TIỂU THUYẾT LÊ LỰU THỜI KỲ ĐỔI MỚI - Pdf 30


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP.HỒ CHÍ MINH
------------------------------
NGUYỄN THỊ HIỀN TIỂU THUYẾT LÊ LỰU
THỜI KỲ ĐỔI MỚI Chuyên ngành: Văn Học Việt Nam
Mã số: : 60.22.34 LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC

MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN

Trong suốt quá trình học tập, tôi đã nhận được sự hỗ
trợ tích cực và những điều kiện thuận lợi từ Phòng Đào Tạo
Sau Đại Học - Trường Đại Học Sư Phạm Tp. Hồ Chí Minh. Vì
vậy, đầu tiên, cho phép tôi được nói lời cảm ơn chân thành
nhất gửi đến quý thầy cô giáo, các cán bộ của Phòng Đào Tạo
Sau Đại Học - Trường Đại Học Sư Phạm Tp. Hồ Chí Mi
nh.
Đặc biệt, cho phép tôi gửi lời cảm ơn sâu sắc và chân
thành nhất đến PGS. TS Trần Hữu Tá. Thầy đã không quản
thời gian, công sức để tân tâm, tận tình, ân cần chỉ bảo, dẫn
dắt cho tôi trong suốt quá trình thực hiện và hoàn thành đề tài
luận án của mình.
Bên cạnh đó, tôi cũng xin được gửi lời cảm ơn đến
những bạn bè đồng nghiệp. Họ là những người luôn động viên
khích lệ tôi vững bước trên con đường m
à mình đã lựa chọn.
Cuối cùng, tôi xin nói lời cảm ơn Cha - Mẹ, người đã
sinh ra tôi, nuôi tôi khôn lớn. Người đã hướng dẫn, chỉ cho tôi
con đường đi đến thành công.
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Văn học Việt Nam giai đoạn 1945 đến 1975 mang vẻ đẹp lãng mạn của những con
người sống vì lý tưởng mà những mất mát hy sinh chỉ góp phần làm cho ý chí, tinh thần
con người càng thêm rạng rỡ. Khi chiến tranh qua đi, con người mới kịp bình tâm nhìn lại

giờ.
Trước thực tế đầy biến động của lịch sử, những tiểu thuyết Thời xa vắng (
1984),
Chuyện làng Cuội (1991), Sóng ở đáy sông (1995) lần lượt ra đời như những bức tranh sinh động, khắc hoạ chân thực chủ yếu những tháng ngày đầu đất nước trong thời kỳ đổi mới.
Tìm hiểu những tiểu thuyết kể trên, ta sẽ hiểu thêm về thể loại tiểu thuyết của một thời kỳ
văn học sôi động. Đồng thời qua đó, người viết muốn tìm hiểu những đóng góp của nhà văn
cho nền tiểu thuyết Việt Nam giai đoạn nà
y.
Tuy nhiên, trong phạm
vi cho phép của đề tài, luận văn chỉ tập trung nghiên cứu những
đặc điểm tiểu thuyết Lê Lựu thời kỳ đổi mới để nhằm hiểu một cách thấu đáo hơn phương
thức xây dựng tác phẩm, những đặc sắc trong việc miêu tả, nội dung hiện thực được phản
ánh và những nét riêng biệt của nhà văn so với các tiểu thuyết gia cùng thời. Từ đó, nhằm
khẳng định sự đóng góp của ông cho sự phát triển nền văn xuôi Việt Nam trong những năm
đổi mới.
2. Lịch sử vấn đề
Nghiên cứu về Lê Lựu đã có không ít ý kiến nhận xét, đánh giá của các nhà văn, nhà
phê bình văn học. Họ tìm đến với những tác phẩm và nhận thấy ở đấy những chiều kích
khác nhau của cuộc sống. Qua những tác phẩm ấy, người đọc không chỉ hình dung được bộ
mặt xã hội Việt Nam lúc bấy giờ mà còn cảm nhận một cách sâu sắc những biến chuyển
tinh tế nhất của đời sống tư tưởng con người thời đại. Vì vậy, tác
phẩm của nhà văn không
rơi vào khoảng không im lặng mà có thể nhận thấy, cùng với các cây bút văn xuôi lúc bấy
giờ như Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Huy Thiệp, Bảo Ninh... Lê Lựu đã làm cho đời sống
văn học nước ta thêm phần sôi động.
Lịch sử văn học cho thấy, những nhà văn nào cà
ng được giới phê bình nghiên cứu

những thành công và phát hiện những đóng góp không nhỏ của ông trong việc đổi mới nền
văn học đương đại. Bên cạnh đó, họ cũng thẳng thắn đưa ra những nhận xét về nghệ thuật
viết văn của tác giả. Dư luận khen cũng nhiều nhưng chê cũng có. Nhà nghiên cứu Đinh
Qua
ng Tốn từng cho rằng: “Nếu trong tổng số sáu trăm hội viên Hội nhà văn Việt Nam, cứ
mười người chọn lấy một người tiêu biểu thì Lê Lựu là một trong tổng số 60 nhà văn ấy.
Nếu về văn xuôi hiện đại, chọn lấy ba mươi tác phẩm, thì có mặt Thời xa vắng” [104, tr.
663]
.
Hay những nhận xét khá sắc sảo của Trần Đăng Khoa dà
nh cho tác phẩm Thời xa vắng
chẳng hạn. Tác giả vừa khẳng định những thành tựu về nội dung, nghệ thuật đồng thời chỉ
ra những hạn chế. Ông cho rằng “Với ba trăm trang sách, tiểu thuyết "Thời xa vắng" đã ôm
chứa một dung lượng lớn. Đấy là một chặng đường lịch sử oai hùng. Chặng đường ba mươi
năm, từ buổi lập nước đến lúc giải phóng xong t
oàn bộ đất nước” [104, tr. 674]. Hay : “Thời
xa vắng" ra đời có tiếng vang lớn, vượt quá sức hình dung của người đẻ ra nó. Xét về mặt
nghệ thuật, cuốn sách không có gì cách tân, tìm tòi, lối viết rất cũ, tốc độ truyện chậm, hơi
văn ở phần một và phần hai hình như lạc nhau, không liền mạch. Có cảm g
iác như đấy là
hai cuốn tiểu thuyết cùng một nội dung gộp lại.” [104, tr. 678]. Bên cạnh những ý kiến ấy,
trên báo Văn nghệ tháng 12.1986 trong bài "Vài cảm nghĩ sau khi đọc Thời xa vắng", có nhà
nghiên cứu đã mạnh dạn khẳng định: "Thời xa vắng với độ dày hơn ba trăm trang chia làm
ba phần. Bố cục của cuốn sách tương đối hợp lý, đặc biệt là phần một và phần hai viết khá
thành công. Điều đá
ng bàn và cần bàn là ở phần kết của tác phẩm" [104, tr. 541]. Dù khen
hay chê thì hầu hết các nhà nghiên cứu đều phải công nhận "Tiểu thuyết Thời xa vắng của
Lê lựu phản ánh sinh động và chân thực quá trình chuyển biến trong cách nhìn nhận đánh
xoay quanh tác phẩm Thời xa vắng hoặc là viết về từng tác phẩm cụ thể chứ chưa có một
bài nào hay một công trình nghiên cứu nào tìm hiểu một cách toàn diện về tiểu thuyết Lê
Lựu thời kỳ đổi mới mà cụ thể là bộ ba tác phẩm: Thời xa vắng, Chuyện làng Cuội, Sóng ở
đáy sông.
Với bài "Mỗi người phải chịu trách nhiệm về nhân cách của mì
nh" (Văn nghệ tháng
12- 1986), người viết đã chỉ ra những bi kịch mà Sài phải gánh lấy không những do hoàn
cảnh mang lại mà "mỗi người phải tự chịu trách nhiệm về chính nhân cách của mình, cuộc
đời mình". Qua một số bài nghiên cứu như: "Thời xa vắng - Một tâm sự nóng bỏng " của Lê
Thành Nghị, "Nghĩ về một Thời xa vắng" của Thiếu Mai, "Nhu cầu nhận thức lại thực tại
qua một Thời xa vắng" của Nguyễn Văn Lưu, "Suy tư từ một " Thời xa vắng" của Nguyễn
Hoà..., các tác giả lại chỉ ra một cách sâu sắc về sự mới mẻ của Lê Lựu. Đó c
hính là đặt ra
vấn đề nhận thức lại một "thời xa vắng" - một thời "sống hộ", "yêu hộ". Đồng thời họ đều
cùng không đồng tình với cách kết thúc truyện của nhà văn. Thiếu Mai cho rằng "Cuối
cùng là phần kết. Đọc đến đây tôi cảm thấy tác giả mệt rồi, hụt hơi rồi. Thế nhưng dường
như anh quá thương cảm cho số phận nhâ
n vật của mình nên không nỡ để cho nó lơ lửng,
mà phải tìm cho nó một hướng đi ổn định. Nhưng chính cái hướng đi này, theo sự suy
nghĩ của đa số người đọc thì lại không ổn, không phù hợp với nhân vật Sài của anh" [104,
tr. 584].
Trong bài "Đọc "Thời xa vắng" của Lê Lựu", H
oàng Ngọc Hiến lại nhìn thấy đề tài
"người nhà quê và đô thị", t
hấy được "người nhà quê vĩ đại" qua anh cu Sài. Cùng chung
cách đánh giá này có bài viết "Hình tượng người nông dân và nhà văn đô thị" của Nguyễn
Thu Hằng.

vắng (1984) Chuyện làng Cuội
(1991), Sóng ở đáy sông (1995).
4. Phương pháp nghi
ên cứu.
4.1. Phương
pháp lịch sử – xã hội
Văn học là bức tranh s
inh động nhất về đời sống hiện thực. Văn học nói chung và tiểu
thuyết của Lê Lựu nói riêng mang hơi thở chung của thời đại. Chính vì vậy, không xem xét
đến yếu tố hiện thực, đặc biệt đấy lại là nhiệm vụ do đại hội Đảng lần t
hứ VI (1986) đề ra
thì không thể nào thấy được sự tất yếu phải thay đổi, phải chuyển hướng của văn học nghệ
thuật trong giai đoạn này. Sử dụng phương pháp lịch sử xã hội sẽ giúp cho việc lý giải
những cơ sở thực tiễn và nguyên nhân sự chuyển hướng của nghệ thuật trong tác phẩm của
Lê Lựu.
4.2. Phương
pháp so sánh
Văn học chịu sự chi phối trực tiếp và hết sức mạnh mẽ của hoàn cảnh xã hội. Sự
chuyển biến đổi mới của văn học gắn với quá trình vận động đổi mới đang diễn ra trên toàn
xã hội. Việc sử dụng phương pháp so sánh (lịch đại, đồng đại) giúp chúng tôi có điều kiện
so sánh sự chuyển hướng nghệ thuật của Lê Lựu trong thời kỳ đổi mới cũng như những
điểm nổi trội đặc sắc của tiểu thuyết Lê Lựu so với tiểu thuyết của các tác giả cùn
g thời.
4.3. Phương pháp phân tích
Muốn làm
rõ những đặc điểm tiêu biểu về nội dung - nghệ thuật của tiểu thuyết Lê
Lựu thì không thể không tìm hiểu, đào sâu tác phẩm. Sử dụng phương pháp này sẽ giúp
chúng tôi đi sâu khám phá mọi cung bậc tình cảm, d
iễn biến tâm lý của nhân vật cũng như
những tìm tòi trăn trở của nhà văn trên từng trang viết.

1.
2. Tiểu thuyết Việt Nam thời kỳ đổi mới.
1.
2.1. Cơ sở thực tiễn của công
cuộc đổi mới văn học nghệ thuật.
1.
2.2. Tiểu thuyết Việt Nam thời kỳ đổi mới.
1.
3. Quan điểm nghệ thuật và sự nghiệp sáng tác văn học của Lê Lựu.
1.
3.1. Quan điểm nghệ thuật.
1.
3.2. Sự nghiệp sáng tác.
Chương 2
: Sự đổi mới cảm hứng nghệ thuật của Lê Lựu trong bộ ba tác phẩm
Thời xa vắng, Chuyện làng Cuội , Sóng
ở đáy sông
2.
1. Cảm hứng bi kịch thay thế cho chất sử thi và cảm hứng ngợi ca.
2.
1.1. Khái niệm cảm hứng - Cảm hứng bi kịch.
2.
1.2. Cảm hứng bi kịch trong văn học Việt Nam trước và sau thời kỳ đổi mới.
2.
1.3. Cảm hứng bi kịch thay thế cho chất sử thi và cảm hứng ngợi ca - những
biểu hiện cụ thể trong bộ ba tiểu thuyết Thời xa vắng - Chuyện làng Cuội
- Sóng ở đáy sông.
2.
1.3.1. Bi kịch do hoàn cảnh.
2.

3.
2. Giọng điệu trần thuật.
3.
2.1. Giọng điệu hài hước, trào tiếu.
3.
2.2. Giọng triết lý, ngậm ngùi xót thương.
3.
2.3. Giọng phê phán, lên án tố cáo.
KẾT LUẬN.
TÀI LIỆU THAM KHẢO.
PHỤ LỤC.
1. Tóm
tắt tiểu thuyết Thời xa vắng
2. Tóm
tắt tiểu thuyết Sóng ở đáy sông
3. Tóm
tắt tiểu thuyết Chuyện làng Cuội. Chương 1:
LÊ LỰU VÀ NỀN TIỂU THUYẾT VIỆT NAM
ĐƯƠNG ĐẠI1.1. Tiểu thuyết Việt Nam trước thời kỳ đổi mới
Dân
tộc ta có truyền thống thơ ca, thành tựu chủ yếu của văn học Việt Nam trước
đây chính là thơ ca. Đầu thế kỷ XX, nhất là giai đoạn 1930 –1945 với sáng tác của nhóm
“Tự lực văn đoàn” và các nhà văn hiện thực chủ nghĩa, nền tiểu thuyết mới thực sự hình
thành và phát triển theo hướng hiện đại. Sau cách mạng tháng Tám 1945, phải đến những


Nhìn vào nền văn học lúc bấy giờ, chúng ta thấy: "Về cơ bản chúng ta đã xây dựng
được một nền văn học nghệ thuật xã hội chủ nghĩa..."[17]. Mặc dù vậy, bên cạnh những
thành công, tiểu thuyết giai đoạn này vẫn còn những hạn chế. Tuy nhiên, nhược điểm
đồng thời là đặc điểm ấy được quy định bởi hoàn cảnh lịch sử xã hội. Bởi vì văn học dù ở
giai đoạn nào cũng phải phản á
nh hiện thực cuộc sống, mà hiện thực xã hội chủ yếu lúc
bấy giờ chính là chiến tranh. Do yêu cầu của thời đại cách mạng, văn học phải phản ánh
kịp thời, ca ngợi chủ nghĩa anh hùng toàn dân, hướng tới miêu tả cái đẹp, cái cao cả...Lúc
bấy giờ, cả nước lên đường đánh giặc, cả nước làm văn nghệ th
eo đường lối "kháng chiến
hoá văn hoá, văn hoá hoá kháng chiến" .Với khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn,
văn học giai đoạn ấy đã xây dựng những hình tượng sáng ngời chưa từng có trong lịch sử
dân tộc "chẳng những để làm gương mẫu cho chúng ta ngày nay mà còn để giáo dục con
cháu ta đời sau" như lời chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy. Gạt ra ngoài những gì thuộc về
riêng tư không có lợi cho
cộng đồng, tiểu thuyết giai đoạn này qủa đã làm tròn sứ mệnh
thiêng liêng của "một nền văn học chống đế quốc".
Những sáng tác của Nguyên Ngọc, Nguyên Hồng, Nguyễn Văn Bổng, Anh Đức,
Nguyễn K
hải, Nguyễn Đình Thi, Nguyễn Minh Châu... đã tạo nên những hình tượng đẹp,
có chiều sâu về: bộ đội, thanh niên xung phong, phụ nữ, phụ lão... Văn học phản ánh đủ
mọi tầng lớp nhâ
n dân và miêu tả phẩm chất cơ bản của con người lúc bấy giờ là lòng yêu
nước và căm thù giặc sâu sắc. Phong cách phản ánh hiện thực ấy đã ghi nhận những nét
đẹp rực rỡ của đất nước và con người Việt Nam trong khói lửa. Theo Trần Đình Sử trong
"Mấy vấn đề quan niệm của văn học Việt Nam thế kỷ XX" thì "Đấy không phải là vẻ đẹp
cổ xưa h
ay ước lệ của thơ văn cổ, không phải cái đẹp đìu hiu, vắng vẻ lạnh lùng cô đơn
như Thơ mới, hay dáng vẻ khổ sở, tủi nhục trong văn học hiện thực phê phán trước năm

u chiến thắng mùa Xuân năm 1975, đất nước ta bước vào một kỷ nguyên mới - kỷ
nguyên thống nhất, độc lập, tự do. Thắng lợi to lớn nhưng thách thức cũng hết sức nặng
nề. Sức người, sức của phải dồn và
o việc khôi phục cuộc sống sau chiến tranh. Cả đất
nước đứng trước một yêu cầu sống còn: phải nhận thức nhiều vấn đề và tự nhận đường.
Trước thực tế ấy, Đảng đã khởi xướng đổi mới từ năm 1985 và xác định công cuộc đổi
mới một cách toàn diện trong đại hội lần t
hứ VI (1986). Về văn học nghệ thuật, nghị quyết
05 của Bộ chính trị nhấn mạnh: “…Thực hiện chủ trương đổi mới của Đảng trong hoàn
cảnh cách mạng khoa học kỹ thuật đang diễn ra với quy mô và tốc độ chưa từng có trên
thế giới và
việc giao lưu giữa các nước và các nền văn hoá ngày càng mở rộng……..văn
nghệ nước ta cũng phải đổi mới, đổi mới tư duy, đổi mới cách nghĩ cách làm” . "Phát huy
khả năng sáng tạo, đưa văn học nghệ thuật phát triển lên một bước mới" [19].
Như vậy, đổi mới trở th
ành một quy luật tất yếu. Từ việc đổi mới kinh tế sẽ ké
o theo
đổi mới cuộc sống trên tất cả các lĩnh vực. Đổi mới toàn diện trước hết là đổi mới tư duy,
trong đó văn học nghệ thuật là một hoạt động tư duy sắc bén nhất. Vì vậy, văn học đã
được đặt lên hàng đầu ở công cuộc đổi mới này.
Từ yê
u cầu thực tiễn, Đảng xác định sứ mệnh của văn học nghệ thuật giờ đây không
phải là cổ vũ, động viên, ca ngợi
mà xây dựng tình cảm lành mạnh, tác động sâu sắc vào
việc đổi mới nếp nghĩ, nếp sống con người. Cho nên "Tư tưởng tôn trọng sự thật, nhìn
thẳng vào sự thật. Bởi vì sự thật luôn luôn là linh hồn của nghệ thuật chân chính" [123,
tr.88] được thể hiện đậm nét trên nhiều tra
ng viết. Đảng yêu cầu tác phẩm văn học phải:
mình
đối với cuộc sống. Những sáng tác của họ không nhằm minh hoạ các khẩu hiệu hay
cổ vũ cho các phong trào, giúp thực hiện các chủ trương, chính sách của nhà nước mà "tập
trung miêu tả số phận con người, mang đến cho con người cái đẹp, tình yêu cuộc sống
cũng như sự từng trải, làm phong phú thêm kinh nghiệm sống của mỗi cá nhân, đồng thời
phải nghiên cứu những vấn đề của x
ã hội đang diễn ra hay đi lùi vào quá khứ, từ đó rút ra
bài học, những tư tưởng mang tính khái quát, không chỉ quan trọng về triết học, đạo đức,
nhân sinh mà còn có thể mang ý nghĩa chính trị lớn lao" [150, tr.18].
Nhì
n nhận về mối quan hệ giữa văn học và hiện thực lúc bấy giờ, các nhà nghiên cứu
đã đánh giá sâu sắc "yêu cầu văn học trong điều kiện lịch sử mới phải giúp và
o sự hoàn
thiện bức tranh hiện thực còn trong dạng phác thảo của một thời đã qua, sao cho chân thực hơn, được soi tỏ dưới nhiều góc cạnh hơn [96, tr.106]. Giờ đây, với yêu cầu mới khiến cho
nhiệm vụ của văn học thay đổi, nó không chỉ phản ánh thế giới khách quan mà còn thể hiện
thế giới chủ quan. Nhận định về văn xuôi trong khoảng mười năm, Hoàng Ngọc Hiến trong
bài "Chủ nghĩa hiện thực và chủ nghĩa nhân đạo" cho rằng "Trong sáng tác văn học, cái
nhì
n mâu thuẫn trong hiện thực đời sống hết sức quan trọng. Những biến đổi sâu sắc trong
văn xuôi của ta khoảng mười lăm năm nay bắt nguồn từ sự thay đổi trong cách nhìn những
mâu thuẫn trong đời sống xã hội"[96, tr.239].
Vấn đề bản chất văn học cũng đư
ợc Lê Ngọc Trà đặt ra trong một loạt bài nghiên cứu
của mình. Ông nhận định: "Tác phẩm văn học là tiếng nói của những ấn tượng, những suy
nghĩ vừa như xác định vừa như chưa xác định, vừa như trọn vẹn lại vừa như chưa trọn vẹn,
vừa như c
ó ý giới hạn lại vừa như miên man, vô bờ bến. Đó là những cảm giác mang tính


đẳng trước cái nhìn của nhà văn. Tất cả mọi người trước nhà văn đều là nhân vật, nhà văn
coi trọng ở chỗ số phận của họ đóng góp được gì cho văn học."[98]. Cùng chung mối quan
tâm về văn học, năm 1989 trong bài Vấn đề định hướng của văn học trong tình hình hiện
nay, Trần Hữu Tá tinh tế khi chỉ ra những hạn chế, những sai lầm, non yếu trong sáng tác
nhưng cũng rất khách quan. Tác giả khảng định " ít thấy lúc nà
o tiểu thuyết phát triển mạnh
như mấy năm gần đây" (cuối những năm 80, đầu những năm 90), "sự lao động nghệ thuật
nghiêm túc theo phương hướng đổi mới sáng tạo ở một số cây bút là không thể phủ nhận".
Tác giả đã khẳng định những nét đổi mới của tiểu thuyết trong việc bám sát cuộc sống hôm
nay, nhất l
à quan tâm đến những vấn đề tâm lý xã hội của đời thường (quyền sống và số
phận con người, những mối quan hệ nghĩa tình nhân bản, bi kịch cá nhân, sự suy thoái của
đạo đức truyền thống...). Hơn thế nữa, tác giả còn nhận xét về cảm hứng chủ đạo trong tiểu
thuyết thời kỳ này "cảm hứng phê phán trong những tác phẩm này rào rạt, mạnh mẽ hơn giai
đoạn trước, tạo đư
ợc những tác động mạnh đến tâm trạng xã hội"[137].
Như vậy, với công cuộc đổi mới trên toàn xã hội, văn xuôi đa
ng chuyển mình một
cách mạnh mẽ. Giờ đây nó "không xuôi chiều kiểu êm dầm mát mái nữa" mà mạnh dạn
"phanh phui các mặt trái của xã hội, các uẩn khúc hoặc tráo trở của lòng người". Đến với
những tác phẩm giai đoạn này, người đọc tìm thấy mọi cung bậc của tình cảm: từ buồn bã,
cô đơn cho đến công phẫn, xót xa. Văn học g
iai đoạn này đã làm một cuộc "cách mạng"
thực sự. Nó giàu chất thực hơn, miêu tả cuộc sống trần trụi và mạnh dạn phơi bày sự băng
hoại đạo đức nếu thấy cần thiết. Giờ đây, yêu cầu tái hiện lịch sử phải đi sâu vào số phận
mỗi cá nhâ
n, phải đặt lại mọi vấn đề, suy nghĩ lại mọi niềm tin và có thể vượt qua mọi cấm
đoán kiêng kỵ. Điều này được Phan Cư Đệ ghi nhận định trong công trình Văn học Việt
Nam thế kỷ XX - những vấn đề lịch sữ và lý luận (2005): "Các nhà văn đã đi sâu vào tâm lý

sử dưới một
cái nhìn mới mà quan trọng hơn là đi sâu vào số phận mỗi cá nhân, mỗi gia đình, mỗi làng
quê. Cuộc sống được phản ánh vào tác phẩm không chỉ là cái phần anh hùng cao cả mà
còn thấm thía nỗi buồn của con người thời hậu chiến. Đấy là cuộc sống đời thường vừa
nhân hậu ấm áp, vừa bận rộn nhưng cũng không kém phần sôi động quyết liệt. Đặc biệt
“con người” trở thành một đối tượng thực sự trong văn học, một thế giới đầy bí ẩn và là
đối tượng khám phá không cùng của văn học. Con người với đầy đủ các “phẩm c
hất” và
“thuộc tính”, “bản năng” và “ý thức”, “thấp hèn” và “cao thượng”, “phần con” và “phần
người”…… Từ con người tập thể sang con người đời thường với tất cả tính chất mâu

thuẫn phức tạp, con người anh hùng và con người bi kịch.…Một quan niệm mới về con
người được hình thành, đấy là con người cá nhân, con người chịu trách nhiệm trước mọi
quyết định của chính bản thân mình. Con người ấy không còn "nguyên phiến sử thi" - chữ
dùng của Trần Đình Sử - mà hiện lên với nhiều mâu thuẫn. Những mặt trái của đời sống
được phơi bà
y cụ thể. Sự tha hoá về nhân cách, những số phận bi kịch, những tâm trạng lo
âu, khắc khoải đựơc đặc tả. Giọng điệu mỉa mai, phê phán tự vấn thay thế giọng điệu ngợi
ca, ru vỗ ngọt ngào êm ái. Con người được hình dung nhiều mặt. Không chỉ có ý chí, tư
tưởng, tình cảm mà còn được khắc hoạ ở các phương diện bản năng vô thức, tâm linh
nghịch lý. Anh sáng lý tưởng với những hà
o quang giờ đây nhạt dần. Những ngươi chiến
sĩ, những anh hùng không còn vị trí trung tâm mà được thay thế bởi những con người đời
thường, có khi la tầm thường nữa. Do đó, khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn phải nhường chỗ cho cảm hứng thế sự đời tư với những trăn trở tìm tòi. Nhiệt tình ca ngợi,
khẳng định được thay thế bằng sự phê phán. Điều này thể hiện hầu như trong các tác phẩm
có giá trị lúc bấy giờ:Bến không chồng của Dương Hướng, Mảnh đất lắm người nhiều ma
của Nguyễn Khắc Trường...

con người hiện lên sắc sảo với cách ứng xử thấu đáo và những suy nghĩ sâu sắc. Trong thế
giới nghệ thuật Ma Văn Kháng, con người được soi chiếu cả ở phần thể chất lẫn tâm
hồn
nên vừa nồng nàn trong niềm khát khao được giao cảm lại vừa bận rộn với những tính
toán trong cuộc mưu sinh. Ngòi bút nhà văn dường như luồn thật sâu vào mọi ngõ ngách
trong tâm hồn con người để lần tìm những rung động dù rất nhỏ. Cuộc sống thường nhật cũng như đời sống tâm hồn được miêu tả chân thực hơn. Ở đấy không chỉ có hạnh phúc,
chiến thắng mà còn có đau đớn, tủi nhục, bất hạnh. Cuộc sống con người hiện lên trên
trang viết hôm nay thật phong phú đa dạng. Các nhà văn đã tiếp cận con người từ nhiều
chiều và thể hiện những cảm nhận về con người bằng nhiều cách khác nhau. Chiến tranh
đã kết thúc nhưng những dư âm của cuộc chiến vẫn còn. Giờ đây, chiến t
ranh được tái
hiện trên nhiều bình diện nhưng đằm lại và sâu lắng hơn. Hình tượng người chiến sỹ gần
hơn với cuộc sống đời thường.
Như vậy, đổi mới tư duy nghệ thuật, văn xuôi nói chung và tiểu thuyết nói riêng giai
đoạn nà
y đã thực sự mở rộng đường biên trong việc phản ánh vì nó được viết dưới ánh
sáng của tư tưởng nhân văn. Văn học đã thực sự đư
ợc cởi trói, cho nên chủ đề, đề tài được
mở rộng, không bị gò ép, không bị giới hạn. Văn học đã tìm về với "con người đời
thường", "con người cá nhân" nhưng vẫn "mới", vẫn không dẫm chân lên lối cũ "mà đầy
sáng tạo" trong sự vận động không ngừng của cuộc sống mới. Văn học đư
ợc trả lại “thiên
chức” của mình trong việc phản ánh đời sống và điều ấy tạo nên giọng điệu đa thanh trong
mỗi tác phẩm, trong từng tác giả.
1.
3. Quan điểm nghệ thuật và sự nghiệp sáng tác văn học của Lê Lựu
1.

chút tô vẽ! Trên hành trình kiếm tìm sự thật ấy, nhà văn đã mạnh dạn phơi bày tất cả
những gì đang diễn ra, những gì trước nay bị che dấu, bị lờ đi. Vì vậy, sự thật về đời sống,
về con người hiện lên rõ nét hơn trong tác phẩm của ông.
Là một người nông dân mặc áo lính, Lê Lựu luôn luôn nghĩ về quê hương, ông chú ý
đến tất cả mọi điều li
ên quan đến người nông dân. Nông thôn và người nông dân là mảng
đề tài bất tận mà ông khai phá. Cho nên, viết về đề tài gì đi chăng nữa thì hình ảnh làng
quê với những nhân vật "người nhà quê" vẫn hiển hiện trên từng trang viết. Theo nhà
nghiên cứu Đinh Quang Tốn “Đề tài hậu phương nông thôn miền Bắc trong chiến tranh
chống Mỹ có
nhiều người viết, nhưng Lê Lựu là người viết thành công hơn cả”[104,
tr.663]. Hơn thế nữa, Lê Lựu đi nhiều, biết nhiều, vốn sống của ông căng tràn. Bản thân là
một người lính nên ông rất dễ hoà đồng với họ. Ông hiểu tâm tư tình cảm của họ một cách
tự nhiên. Họ chính là ông mà ông cũng chính là họ. Ông đã viết những gì mình biết, mình
hiểu một cách sâu sắc và tất cả những điều ấy đều xuất phát từ quan niệm nghệ thuật "tôn
trọng sự thật".
Do
vậy, khi nghiên cứu tác phẩm, chúng ta không thể không đề cập đến quan điểm
nghệ thuật của nhà văn.
1.
3.2. Sự nghiệp sáng tác
Lê Lựu sinh vào ngày 12/12/1942 tại một làng ngoài đê sông Hồng, thôn Mẫn H
oà,
xã Tân Châu, huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên trong một gia đình nông dân bình thường
như bao gia đình nông dân tại vùng đồng bằng Bắc Bộ Việt Nam. Làng quê mà ông sinh
ra và lớn lê
n là một vùng quê nghèo đói, một vùng chiêm trũng ngập lụt.
Ông
lớn lên giữa lúc miền Bắc được hoàn toàn giải phóng. Người nông dân bước vào
công cuộc xây dựng xã hội mới, người cày có ruộng. Ông rời ghế nhà trường bước vào

tượng sâu sắc có lẽ không phải do nghệ thuật xây dựng tiểu thuyết như Nguyễn Mi
nh Châu
hay các nhà văn đương thời khác mà vì nội dung thấm đẫm tính nhân văn cao đẹp, hiện thực
cuộc sống gai góc, tươi mới ngồn ngộn chảy trên trang viết.
Năm 1964, ông trình làng truyện ngắn đầu tiên: Tết làng Mụa. Tiếp theo là các
truyện Trong làng nhỏ, Người cầm súng...Trên bốn mươi năm cầm bú
t, với trên 15 tập
sách, Lê Lựu đã có tác phẩm đạt đến đỉnh cao như Thời xa vắng. Từ truyện ngắn, ông lấn
sân sang tiểu thuyết và cả hai thể loại đều thành công. Thế nhưng thành công hơn cả vẫn
là tiểu thuyết. Sự th
ành công ấy được đánh dấu qua việc nhà văn nhận giải nhì cuộc thi
truyện ngắn báo Văn nghệ 1967 – 1968 với truyện ngắn Người cầm súng và giải thưởng
Hội nhà văn Việt Nam 1998 với tiểu thuyết Thời xa vắng.
So
với các nhà văn khác như Tô Hoài, Nguyên Hồng, Nguyễn Minh Châu chẳng hạn
thì sự nghiệp sáng tác của Lê Lựu chưa lớn. Thế nhưng khi ghi nhận những cây viết có sự đóng góp cho nền văn xuôi đương đại nước nhà, ta không thể bỏ qua Lê Lựu. Ông chính là
một trong những cây bút có đóng góp quan trọng đối với văn học thời kỳ đổi mới. Khuynh
hướng nhận thức lại hiện thực cùng cảm hứng đời tư thế sự với những lấm lem bi kịch
trong Thời xa vắng và các tác phẩm tiếp theo của ông đã góp phần đổi mới tư duy tiểu
thuyết lú
c bấy giờ. Thời xa vắng, Chuyện làng Cuội, Sóng ở đáy sông không những cho
bạn đọc biết đến một nhà tiểu thuyết Lê Lưụ mà bộ ba tác phẩm ấy đã khẳng định phong
cách nghệ thuật cũng như in dấu đậm nét tên tuổi nhà văn trong quá trình vận động của
tiểu thuyết Việt Nam đương đại. Chương 2:

sẽ không được nâ
ng lên thành cảm hứng. Ở những tác phẩm mang tư tưởng giả tạo, cảm
hứng chỉ được tạo nên do ý chí chủ quan của nhà văn và vì vậy cảm hứng sẽ mang tính
chất gượng gạo, cố tình" [132, tr.152 – 153].
Vậy là, dù các
h diễn đạt có khác nhau nhưng ta có thể nhận thấy các nhà mỹ học, các
nhà nghiên cứu văn học đều thống nhất khi quan niệm về cảm hứng. Đó chính là một thứ
tình cảm mạnh mẽ, đam mê, mang
bầu nhiệt huyết nóng hổi của trái tim người nghệ sĩ
hướng về đối tượng phản ánh trong tác phẩm của mình. Cảm hứng do vậy cũng không thể là một thứ tình cảm giả tạo, hời hợt mà thực sự là một thứ tình cảm sâu sắc mãnh liệt. Đó
thực sự phải là một tình yêu tha thiết, cũng có thể là một nỗi đau đớn nát tan hay một sự
căm ghét tận xương tủy.
Cuộc sống con người là thế giới m
uôn màu, chính vì thế, cảm hứng cũng mang nhiều
dạng thức khác nhau. Có cảm hứng bi kịch, cảm hứng hài kịch, cảm hứng lãng mạn, cảm
hứng châm
biếm...Tuy nhiên, cảm hứng chủ đạo trong bộ ba tiểu thuyết của Lê Lựu là
cảm hứng bi kịch nên người viết chỉ tập trung khám phá cảm hứng bi kịch.
Chúng ta biết rằng bản c
hất của sự xuất hiện cái bi chính là sự xung đột. Và những
xung đột để tạo ra cái bi ấy không phải là những xung đột thông thường mà là những xung
đột mang ý nghĩa x
ã hội, lịch sử, nhân sinh. Một biểu hiện cụ thể dễ thấy khi con người
rơi vào bi kịch theo Popelov là: "Người ta trải nghiệm sự căng thẳng và sự lo âu sâu sắc
trong tâm hồn, khiến người ta phải chịu những đau khổ, thường rất nặng nề". Những bi
kịch ấy chủ yếu ở "những mâu thuẫn và đấu tranh bên trong, nảy sinh trong ý thức, trong
tâm hồn con người" [132, tr.170].

Kiều của Nguyễn Du...Có thể nói bi kịch chính là cảm hứng chủ đạo của nền văn học giai
đoạn này vì xã hội lúc bấy giờ có nhiều biến động dữ dội. Giai cấp phong kiến không còn
khả năng quản lý. Chúng ra sức vơ vét bòn rút của cải, tranh giành quyền lực, gây ra
những cuộc nội chiến liên miên khiến cho cuộc sống của người dân lao đao mà người chịu
nhiều đau
khổ nhất không ai khác chính là chị em phụ nữ.
Từ cuối thế kỷ XI
X đến nửa đầu thế kỷ XX, vẫn tiếp tục tồn tại trong văn học cảm
hứng bi kịch. Chúng ta bắt gặp trên từng trang viết nỗi cô đơn, sự day dứt, đau khổ của
con người cá nhân mà một trong những tác phẩm đầu tiên thể hiện cảm hứng bi kịch giai
đoạn này chính là Tru
yện thầy Lazarô Phiền của Nguyễn Trọng Quản. Đặc biệt, tiểu
thuyết Tố Tâm của Hoàng Ngọc Phách lại khắc hoạ đậm nét cảm hứng này.

thể nói Truyện thầy Lazarô Phiền của Nguyễn Trọng Quản và Tố Tâm của Hoàng
Ngọc Phách là những trang viết thấm đẫm nước mắt bởi nhân vật chính đã ý thức sâu sắc
về nỗi đau khổ của mình. Nhân vật thật sự bị giằng xé, đau
đớn trong đời sống nội tâm.
Cái chết của nhân vật để lại những ấn tượng sâu sắc cho người đọc.
Tiếp nối nguồn cảm hứng ấy, Nam Cao - một nhà văn của phong trào hiện thực - đã
khái quát bi kịch
bằng những hình tượng nhân vật sống động cho nền văn học lúc bấy giờ.
Qua tác phẩm Ch
í Phèo, chúng ta thấy tấn bi kịch về sự tha hoá, bi kịch không được
quyền làm người của anh Chí. Ta còn bắt gặp bi kịch "chết mòn", bi kịch "sống không ra
sống" của Hộ trong Đời thừa, Thứ trong Sống mòn... Đó là bi kịch của những xung đột
không thể giải quyết được giữa con người và hoàn cảnh, giữa cá nhân và xã hội.
Văn học g
iai đoạn từ 1945 đến t
rước thời kỳ đổi mới với nhiệm vụ động viên cổ vũ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status