (2010), (Trường Đại học
Khoa học xã hội và nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội) đã tiếp cận nghệ
thuật tiểu thuyết Lê Lựu trên bình diện không gian, thời gian nghệ thuật. Luận
văn đã trình bày được những dạng thức, mô hình của không gian và thời gian
nghệ thuật trong tiểu thuyết của Lê Lựu…Từ đó làm nổi bật nét đặc sắc nghệ
thuật tiểu thuyết Lê Lựu thời kỳ đổi mới.
Ngoài ra còn có thể kể đến một số công trình khác như: Nghệ thuật viết
tiểu thuyết Lê Lựu (2006) - luận văn thạc sỹ Nguyễn Thị Hồng Vân, Đại học
Khoa học xã hội và nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội; Tư duy nghệ thuật
trong tiểu thuyết Lê Lựu (2013) - luận văn thạc sỹ Mai Thị Liên, Đại học
Khoa học xã hội và nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội…
Có thể nói, Lê Lựu và tiểu thuyết của ông thu hút nhiều luận văn
nghiên cứu ở các phương diện nội dung cũng như nghệ thuật. Nhưng vấn đề
mà chúng tôi đi sâu tìm hiểu thì chưa có công trình nào nghiên cứu một cách
cụ thể và toàn diện.
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu về Lê Lựu đều có tiếng nói khá
thống nhất, khẳng định tài năng và tinh thần miệt mài lao động của nhà văn
trên con đường tìm tòi, sáng tạo hướng đi mới cho tiểu thuyết Việt Nam thời
kỳ đổi mới. Tuy nhiên, vấn đề mà chúng tôi quan tâm nghiên cứu là “thế giới
nhân vật trong tiểu thuyết Lê Lựu thời kỳ đổi mới” chỉ mới dừng lại ở mức
khái quát, sơ lược, thường thì tác giả chỉ kết hợp nhận xét trong những phê
bình, nghiên cứu chung về Lê Lựu. Vì vậy, trên cơ sở những công trình đã
12
nghiên cứu chúng tôi sẽ kế thừa, tiếp thu để hoàn thành luận văn của mình với
thuyết Lê Lựu thời kỳ đổi mới không thể không nói đến sự tất yếu phải đổi
thay, chuyển hướng của văn học nghệ thuật trong giai đoạn này. Sử dụng
phương pháp tiếp cận lịch sử - xã hội nhằm lý giải cơ sở thực tiễn và quá trình
chuyển hướng của nghệ thuật trong tác phẩm của Lê Lựu.
5. Đóng góp mới của luận văn
Luận văn đã sử dụng những kiến thức về thi pháp học và tự sự học để
đi sâu phân tích sự mới mẻ trong quan niệm cũng như nghệ thuật tiểu thuyết
của Lê Lựu khi khắc họa nhân vật. Từ đó khẳng định tài năng và những đóng
góp của tác giả cho nền văn học dân tộc nói chung và văn học Việt Nam
đương đại nói riêng.
Với đề tài này, chúng tôi cũng mong muốn góp thêm tiếng nói, cách
tiếp cận về tác giả, tác phẩm và góp thêm một tài liệu cho việc học tập, nghiên
cứu và giảng dạy Lê Lựu.
6. Bố cục của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo thì phần
Nội dung luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Tiểu thuyết Lê Lựu trong dòng chảy tiểu thuyết Việt Nam
thời kỳ đổi mới
Chương 2: Các kiểu nhân vật trong tiểu thuyết Lê Lựu thời kỳ đổi mới
Chương 3: Nghệ thuật xây dựng nhân vật trong tiểu thuyết Lê Lựu thời
kỳ đổi mới. 14
Chương 1: TIỂU THUYẾT LÊ LỰU TRONG DÒNG CHẢY
TIỂU THUYẾT VIỆT NAM THỜI KỲ ĐỔI MỚI
chân thực bức tranh rộng lớn của hiện thực cuộc sống thông qua những hình
tượng điển hình trong những hoàn cảnh điển hình. Khác với giai đoạn đầu thế
kỷ XX, ở giai đoạn lịch sử hào hùng, mang âm hưởng và màu sắc sử thi này,
con người tập thể, con người lý tưởng được đề cao hơn bao giờ hết. Nền văn
học giai đoạn này nói chung và tiểu thuyết nói riêng dù sinh ra và lớn lên
trong khói lửa chiến tranh nhưng lại vô cùng hào hùng và rực rỡ. Những Sống
mãi với thủ đô của Nguyễn Huy Tưởng, Đất nước đứng lên của Nguyên
Ngọc, Người mẹ cầm súng của Nguyễn Thi, Hòn đất của Anh Đức, Bão biển
của Chu Văn, Dấu chân người lính của Nguyễn Minh Châu…thực sự đã tái
hiện thành công chủ nghĩa anh hùng cách mạng của con người Việt Nam
trong cuộc đấu tranh chống kẻ thù xâm lược, thống nhất nước nhà.
Văn học thời kỳ này nói chung và tiểu thuyết nói riêng đã xứng đáng
với sứ mệnh cao cả của một nền văn học cách mạng hướng về đại chúng nhân
dân, phục vụ chiến đấu và đã đóng góp được những thành tựu xuất sắc, góp
phần quan trọng cho sự phát triển văn học dân tộc trong thời đại mới. Tiểu
thuyết thời kỳ này đã ghi lại được những hình ảnh không thể phai mờ về một
thời kỳ lịch sử đầy gian lao, hy sinh nhưng hết sức vẻ vang của dân tộc ta.
Những hình tượng nghệ thuật cao đẹp về đất nước, về nhân dân, về các tầng
lớp, thế hệ con người Việt Nam vừa giàu phẩm chất truyền thống dân tộc vừa
đậm nét thời đại hiện lên chân thực, sinh động trên từng trang văn, ngọn bút.
Những sáng tác của Nguyên Ngọc, Nguyên Hồng, Anh Đức, Nguyễn Khải,
Nguyễn Đình Thi, Nguyễn Minh Châu…đã tạo nên những hình tượng đẹp đẽ
và có chiều sâu về người lính, bộ đội, thanh niên xung phong, phụ nữ,… Hình
16
tượng nhân vật quần chúng, hình ảnh những người lao động mới, của mọi
tầng lớp nhân dân nổi lên với phẩm chất cơ bản là lòng yêu nước và căm thù
giặc. Sự phản ánh hiện thực ấy đã ghi nhận những nét đẹp của đất nước và
con người Việt Nam trong khói lửa chiến tranh. Đấy không phải là vẻ đẹp cổ
xưa hay ước lệ của thơ văn cổ, cũng không phải là vẻ đẹp đìu hiu đượm buồn
một yêu cầu “phải nhận thức nhiều vấn đề và tự nhận đường”. Sự thay đổi ấy
đã tác động đến giới sáng tác. Cuối năm 1986, Đại hội Đảng lần tứ VI được
tiến hành, đánh dấu sự đổi mới của Đảng về tư duy, nhận thức, trước hết ở
quan niệm đề cao thái độ nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, phát
huy tinh thần dân chủ, quyền làm chủ của nhân dân, chống sức ì và tính bảo
thủ của quan niệm cũ, mở ra một bối cảnh mới cho sự sáng tạo. Đảng khuyến
khích và yêu cầu văn nghệ sĩ cần có những thể nghiệm mạnh bạo và sáng tạo
nghệ thuật ở loại hình cũng như các hình thức biểu hiện. Nghị quyết 05 của
Bộ Chính trị (ngày 28.11.1987) yêu cầu: “Thực hiện chủ trương đổi mới của
Đảng trong hoàn cảnh cách mạng khoa học, kỹ thuật đang diễn ra với quy mô
và tốc độ chưa từng có trên thế giới và việc giao lưu giữa các nước và các
nền văn hóa ngày càng mở rộng… nền văn hoá, văn nghệ nước ta cũng phải
đổi mới, đổi mới tư duy, đổi mới cách nghĩ, cách làm”. Điều này đã tạo cho
người cầm bút sự tự tin và mạnh dạn hơn trong những tìm tòi, sáng tạo nghệ
thuật khi viết về đời sống, hiện thực, những tình huống, sự kiện xã hội.
Văn học thời kỳ này cũng thể hiện sự đổi mới mạnh mẽ về tư duy nghệ
thuật. Một hiện thực mới, một công chúng mới nên đòi hỏi một cách viết,
cách nhìn nhận và phản ánh mới. Sự đổi mới của các nhà văn trở thành tất yếu
sống còn của chính họ. Văn học thời kỳ này vì thế không chỉ đổi mới ở phạm
vi đề tài, mà còn đổi mới về tư duy nghệ thuật, về cảm hứng, cách viết… Giờ
đây, những người cầm bút hiểu rõ hơn ai hết sứ mệnh của văn chương đối với
18
cuộc sống. Thời kỳ đổi mới với những biến động phức tạp thực sự là mảnh đất lý
tưởng cho sự sáng tạo của tiểu thuyết: “Thời nay rộng cửa, gợi được rất nhiều
thứ để viết…cái hôm nay, cái ngổn ngang, bề bộn, bóng tối và ánh sáng, màu đỏ
với màu đen, đầy rẫy những biến động, những bất ngờ, mới thật là một mảnh đất
phì nhiêu cho các cây bút thả sức khai vỡ” (Nguyễn Khải) [41].
Trước hết có thể thấy rõ bước phát triển của văn học trên bình diện tư
duy nghệ thuật. Giờ đây văn chương không chỉ là sự ngợi ca, khâm phục mà
cây sồi (Đỗ Bích Thuý), Trên đồi cao chăn bầy thiên sứ (Nguyễn Ngọc
Thuần), Trên đỉnh dốc (Lê Ngọc Mai)…
Nếu như trước đây các nhà tiểu thuyết hướng tới những bức tranh hiện
thực hoành tráng thì giờ đây họ “trở về xem xét con người Việt Nam một cách
sáng tỏ và để đào xới vào nó sâu hơn” [3, tr.2], họ nhận thấy rằng cần phải
viết về cái gì đó của con người, cho con người. Đất nước chuyển sang giai
đoạn mới, tâm lý và nhịp sống thời đại đổi thay. Con người trong tổng hoà
của những mối quan hệ xã hội trở nên phức tạp hơn. Không phải ngẫu nhiên
mà đề tài thế sự, đời tư nổi lên như một vấn đề trung tâm của mọi “nỗ lực
sáng tạo” trong tiểu thuyết đương đại. Phan Cự Đệ cũng đã từng nhận định:
“Các nhà văn đã đi sâu vào tâm lý bên trong, để cho nhân vật soi bóng vào
nhau hoặc tự khám phá mình như là một sự lắng lại, suy ngẫm về cuộc đời đã
qua…Nhân vật nhìn bản thân mình, tự đối diện với mình như một sự tự phán
xét về nhân cách nhằm hướng tới một nhân cách hoàn thiện” [10, tr. 153]. Sự
đổi mới trong nhận thức của nhà văn thực sự đã mang đến cho văn học một
cuộc cách mạng toàn diện, sâu sắc khi viết về con người. Con người với đầy
đủ các phẩm chất, bản năng, ý thức, phần con, phần người, từ con người tập
thể mang tính cộng đồng chuyển sang con người cá thể đời thường với những
mâu thuẫn phức tạp, con người bi kịch, con người sám hối, con người thức
20
tỉnh, con người nhận đường, con người suy tư dằn vặt, con người cô đơn, cay
đắng, con người anh hùng, con người hèn hạ đã đi vào văn chương một cách
chân thực, nhân bản, giàu tính hướng thiện, được soi rọi dưới cái nhìn đa diện
nhiều chiều. Các nhà tiểu thuyết đã nhìn thẳng vào những “mảnh vỡ”, những
bi kịch nhân sinh, mổ xẻ, phơi bày nó bằng cái nhìn trung thực, táo bạo, qua
giọng điệu phê phán, tự vấn. Những mặt trái của đời sống, sự tha hóa về nhân
cách, những số phận bi kịch, những nỗi đau khắc khoải, những mất mát tổn
thương…được đặc tả vô cùng chân thực trên từng trang viết. Vẫn là những
người lính, người mẹ, người vợ, nghệ sĩ, trí thức, nông dân nhưng giờ đây
này khi nhìn nhận về con người.
Sự đổi mới về tư duy, quan niệm nghệ thuật về con người kéo theo sự
đổi mới về phong cách và ý thức nghệ thuật. Văn học thời kỳ này đã xuất hiện
một số cây bút mới với lối viết thực sự khác trước. Sự biến đổi của ý thức
nghệ thuật đang chuyển từ quan niệm về văn học như hình thức giáo dục
tuyên truyền sang quan niệm văn học như hoạt động sáng tạo, nhận thức và
tác động vào cuộc sống. Vào những năm 30 của thế kỷ XX sự xuất hiện của
các tác phẩm với tên tuổi của Nam Cao, Nguyễn Tuân, Thạch Lam, Vũ Trọng
Phụng…đã tái hiện bức tranh đa dạng về hiện thực xã hội, giúp độc giả hiểu
thêm về con người và những cảnh sống xung quanh. Đến giai đoạn 1945 -
1975 do yêu cầu của cuộc kháng chiến, văn học lại chuyển hướng sang hoạt
động tuyên truyền chính trị, giáo dục, tư tưởng, động viên cổ vũ quần chúng.
Mãi đến thời kỳ đổi mới sáng tác văn học với hoạt động nhận thức và tự nhận
thức mới thực sự phát triển. Người đọc có thể tiếp cận hình tượng từ nhiều
phía, có thể rút ra những kết luận khác nhau từ một tác phẩm.
Bên cạnh tính đa nghĩa của hình tượng và sự phong phú về chủ đề,
giọng điệu của tác phẩm cũng được viết theo lối mới. Không còn là chất
22
giọng ngợi ca, khâm phục, mang tính răn dạy mà là một thứ giọng kể có vẻ
không nghiêm túc, thậm chí như đùa giỡn, vừa coi điều mình kể là thành thực,
vừa coi nó như chẳng có gì quan trọng. Chính điều này đã làm tăng sự phong
phú, lôi cuốn, hấp dẫn của giọng kể. Cách kể chuyện như thế chỉ có thể có
được trên cơ sở của một quan niệm mới về văn học, quan niệm xem văn học
như một hoạt động sáng tạo, một kiểu ứng xử, một kiểu quan hệ của con
người đối với thế giới.
Như vậy, văn học thời kỳ này nói chung và tiểu thuyết nói riêng đã
thực sự được cởi trói, chủ đề, đề tài được mở rộng, không bị gò ép trong
khuôn khổ hay giới hạn. Văn học tìm về với con người đời thường, con người
cá nhân nhưng vẫn “mới”, vẫn đầy sáng tạo. Văn học được trả lại thiên chức
trong mình nhiều căn bệnh quái ác mà đời sống tinh thần của ông cũng mang
nhiều nỗi buồn. Cuộc sống gia đình không trọn vẹn, hạnh phúc. Ông có hai
người vợ, người vợ đầu là mối tình sắp đặt từ phía gia đình ở Hưng Yên.
Cuộc hôn nhân không như ông mong muốn và hai người đã chia tay từ 40
năm trước. Sau đó, ông lên Hà Nội, người vợ cũ ở quê đã âm thầm chuyển tên
mảnh đất hương hỏa của tổ tiên sang tên mình. Chính ông đã ví rằng, người
vợ cũ này giống như cô Tuyết - vợ đầu của Giang Minh Sài trong tác phẩm
Thời xa vắng viết năm 1986. Tuy nhiên “thời xa vắng” của Lê Lựu còn xót xa
hơn Giang Minh Sài. Người vợ thứ hai của ông có hai người con, một trai,
một gái. Nhưng cuộc hôn nhân thứ hai này cũng kết thúc trong đau buồn. Giờ
đây, tuổi cao sức yếu nhưng ông vẫn phải tá túc ở trụ sở của trung tâm Văn
hóa doanh nhân, nơi ông sáng lập và làm lãnh đạo nhiều năm liền. Hơn 70
năm cuộc đời, với hai đời vợ và ba người con, giờ đây ông phải cậy nhờ vào
những người không phải là ruột thịt của mình.
24
Với hơn 50 năm cầm bút, ông đã cho ra đời nhiều tác phẩm, hầu hết
những nhân vật ông viết đều có sự bất trắc, vất vả trên con đường tìm đến
hạnh phúc của mình. Một Giang Minh Sài trong Thời xa vắng với những đấu
tranh cho hạnh phúc riêng, nhưng cũng không đến được với Hương - người
mà Sài yêu hết mực, cuối cùng cả cuộc đời lại phải chịu thất bại trong hạnh
phúc gia đình. Một Núi trong Sóng ở đáy sông bị cha đẻ ghẻ lạnh từ nhỏ, cuộc
đời lận đận, cuối cùng phải buông xuôi, trượt dài trên con đường tội lỗi, ra tù
vào tội, vất vả mưu sinh. Là Tâm trong Hai nhà chân thật, hiền lành, thương
yêu vợ con nhưng hết lần này đến lần khác bị vợ phản bội, để cuối cùng cay
đắng nhận tin rằng những đứa con anh thương yêu là con của kẻ khác…
Những nỗi buồn, những niềm đau trong cuộc sống khiến Lê Lựu tìm
đến văn chương như một cứu cánh, như món ăn tinh thần không thể thiếu.
Càng đau ông càng cố viết, càng viết ông càng khiến người đọc thấm thía hơn
về cuộc đời với muôn mặt của nó. Với Lê Lựu văn thực sự là đời, là người.
cái anh hùng với cái thấp hèn, giữa cái tốt và cái xấu, giữa cái hài và cái
bi…dường như luôn đan xen và đấu tranh với nhau. Con người phải luôn
không ngừng đấu tranh để vượt lên hoàn cảnh, vươn tới lý tưởng, để giải
quyết những mặt nan giải trong cuộc đời. Có thể coi đây là cuốn tiểu thuyết
vào loại khá của văn học Việt Nam những năm 70. Tuy nhiên, do một số lý
do nên nó không được người đọc hưởng ứng và giới phê bình quan tâm.
Sau tiểu thuyết Mở rừng thì Ranh giới (1979) là một cố gắng mới của
Lê Lựu. Tác phẩm xoay quanh câu chuyện lực lượng an ninh cách mạng tiếp
tục truy bắt bọn tình báo CIA, bọn tướng tá ngụy đang âm mưu vượt đường
biển trốn ra nước ngoài mang những tài liệu về quân sự, kinh tế mà chúng thu
thập được ở Việt Nam. Chúng đang tìm mọi cách chống phá cách mạng sau
ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng. Với tác phẩm này, Lê Lựu đã phản ánh