Không gian và thời gian nghệ thuật trong tiểu thuyết Lê Lựu thời kỳ đổi mới - Pdf 25

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

ĐÀO THỊ CÚC
KHÔNG GIAN VÀ THỜI GIAN NGHỆ THUẬT
TRONG TIỂU THUYẾT LÊ LỰU
THỜI KÌ ĐỔI MỚI Chuyên ngành: VĂN HỌC VIỆT NAM
Mã số : 60 22 34
LUẬN VĂN THẠC SĨ Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS LÝ HOÀI THU


31
2.2 Các dạng thức, mô hình không gian nghệ thuật trong tiểu thuyết Lê
Lựu 33
2.2.1 Không gian bối cảnh xã hội 33

2
2.2.1.1 Không gian nông thôn nghèo khổ, lam lũ, tăm tối 33
2.2.1.2 Không gian phố phường chật hẹp, bức bối, ngột ngạt 42
2.2.2 Không gian tâm tưởng 51
2. 3 Cách thức biểu hiện không gian nghệ thuật.
598
2.3.1 Tổ chức không gian theo nguyên tắc tương phản 58
2.3.2 Sự luân chuyển không gian 61
CHƯƠNG 3: THỜI GIAN NGHỆ THUẬT TRONG TIỂU THUYẾT LÊ
LỰU THỜI KÌ ĐỔI MỚI.
665
3.1 Giới thuyết về thời gian nghệ thuật
665
3.2 Các dạng thức biểu hiện của thời gian nghệ thuật trong tiểu thuyết Lê
Lựu 68
3.2.1 Thời gian lịch sử - sự kiện 68
3.2.2 Thời gian đêm 73
3.2.3 Thời gian tâm tưởng đa tuyến 78
3.3 Cách thức biểu hiện thời gian nghệ thuật
832
3.3.1 Tổ chức thời gian theo phương thức đảo ngược 82
3.3.2 Tổ chức thời gian theo phương thức tương phản 83
3.3.3 Kết hợp thủ pháp "đón trước" và "ngoái lại" 86
3.3.4 Tổ chức thời gian trong sự kết hợp với không gian nghệ thuật 90
PHẦN KẾT LUẬN 98


4
Sáng tác của Lê Lựu có nhiều đóng góp mới cho tiến trình văn học đổi
mới. Nhà văn đã xác lập cho mình một chỗ đứng vững chắc trên văn đàn bằng
các tác phẩm như: Mở rừng, Thời xa vắng, Chuyện làng Cuội, Sóng ở đáy
sông, Hai nhà…trong đó có những tác phẩm đoạt giải của Hội nhà văn (Thời
xa vắng – 1986). Năm 2001, Lê Lựu là một trong số hiếm hoi những nhà văn
thế hệ chống Mĩ vinh dự được nhận giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ
thuật với cụm tác phẩm: Người cầm súng, Mở rừng, Thời xa vắng. Lê Lựu
cũng là người có khả năng “thâm canh” tác phẩm của mình. Nhà văn đã
chuyển Thời xa vắng, Sóng ở đáy sông thành kịch bản phim. Điều này minh
chứng sức sáng tạo miệt mài, đồng thời khẳng định tài năng và bản lĩnh của
người nghệ sĩ Lê Lựu.
Trong lịch sử Văn học Việt Nam hiện đại, khi nói đến thành tựu của
văn học chống Mĩ và văn học thời kì đổi mới, giới nghiên cứu văn học không
thể không nhắc đến Lê Lựu và đặt ông vào vị trí xứng đáng của thế hệ nhà
văn trưởng thành trong chiến tranh chống Mĩ, là nhà văn “tiền trạm” của Văn
học Việt Nam thời kì đổi mới. Song không chỉ đi sâu khám phá về phương
diện nội dung tư tưởng, Lê Lựu còn có những đổi mới trên bình diện thi pháp
mà một trong số đó nghệ thuật kiến tạo không gian và thời gian nghệ thuật –
góp phần biểu đạt nội dung tư tưởng tác phẩm, đồng thời thể hiện những quan
niệm nghệ thuật của nhà văn. Lựa chọn đề tài: “Không gian và thời gian nghệ
thuật trong tiểu thuyết Lê Lựu thời kì đổi mới”, chúng tôi mong muốn tiếp
cận một bình diện nghệ thuật để từ đó góp phần làm sáng tỏ phong cách nghệ
thuật Lê Lựu đồng thời để khẳng định những đóng góp của nhà văn nhìn từ
góc độ thi pháp.
2. Lịch sử vấn đề.
Lê Lựu khởi nghiệp bằng một số truyện ngắn và phóng sự, trong đó gây
được tiếng vang lớn là tác phẩm Người về từ đồng cói (đã được chuyển thể


được những câu văn ứa lệ như vậy, đó là những trang văn hay của văn xuôi
Việt Nam”[53, 591].
Nhà thơ Trần Đăng Khoa - người đồng hương và cũng là người vô
cùng quý mến Lê Lựu đã có những nhận xét xác đáng về cuốn tiểu thuyết
này: “Lê Lựu đã dựng lên một loạt bức tranh nông thôn đặc sắc. Có nhiều
trang đạt chuẩn Nam Cao. Có thể nói tắt từ Nam Cao qua một chút Kim Lân
đến Nguyễn Khắc Trường và Lê Lựu, chúng ta mới lại có nhà văn nông thôn
thứ thiệt” [27, 677].
Nhắc đến Lê Lựu, người ta hay nói đến Thời xa vắng, tác phẩm đưa
ông trở thành “sỹ quan” trong làng văn. Không phải đơn giản cuốn tiểu
thuyết này lại nhận được quá nhiều lời khen chê, bởi lẽ tác phẩm đã khơi gợi
sứ mệnh thiêng liêng mà mọi nền văn học chân chính xưa nay muốn đảm
nhiệm. Theo nghĩa này, Vương Trí Nhàn đã khẳng định: “Thời xa vắng nên
được xem là cuốn sách biết làm đúng nhiệm vụ của một tác phẩm văn học cần
làm” [59, 620].
Nối tiếp nguồn cảm hứng của Thời xa vắng thời gian sau đó, Lê Lựu
cho ra mắt bạn đọc hàng loạt tác phẩm:
- Đại tá không biết đùa (1989).
- Chuyện làng Cuội (1993).
- Sóng ở đáy sông (1994).
- Hai nhà (2003).

và thật sự đã gây được nhiều tiếng vang trong dư luận như Lê Lựu từng tâm
sự: “Có những cuốn tiểu thuyết nổi tiếng bởi tự thân nội dung đặc sắc của nó
đi được vào mạch ngầm tâm tư tình cảm của nhân vật (Thời xa vắng), cũng

7
có những cuốn tiểu thuyết nổi tiếng bởi … tai tiếng (Chuyện làng Cuội), lại có
những cuốn tiểu thuyết khi lên phim mới nổi đình nổi đám và kéo theo đó là…
tai bay vạ gió” [59, 708]. Song ở bất cứ tác phẩm nào, dù lớn hay nhỏ, Lê

bài viết, các công trình nghiên cứu có đề cập đến yếu tố thời gian và không
gian nghệ thuật song chỉ mới dừng lại ở mức độ khái quát sơ lược. Lựa chọn
đề tài: “Không gian và thời gian nghệ thuật trong tiểu thuyết Lê Lựu thời kì
đổi mới”, chúng tôi mong muốn tìm hiểu một khía cạnh thuộc phạm trù thi
pháp nghệ thuật của nhà văn để có được cái nhìn toàn vẹn, sâu sắc hơn về
phong cách nghệ thuật cũng như vị thế của một cây bút “tiền trạm” trong
công cuộc đổi mới văn học.
3. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu.
3.1. Đối tượng nghiên cứu.
Sự nghiệp sáng tác của Lê Lựu diễn ra trong gần nửa thế kỉ với số
lượng tác phẩm khá phong phú: chín tập truyện, hai tập kí và tám cuốn tiểu
thuyết. Tuy nhiên trong phạm vi luận văn, chúng tôi không thể tiến hành khảo
sát thời gian và không gian trong tất cả tác phẩm của Lê Lựu mà chủ yếu khảo
sát thời gian và không gian trong các tác phẩm của ông thời kì đổi mới (từ
1986). Cụ thể là gồm bốn tiểu thuyết sau:
- Thời xa vắng (1986)
- Chuyện làng Cuội (1993).
- Sóng ở đáy sông (1994).
- Hai nhà (2003).

9
Tuy nhiên trong quá trình phân tích, chúng tôi sẽ đặt những sáng tác
của ông trong toàn bộ hệ thống tiểu thuyết Lê Lựu để thấy được những đặc
điểm chung nhất về nghệ thuật không gian và thời gian.
3.2. Phạm vi nghiên cứu.
Về Lê Lựu và sự nghiệp sáng tác của ông đã có rất nhiều ý kiến bàn
luận nhưng chưa đi sâu tìm hiểu nghệ thuật lựa chọn và kiến tạo không gian
và thời gian nghệ thuật của ông. Trong luận văn này, chúng tôi tập trung phân
tích khám phá thế giới không gian và thời gian nghệ thuật, cũng như cách
thức biểu hiện chúng để góp phần làm sáng tỏ phong cách nghệ thuật Lê Lựu.

không hoàn toàn giống nhau về tiểu thuyết.
Trong Bàn về tiểu thuyết, nhà văn Phạm Quỳnh cho rằng: “Tiểu thuyết
là một truyện viết bằng văn xuôi đặt ra để tả tình tự người ta, phong tục xã
hội hay là những sự lạ tích kì đủ làm cho người đọc hứng thú”, hay nói cách
khác, đó là một “truyện bịa đặt thú vị” [dẫn theo 75,10]. Định nghĩa này một
thời đã đặt nền tảng quan niệm cho cả người sáng tác lẫn giới phê bình văn
học. Nói tới tiểu thuyết, người ta nghĩ ngay tới một tác phẩm văn xuôi kể lại
một câu chuyện lí thú bằng cách hư cấu để phản ánh hiện thực, miêu tả các sự
kiện, biến cố, phong tục tập quán, phân tích tâm lí, tình cảm…
Trong cuốn Từ điển thuật ngữ văn học, các tác giả Lê Bá Hán, Trần
Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi đã định nghĩa: Tiểu thuyết là một “tác phẩm tự sự
cỡ lớn có khả năng phản ánh hiện thực đời sống ở mọi giới hạn của không
gian và thời gian. Tiểu thuyết có thể phản ánh số phận của nhiều cuộc đời,

11
những bức tranh phong tục, đạo đức xã hội, miêu tả các điều kiện sinh hoạt
giai cấp, tái hiện nhiều tính cách đa dạng”[17, 328].
Điểm chung gặp gỡ của các quan điểm là đều khẳng định tính chất đặc
biệt của tiểu thuyết: phản ánh bức tranh hiện thực đời sống với quy mô lớn
trong đó chứa đựng nhiều vấn đề sâu sắc của đời sống xã hội, của số phận con
người.
Định nghĩa của các tác giả trong cuốn “Lý luận văn học”có lẽ mang
tính chất tổng quát hơn cả về thể loại này: “Tiểu thuyết là một thể loại lớn
nằm trong phương thức tự sự có khả năng phản ánh hiện thực đời sống một
cách bao quát ở mọi giới hạn không gian và thời gian, khả năng khám phá
một cách sâu sắc những vấn đề thuộc thân phận con người thông qua những
tính cách đa dạng, phức tạp và khả năng tái hiện những bức tranh mang tính
tổng thể rộng lớn về đời sống xã hội”[11].
Nếu truyện ngắn là một thể loại tự sự cỡ nhỏ, khả năng bao quát hiện
thực đời sống, thể hiện số phận cá nhân chỉ giới hạn trong một phạm vi nào

chuẩn mực đời sống xã hội”[62]. Các nhà tiểu thuyết cảm nhận, miêu tả hình
ảnh con người trong những mối quan hệ xã hội, gia đình và bản thân một cách
đa chiều với những trạng thái tâm lí, tình cảm phức tạp nhằm khắc họa một
bức tranh hiện thực chân thật và sống động.
Tiểu thuyết có xu hướng dần xóa bỏ khoảng cách giữa người trần thuật
và đối tượng trần thuật. Trong tiểu thuyết, khoảng cách giữa người trần thuật
và nhân vật được rút ngắn, thậm chí xóa bỏ. Chính đặc điểm này làm cho tiểu
thuyết trở thành một thể loại dân chủ. Nhà văn có thể thâm nhập vào đời sống
bên trong của con người để khám phá, miêu tả và lí giải. Đối tượng phản ánh
vì vậy luôn bao quát hơn, đa diện hơn. Nhân vật cũng có thể ngồi ngang hàng

13
với tác giả, “đối thoại với tác giả”, ở đó chân lí thuộc về tất cả, không ai có
quyền phán xét hay áp đặt. Từ đây xuất hiện loại ngôn ngữ đối thoại trong
tiểu thuyết. Đây cũng chính là cái “tính đa thanh, phức điệu” mà M.Bakhtin
từng gọi là “cái thần tình của thể loại”.
Nếu thành phần chính của truyện ngắn và truyện vừa là cốt truyện và
tính cách nhân vật thì tiểu thuyết còn quan tâm đến việc miêu tả về suy tư của
nhân vật trước thế giới và đời người, phân tích cặn kẽ các diễn biến tình cảm,
trình bày tường tận về tiểu sử nhân vật. Tiểu thuyết có khả năng đi sâu khai
thác từng mảnh đời, từng góc khuất trong sâu thẳm tâm hồn con người.
“Chúng ta tiếp thu các hình thức tiểu thuyết chính là để trở về xem xét con
người Việt nam một cách sáng tỏ để đào xới về nó sâu hơn”(Nguyễn Minh
Châu).
Tiểu thuyết là một thể loại có cấu trúc hết sức linh hoạt. “Ưu thế của
thể loại không chỉ bộc lộ ở khả năng mở rộng đường biên hiện thực mà còn ở
khả năng thâu tóm, dồn ép nhân vật, sự kiện vào một khoảng không gian ngắn,
thời gian hẹp,… để tạo nên những bức tranh hiện thực có qui mô vừa và nhỏ.
Trên nền của những bức tranh đời sống đã được thu hẹp đó, nhà văn thuận
lợi hơn khi đi sâu vào những cảnh ngộ riêng của nhân vật” [dẫn theo 11, 193]

nhu cầu thưởng thức nghệ thuật của công chúng văn chương: Gorki với tiểu
thuyết thế sự - trữ tình; Tônxtôi với tiểu thuyết sử thi – tâm lí, Đốtxtôiépxki
với tiểu thuyết – kịch, Mác-két với tiểu thuyết huyền thoại; Hê-ming-uê với
tiểu thuyết sử thi – trữ tình,…Điều này đã minh chứng tiểu thuyết là “thể loại
duy nhất đang hình thành và chưa xong xuôi” (Bakhtin)
Ngày nay, cùng với sự xuất hiện và “lên ngôi” của thi pháp học (cụ thể
là thi pháp thể loại và tự sự học) thì không gian và thời gian nghệ thuật là
những yếu tố quan trọng được các nhà nghiên cứu quan tâm khi tìm hiểu về

15
tiểu thuyết bởi lẽ trong những cách tân nghệ thuật gần đây, phạm trù không –
thời gian được thừa nhận là yếu tố mang đến cho tiểu thuyết tính hiện đại.
Tìm hiểu khái niệm và đặc trưng cơ bản của tiểu thuyết là cơ sở để tìm
hiểu và khám phá về tiểu thuyết Việt nam sau đổi mới nói chung và tiểu
thuyết Lê Lựu nói riêng.
1.2. Bức tranh toàn cảnh về tiểu thuyết Việt Nam sau năm 1975
Ngày 30 - 4 - 1975, cuộc kháng chiến chống Mỹ hoàn toàn thắng lợi,
giang sơn thu về một mối. Lịch sử dân tộc đã thực sự sang trang. Một giai
đoạn văn học mới cũng đã hình thành. Đặc biệt, Nghị quyết đại hội đảng VI
(1986) đã thổi một luồng gió mới vào lĩnh vực đời sống xã hội, trong đó có
văn học. Công cuộc đổi mới với tinh thần dân chủ với khẩu hiệu: “Nhìn thẳng
vào sự thật, nói rõ sự thật và nói đúng sự thật” đã đáp ứng nhu cầu sáng tác
và “cởi trói” cho người cầm bút. Mặt khác, cuộc sống thời hậu chiến với bao
biến động, thay đổi, con người có một độ lùi thời gian đáng kể để kiểm
nghiệm chân giá trị của một số tác phẩm văn học mà ở giai đoạn trước còn bị
nhìn nhận, đánh giá khắt khe.
Ngoài ra, cũng phải kể đến vai trò của sự giao lưu văn hóa với các nước
khác trong khu vực và trên thế giới cũng tác động đến quá trình sáng tác của
các nhà văn. Đó là nguyên nhân khách quan và chủ quan đưa đến sự chuyển
đổi của văn xuôi tiểu thuyết nói chung và trong tư duy của những nhà văn thời

thuyết Thời xa vắng của Lê Lựu được coi là một trong những tác phẩm khơi
nguồn cho mạch cảm hứng này. Các tác giả Nguyễn Khải, Nguyễn Minh
Châu, Ma Văn Kháng, Lê Lựu, Nguyễn Khắc Trường …đã tạo nên sự khởi
sắc trong quá trình đổi mới văn học thời kỳ này. Với cảm quan nhạy bén, tinh

17
tế, các nhà văn đã khám phá và phản ánh những bi kịch cá nhân con người
bằng cảm hứng phê phán. Các tiểu thuyết: Dấu chân người lính (Nguyễn
Minh Châu), Thời gian của người (Nguyễn Khải), Thời xa vắng (Lê Lựu), Ăn
mày dĩ vãng (Chu Lai), Mùa lá rụng trong vườn (Ma Văn Kháng), Mảnh đất
lắm người nhiều ma (Nguyễn Khắc Tường) , Ăn mày dĩ vãng (Chu Lai), Thân
phận của tình yêu (Bảo Ninh), … đã chứng minh cho sự đổi thay của tư duy
nghệ thuật tiểu thuyết sau năm 1975.
Tư duy mới về nghệ thuật còn thể hiện trong cách nhìn, trong quan
niệm về con người: Con người được nhìn trong sự toàn diện, đa chiều và thậm
chí là… “đa sự”. Con người trong tiểu thuyết được mô tả là những biểu tượng
đối nghịch mà thống nhất: thiên thần – ác quỷ, rồng phượng – rắn rết, cao quý
– thấp hèn,… Song, các nhà tiểu thuyết luôn gửi gắm niềm tin đối với cuộc
sống qua những hình tượng nghệ thuật. Con người luôn vươn lên chiếm lĩnh
những giá trị muôn đời của cái Chân, cái Thiện, cái Mĩ. Nhà văn không mô tả
theo xu hướng lý tưởng hóa như giai đoạn trước đó mà khắc họa chân dung
con người chân thật và sống động hơn, đó là kiểu “con người này” (chữ của
Hêghen) mà ta có thể bắt gặp trong cuộc sống hiện thực.
Cùng với sự thay đổi về tư duy nghệ thuật thì cảm hứng sáng tạo cũng
đổi thay. Nếu lấy mốc năm 1975 để phân định thì có sự chuyển hướng từ cảm
hứng sử thi lãng mạn sang cảm hứng chiêm nghiệm, lắng đọng, suy tư; từ
cảm hứng về dân tộc, cộng đồng sang cảm hứng về thân phận cá nhân con
người. Nhà văn quan tâm mô tả nỗi niềm tâm sự, những bất hạnh, bi kịch,
những hạnh phúc ngọt ngào trong cuộc sống cá nhân con người, trong một bối
cảnh không gian thu hẹp. Chính hiện thực cuộc sống phong phú, bộn bề, phức

Phê phán, phủ nhận cái xấu, các ác trên tinh thần nhân bản nhân văn,
các tác giả như muốn gửi tới người đọc một thông điệp xanh: “Hãy thức tỉnh

19
nhân tính con người!”. Không hề né tránh hiện thực, trái lại, các nhà tiểu
thuyết luôn luôn đối diện và săn đuổi hiện thực, sáng tạo những hình tượng
nghệ thuật bằng cả tài năng, trách nhiệm và lương tâm của người cầm bút
chân chính.
Chiêm nghiệm, suy tư về quá khứ cũng là cảm hứng nổi bật trong các
tiểu thuyết thời kỳ đổi mới. Tuy vậy, hồi cố không phải để nuối tiếc hay đào
xới quá khứ mà để nhìn thẳng vào đó, vươn tới lẽ sống tốt đẹp hơn trong hiện
tại và tương lai. Và dù viết về hiện tại hay quá khứ, các tác phẩm đều gửi gắm
những câu hỏi nghiêm túc về con người, về cuộc vật lộn giữa con người và
hoàn cảnh để tìm kiếm chính mình. Như vậy, mạch chính của tiểu thuyết từ
cao trào đổi mới văn xuôi trở đi đã diễn đạt những trăn trở, bức xúc về con
người trong niềm khao khát tác động vào xã hội, thay đổi hoàn cảnh sống để
có được mặt bằng văn hóa cao hơn, điều kiện vật chất tốt hơn cho sự phát
triển tính người lành mạnh.
1.2.2… đến quá trình đổi mới hình thức nghệ thuật
“Trong văn chương không có sự độc tôn thể loại, hình thức và phong
cách nghệ thuật. Sự phong phú của văn chương là nhờ vào “bảng màu” đa
sắc của những tìm tòi cả về nội dung và hình thức”[85, 191]. Các nhà tiểu
thuyết sau năm 1975 không chỉ khám phá về nội dung tư tưởng mà còn có
những cách tân về hình thức nghệ thuật. Điều này thể hiện rõ trên các phương
diện: dung lượng, kết cấu, nghệ thuật xây dựng nhân vật, ngôn ngữ, giọng
điệu, cách kiến tạo không gian và thời gian nghệ thuật… Đặc biệt từ năm
1986 trở đi, tiểu thuyết Việt Nam hiện đại đã có nhiều sự đột phá trong hành
trình cách tân nghệ thuật.
Trước hết, về mặt dung lượng, tiểu thuyết là thời kỳ đổi mới xuất hiện
kiểu tiểu thuyết tiểu ngắn, nói cách khác, tiểu thuyết ngắn đang có xu hướng

ngoài sự chuẩn bị cho cái chết của mình. Vì thế họ phải chuẩn bị đến nơi, đến

21
chốn” [2, 131]. Qua nhân vật này, nhà văn muốn bày tỏ một quan niệm: Trên
hành trình đi tìm chân lý, con người phải trải qua biết bao sự đau khổ dù đó
chỉ là lão già đau khổ (“Lão khổ”) hay đứa bé nằm trong bụng mẹ.
Sự cách tân trong dung lượng kéo theo sự đổi mới trong kết cấu tiểu
thuyết. Kết cấu chính là sự sắp xếp, phân bố các thành phần hình thức nghệ
thuật. Kết cấu tác phẩm không những thiết lập được nội dung giá trị tư tưởng
cho một sáng tạo nghệ thuật mà nó còn cải biến và đào sâu hàm nghĩa những
cái được mô tả. Mạch vận động trong lối kết cấu truyền thống thường theo
kiểu chương, hồi, có thắt nút, cao trào, mở nút … Hầu hết tác phẩm đều có
kết cấu cốt truyện theo trình tự không gian, thời gian, kết thúc thường có hậu,
phù hợp với đạo lý ở đời và thỏa mãn thị hiếu của người đọc. Sang giai đoạn
1930 – 1945 xuất hiện kiểu kết cấu vòng tròn – đầu cuối tương ứng, đến giai
đoạn văn học cách mạng 1945 -1975 xuất hiện kiểu kết cấu sử thi – chủ yếu
một chiều, lấy trục thời gian và sự kiện làm cơ sở.
Tiểu thuyết Việt Nam sau năm 1975, đặc biệt sau năm 1986 có nhiều
kiểu kết cấu đa dạng, nhiều tầng lớp, đan cài giữa quá khứ và hiện tại: Kết cấu
phân mảnh, lắp ghép, kết thúc mở … cho phép nhà văn mở rộng dung lượng
và phạm vi phản ánh hiện thực.
Sự phá vỡ cấu trúc truyền thống - kiểu cấu trúc lịch sử sự kiện - thay
thế bằng kiểu cấu trúc lịch sử tâm hồn, là điểm căn bản dễ nhận thấy trong
tiểu thuyết thời kì đổi mới: (1) Sự phá vỡ những khuôn khổ truyền thống đã
tạo ra những biến thể cấu trúc mới như kiểu “tiểu thuyết trong tiểu thuyết”.
(2) Lịch sử được nhìn nhận qua tâm hồn bên trong phong phú và phức tạp,
đầy bí ẩn của con người. Thời xa vắng của Lê Lựu, Thân phận của tình yêu
của Bảo Ninh, Cơ hội của Chúa của Nguyễn Việt Hà, Thiên thần sám hối của
Tạ Duy Anh … đã thể hiện rõ kiểu cấu trúc này. Với kết thúc mở, lối viết linh
hoạt, cấu trúc hiện đại và các chương, đoạn được cắt rời và lắp ghép hợp lí tạo

Dương Hướng đã chỉ ra rằng: Tâm hồn con người không phải là gỗ đá vô tri,
mà cũng biết rung cảm, ước mơ, khao khát.
Sự thay đổi quan niệm nghệ thuật về con người đã chi phối cách kiến
tạo không gian và thời gian trong tác phẩm. Có thể thấy tiểu thuyết sau năm
1975 xuất hiện nhiều dạng thức, mô hình không gian và thời gian khác nhau.
Không gian và thời gian nghệ thuật là những hình thức tồn tại của thế
giới. Sự miêu tả, trần thuật bao giờ cũng xuất phát từ một điểm nhìn, diễn ra
trong một trường nhìn, một thời gian nhất định. Sự đổi mới hình thức nghệ
thuật luôn luôn gắn liền với sự cách tân cấu trúc không gian – thời gian. Nếu
văn học giai đoạn trước chủ yếu là không gian – thời gian một chiều theo
tuyến tính lịch sử - sự kiện thì sau năm 1975, thời gian được tổ chức một cách
đa tuyến, nhiều chiều. Thời gian chuyển đổi liên tục theo sự phát triển của
thời gian tâm trạng. Sự đan xen đồng hiện giữa quá khứ - hiện tại - tương lai
là xu hướng chủ yếu của tiểu thuyết thời kỳ đổi mới. Có thể thấy rõ điều này
qua Ăn mày dĩ vãng của Chu Lai, Thân phận của tình yêu của Bảo Ninh, Bến
không chồng của Dương Hướng, Mảnh đất lắm người nhiều ma của Nguyễn
Khắc Trường … Không gian trong tiểu thuyết sau đổi mới cũng là không gian
đa chiều: Có không gian lịch sử - sự kiện, không gian tâm tưởng, không gian
“nếp gấp”,… Ý thức và sự thể hiện không gian và thời gian nghệ thuật đã
biến đổi mạnh mẽ so với trước. Không gian được miêu tả không phải là
không gian sử thi rộng lớn mang tính chất cộng đồng mà là không gian đời
thường gắn liền với sinh hoạt đời tư cá nhân. Đó là không gian hẹp, không
gian gia đình, nơi bản chất các mối quan hệ, mâu thuẫn, xung đột bộc lộ một
cách rõ nét. Và trong dạng thức không gian này, tính cách, tâm lí nhân vật sẽ
được nhà văn phân tích, lí giải, mổ xẻ một cách tỉ mỉ, chi tiết. Sáng tác của Lê
Lựu, Chu Lai, Bảo Ninh là những minh chứng chuẩn cho điều này.

24
Tiểu thuyết thời kỳ đổi mới còn biến chuyển cả về đề tài, cảm hứng,
giọng điệu. Trước năm 1975, cảm hứng chủ đạo là cảm hứng sử thi, mang


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status