Bộ giáo dục v đo tạo
Trờng đại học s phạm H Nội
DE
Phạm Hồng Lan
Không gian v thời gian nghệ thuật
trong tiểu thuyết hiện thực
1930 - 1945
Chuyên ngành : Văn học Việt Nam
M số : 62.22.34.01 Tóm tắt luận án tiến sĩ ngữ văn
Hà Nội - 2009
Có thể tìm hiểu luận án tại Th viện Quốc gia
Th viện Đại học S phạm Hà Nội
Các công trình nghiên cứu
của tác giả luận án 1. Phạm Hồng Lan, Không gian đô thị trong tiểu thuyết hiện thực của
Vũ Trọng Phụng (2002), Tạp chí Giáo dục, số 47, tr 26-29.
2. Phạm Hồng Lan, Nông thôn của Vũ Trọng Phụng trong Giông tố, Vỡ
đê, Trúng số độc đắc (2003), Tạp chí Khoa học, Trờng Đại học S phạm
Hà Nội, số 2, tr 65-70.
3. Phạm Hồng Lan, Không gian nghệ thuật nghịch dị và cảm hứng
cacnavan của tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng (2008), Diễn đàn Văn nghệ
Việt Nam, số 158, tr 17-21.
1
Mở đầu
1. Lí do chọn đề tài
1. Văn học hiện thực (1930 1945) tồn tại và phát triển rực rỡ trong khoảng
15 năm, và đã trở thành một trào lu gây đợc tiếng vang lớn và có những đóng
góp quan trọng vào quá trình hiện đại hoá nền văn học nớc nhà. Đã có nhiều công
trình nghiên cứu trào lu văn học hiện thực trên một số phơng diện nh: giá trị
hiện thực, giá trị nhân đạo, nghệ thuật tác phẩm. Đặc biệt là vào nửa sau thời kì đổi
mới, việc nghiên cứu văn học hiện thực đã đạt đợc nhiều thành tựu đáng ghi nhận.
Giá trị của các tác phẩm vẫn tiếp tục đợc khẳng định trên nhiều phơng diện: thể
Công Hoan), Tắt đèn (Ngô Tất Tố), Giông tố, Số đỏ (Vũ Trọng Phụng), Sống mòn
(Nam Cao), đáng chú ý là ý kiến của Nguyễn Trác, Nguyễn Tuân, Vũ Ngọc Phan,
Văn Tâm, Phạm Thế Ngũ, Nguyễn Đình Thi, Nguyễn Đức Đàn, Nguyễn Đăng
Mạnh, Nguyễn Hoành Khung. Các tác giả trên có chú ý đến hoàn cảnh náo
động, căng thẳng, không khí ngột ngạt, bão giông, chú ý đến việc miêu tả cái
xã hội xôi thịt mục nát ở thôn quê đến xã hội sâm banh, xì gà ở thành thị của
tiểu thuyết các nhà văn hiện thực.
Tuy nhiên, có thể thấy rằng, từ nửa đầu những
năm 80 của thế kỷ XX trở về trớc, không gian và thời gian nghệ thuật trong tiểu
thuyết hiện thực cha đợc nghiên cứu một cách có ý thức. Những nhận xét rải rác
trên đây chỉ là những cảm nhận chung có tính chất khái quát về bối cảnh xã hội đợc
tái hiện trong tác phẩm chứ các tác giả không đặt vấn đề nghiên cứu trực tiếp về
không gian và thời gian nghệ thuật. Nhng dù sao, đó cũng là những cảm nhận ban
đầu chính xác, có tính chất gợi mở để các nhà nghiên cứu sau này nhìn nhận các yếu
tố không gian và thời gian dới cái nhìn của một t duy nghiên cứu mới
2.2. Từ nửa sau những năm 80 của thế kỷ XX đến nay
Nửa sau những năm 80 của thế kỷ XX, cùng với sự đổi mới mọi mặt của đất
nớc, nghiên cứu văn học cũng đổi mới theo một t duy không còn nh trớc. Các
công trình nghiên cứu Lý luận và thi pháp tiểu thuyết; Những vấn đề thi pháp
Đôxtôiepxki của Bakhtin đợc Phạm Vĩnh C; Trần Đình Sử, Lại Nguyên Ân, Vơng
Trí Nhàn tuyển chọn, dịch và giới thiệu ở Việt Nam, Giáo trình Dẫn luận thi pháp
học của Trần Đình Sử ra đời, và sau này là cuốn Thi pháp hiện đại của Đỗ Đức Hiểu
xuất bản đã đem đến cho việc nghiên cứu văn học một cái nhìn mới mẻ.
3
Về phơng diện không gian và thời gian nghệ thuật trong tiểu thuyết Bớc
đờng cùng, đáng chú ý là những nhận xét của nhà nghiên cứu Nguyễn Hoành
Khung. Về phơng diện không gian và thời gian nghệ thuật trong Tắt đèn, đáng
chú ý là ý kiến của Phan Cự Đệ, Phạm Mạnh Hùng. Về phơng diện thời gian
hạn, chúng tôi khó có thể tìm hiểu, nghiên cứu, khảo sát tất cả các tiểu thuyết
thuộc trào lu văn học này. Vì vậy, luận án chỉ tập trung nghiên cứu những tiểu
thuyết xuất sắc của 5 tác giả tiêu biểu của văn học hiện thực 30 - 45: Bớc đờng
cùng (Nguyễn Công Hoan), Tắt đèn (Ngô Tất Tố), Giông tố, Số đỏ (Vũ Trọng
Phụng), Bỉ vỏ (Nguyên Hồng), Sống mòn (Nam Cao). Trong quá trình nghiên cứu,
chúng tôi còn khảo sát thêm một số tiểu thuyết của chính các nhà văn đó hoặc một
số tiểu thuyết của các nhà văn khác trớc đó hoặc cùng thời.
4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu không gian và thời gian nghệ thuật trong tiểu thuyết hiện thực
1930- 1945, luận án nhằm chỉ ra những đặc điểm, cách thức tổ chức không gian và
thời gian nghệ thuật của tiểu thuyết hiện thực so với tiểu thuyết trớc đó và những
tiểu thuyết cùng thời thuộc khuynh hớng khác. Trên cơ sở đó làm rõ sự khác biệt
trong t duy tiểu thuyết của các nhà văn hiện thực. Ngoài ra, luận án còn làm rõ
vai trò, chức năng của các yếu tố không gian, thời gian trong việc thể hiện những
đặc trng riêng của tiểu thuyết hiện thực.
5. Phơng pháp nghiên cứu
Luận án lựa chọn hớng tiếp cận thi pháp học và vận dụng những phơng
pháp nghiên cứu chủ yếu sau: phơng pháp phân tích, tổng hợp; phơng pháp hệ
thống; phơng pháp so sánh văn học; phơng pháp phân loại, thống kê.
6. Đóng góp mới của luận án
- Đây là công trình chuyên biệt đầu tiên tập trung nghiên cứu khá toàn diện,
hệ thống không gian và thời gian nghệ thuật trong tiểu thuyết hiện thực giai đoạn
1930- 1945.
- Trên cơ sở phân tích, so sánh và tổng hợp, luận án đã góp phần làm rõ
chức năng, đặc điểm, quy mô, tính chất cũng nh cách thức tổ chức không gian và
thời gian nghệ thuật trong tiểu thuyết hiện thực 1930 1945 so với tiểu thuyết
trớc đó và tiểu thuyết cùng thời thuộc khuynh hớng khác
5
- Luận án cũng góp phần vào thành tựu nghiên cứu về văn học hiện thực, tiếp
mỗi nhà văn. Ngoài không gian vật thể còn có không gian tâm tởng. Không gian
tâm tởng là không gian diễn ra bên trong tâm hồn nhân vật. Nó có tác dụng
khắc sâu thêm tính cách nhân vật, giúp ngời đọc hiểu sâu thêm thế giới bên
trong tâm hồn con ngời. Giữa không gian vật thể và không gian tâm tởng
thờng có tác động qua lại lẫn nhau, hoặc là không gian vật thể tác động vào
không gian tâm tởng hoặc là không gian tâm tởng chi phối không gian vật thể.
Không gian nghệ thuật chẳng những cho thấy cấu trúc nội tại của tác phẩm văn
học, các ngôn ngữ tợng trng mà còn cho thấy quan niệm về thế giới, chiều sâu
cảm thụ của tác giả hay của một giai đoạn văn học. Nó cung cấp cơ sở khách
quan để khám phá tính độc đáo của các hình tợng nghệ thuật. Đây không những
là đặc điểm mà còn là ý nghĩa quan trọng nhất của không gian nghệ thuật. Có một
điều quan trọng mà chúng tôi khi nghiên cứu nhận ra rằng: mỗi thời đại, mỗi giai
đoạn văn học có những quan niệm riêng về con ngời và thế giới, từ đó dẫn đến
tri giác về không gian cũng nh thời gian nghệ thuật ở mỗi giai đoạn văn học là
không giống nhau.
Cũng nh không gian nghệ thuật, thời gian nghệ thuật là hình thức bên
trong của hình tợng nghệ thuật thể hiện tính chỉnh thể của nó. Thời gian nghệ
thuật không phải là thời gian khách quan vận động theo trật tự một chiều, trớc
sau không thể đảo ngợc mà là thời gian đợc soi sáng bởi t tởng, tình cảm nhà
văn, đợc nhào nặn và sáng tạo để trở thành hình tợng nghệ thuật, phù hợp với
quan niệm nghệ thuật của nhà văn về con ngời và thế giới. Vì thế thời gian nghệ
thuật có thể nhanh hay chậm, dài hay ngắn, liên tục hay đứt quãng theo một lôgíc
riêng không hoàn toàn trùng khớp với thời gian khách quan. Nói nh một nhà
nghiên cứu văn học thì "thời gian trong tác phẩm văn học đợc chuyển hoá thành
thời gian nghệ thuật, thành một ký mã nghệ thuật không đồng nhất với thời gian
hiện thực". Tuy nhiên, không phải mọi thứ liên quan đến thời gian trong tác phẩm
văn học đều là thời gian nghệ thuật. Nằm sâu trong tác phẩm văn chơng, thời
gian chỉ chuyển hoá thành thời gian nghệ thuật khi nó cùng với các yếu tố khác
nh kết cấu, cốt truyện thể hiện quan niệm của nhà văn về con ngời và cuộc
đời. Là hình thức của hình tợng nghệ thuật, thời gian nghệ thuật là một trong
hng vong xã hội chứ không phải không gian cuộc sống xã hội đời thờng. Cũng do
ảnh hởng của lối t duy chép sử nên thời gian trong truyện là thời gian đợc kể theo
8
thứ tự biên niên lịch sử, cụ thể, xác thực để giúp cho ngời đọc hình dung đợc các sự
việc trong chuỗi liên tục trớc sau. Khác với tiểu thuyết chơng hồi chữ Hán, truyện
thơ Nôm bác học không lấy đề tài trong lịch sử đơng đại mà thờng lấy đề tài trong
truyện xa, tích cũ. Họ không dùng ngòi bút ghi chép lịch sử để phản ánh hiện thực
mà gián tiếp phê phán xã hội qua thế giới nghệ thuật tác phẩm. Điều đó có thể lí giải
vì sao các nhà thơ trung đại thờng lấy chuyện xa để nói chuyện đời nay. Truyện
Kiều (Nguyễn Du) lấy bối cảnh ở thời "Gia Tĩnh triều Minh", ở không gian xa xôi của
vùng Lâm Tri, Vô Tích nớc Tàu. Truyện Lục Vân Tiên (Nguyễn Đình Chiểu) cũng
mợn truyện "Tây Minh" để nói chuyện đời nay. Bối cảnh không gian và thời gian
trong truyện thờng cách xa ngời đọc, tạo ra một khoảng cách không gian và thời
gian xa vời thích hợp cho việc thể hiện giấc mơ về khát vọng công bằng cũng nh lý
tởng hóa nhân vật của các nhà thơ trung đại. Cảm quan tâm linh đã chi phối cách tổ
chức không gian và thời gian trong tiểu thuyết thơ trung đại. Bên cạnh không gian có
tính hiện thực: vùng miền, quê nhà, nớc thẳm, non xa còn có không gian ngoài hiện
thực, không gian tâm linh nh: không gian cõi âm, không gian tiên giới, cõi trời Bên
cạnh thời gian hiện thực, ở đó con ngời có những suy nghĩ và định liệu theo lôgíc
của hiện thực cuộc sống còn có thời gian tâm linh, thời gian định mệnh. Về cách thức
tổ chức thời gian trong tiểu thuyết thơ trung đại, thấy có những điểm đặc biệt gần
giống với cách tổ chức thời gian trong tiểu thuyết hiện đại sau này. Nhà thơ Xuân
Diệu có một phát hiện khá thú vị rằng: thời gian hai tháng Kim Kiều yêu nhau đã
đợc tác giả kéo giãn ra tới bốn, năm trăm câu chiếm 1/8 tổng số câu thơ trong
Truyện Kiều. Tuy nhiên cũng có chỗ thời gian cả tháng bị nén lại chỉ trong hai câu
thơ (Lần lần ngày gió, đêm trăng/ tha hồng rậm lục đã chừng xuân qua). Cũng nhiều
khi nhịp điệu thời gian trong truyện diễn ra nhanh, gấp, đột ngột (Nửa chừng xuân
thoắt gãy cành thiên hơng). Nh vậy có thể nhận thấy rằng, các tác giả văn học lớn
thờng có cách tổ chức thời gian giống nhau. Chỗ khác nhau so với các tác giả hiện
lộn toàn bộ thi pháp tiểu thuyết của các nhà văn lớp trớc, chi phối các khâu trong
quá trình sáng tạo nghệ thuật, từ việc xây dựng cốt truyện, khắc hoạ tính cách nhân
vật đến bố cục tác phẩm cũng nh cách tổ chức không gian, thời gian.
Tồn tại song song với văn học lãng mạn của Tự lực văn đoàn là một trào lu
văn học khác, văn học hiện thực phê phán. Nếu văn học lãng mạn thiên về một thế
giới đẹp đẽ, giàu mơ ớc và tởng tợng thì văn học hiện thực thiên về khám phá
con ngời trong các mối quan hệ xã hội, số phận con ngời gắn với các biến cố, các
10
xung đột xã hội. Các nhà văn hiện thực quan niệm: nhà văn phải viết về cuộc đời
trớc mắt, "phải có một cái gì liên quan ngay đến ngời đọc đơng thời". Ngời viết
phải có tình cảm mạnh mẽ, chân thành, phải biết mở hồn ra đón lấy những vang
động của đời. Không đồng tình với kiểu văn chơng chỉ biết tô son điểm phấn cho
những thực trạng xấu xa để lừa mình và lừa ngời, các nhà văn hiện thực quan
niệm văn chơng là một phơng tiện đấu tranh của những ngời cầm bút muốn loại
khỏi xã hội con ngời những nỗi bất công, nhen lên trong lòng ngời nỗi xót thơng
đối với kẻ bị chà đạp nhân phẩm, kẻ yếu, kẻ bị đày đọa vào cảnh ngu tối, bị bóc lột.
Tiểu thuyết nói riêng và văn học nói chung phải nói lên thực trạng của đời sống,
dũng cảm phanh phui, mổ xẻ những thói tật, vạch ra sự bất công thối nát, phơi bày
thực trạng xã hội, lên án bọn thống trị xa hoa, dâm đãng. Cảm quan hiện thực nói
trên đã chi phối nhà văn trong cách tổ chức không gian và thời gian nghệ thuật. Tái
hiện không gian và thời gian nghệ thuật là một cách để các nhà văn hiện thực phân
tích và phê phán xã hội, phơi bày những mâu thuẫn, bất công.
Chơng 2. Không gian nghệ thuật trong
tiểu thuyết hiện thực 1930 1945
2.1. Các dạng thức không gian
2.1.1. Không gian bối cảnh x hội
Mục này, chúng tôi không liệt kê các dạng thức không gian bối cảnh xã hội
mà nghiên cứu quy mô, tính chất không gian bối cảnh xã hội là chủ yếu. Tuy nhiên
trong quá trình phân tích tính chất không gian, chúng tôi có kết hợp chỉ ra một số
Dậu trong Tắt đèn, nhà của anh Pha trong Bớc đờng cùng, căn phòng thuê của
San và của Thứ ), những thứ đồ đạc rách nát, cáu bẩn. Tiểu thuyết lãng mạn
cũng thờng tái hiện những không gian bối cảnh hạn hẹp. Câu chuyện của Mai,
Lộc (Nửa chừng xuân), của Lan, Ngọc (Hồn bớm mơ tiên), của Trơng (Bớm
trắng) cũng chỉ diễn ra chủ yếu ở một vùng quê, một ngôi chùa, một căn nhà. Tuy
nhiên, không gian hẹp trong sáng tác của các nhà văn lãng mạn thờng giữ vai trò
khơi gợi những cảm giác, cảm xúc bên trong tâm hồn con ng
ời. Còn trong sáng
tác của các nhà văn hiện thực, những yếu tố, chi tiết tạo nên không gian hẹp
không chỉ có chức năng khơi gợi tâm t mà còn có chức năng khám phá hiện thực
xã hội, phơi bày những mâu thuẫn, xung đột xã hội. Hơn thế, không gian hẹp còn
là hình ảnh có tính biểu tợng của nhà văn về một thế giới ngột ngạt và tù đọng.
12
2.1.1.3. Không gian nghịch dịvà cảm quan cacnavan của nhà văn về con
ngời và thế giới
Bên cạnh những không gian rộng hẹp, văn học hiện thực còn tạo ra một
kiểu không gian có tính chất lệch chuẩn so với không gian nghệ thuật truyền
thống (chúng tôi tạm gọi đó là không gian nghệ thuật nghịch dị). Các hình thức
không gian luôn bao hàm trong đó những mặt đối nghịch, kì quặc, nực cời.
Không gian nghiêm túc trở thành nơi bỡn cợt, hài hớc, không gian văn minh tân
tiến trở thành nơi thô tục, tầm thờng. Sự kết hợp những trạng thái đối cực, cái đẹp
với cái xấu, cái bi với cái hài, cái tục tĩu với cái tốt đẹp, cao cả đã tạo nên một thế
giới nghệ thuật độc đáo, một thế giới không đơn tính, thuần khiết mà là thế giới
bao hàm những mặt đối nghịch, kỳ quặc, nực cời. Nó thể hiện sự cợt nhạo của
nhà văn với những gì đợc coi là chính thống của các phong trào Văn minh, Âu
hoá đơng thời. Đó cũng là mô hình nhận thức, cảm nhận về thế giới và con ngời
độc đáo của tiểu thuyết hiện thực so với tiểu thuyết giai đoạn trớc.
2.1.2. Không gian thiên nhiên
Trong văn học hiện thực, không gian bối cảnh xã hội là kiểu không gian
2.2. Các hình thức tổ chức không gian
2.2.1. Tổ chức không gian theo nguyên tắc tơng phản
Trong khi phản ánh hiện thực đời sống, các nhà văn hiện thực đã rất chú
trọng miêu tả môi trờng sống và sinh hoạt của nhân vật để khắc sâu thêm những
xung đột tiềm ẩn. Một trong những thủ pháp thờng đợc các nhà văn hiện thực sử
dụng, đó là tổ chức không gian theo nguyên tắc tơng phản. Tơng phản giữa các
không gian và tơng phản trong cùng một không gian. Nếu sự đối lập giữa các
không gian nói lên sự bất công xã hội và sự phân hoá giàu nghèo ngày càng sâu sắc
thì tơng phản trong cùng một không gian, cho ta thấy tính cách trọc phú dốt nát,
bản tính tham lam, hợm của giai cấp thống trị đơng thời. Thủ pháp tơng phản
góp phần khắc sâu thêm những mâu thuẫn của bức tranh xã hội.
2.2.2. Sự luân chuyển không gian
Không gian nghệ thuật là một phơng thức chiếm lĩnh thực tại, một hình
thức thể hiện cảm xúc và khái quát t tởng thẩm mĩ của nhà văn. Thông qua
các đặc điểm cũng nh cách thức tổ chức không gian, có thể thấy đợc khả năng
phản ánh hiện thực của tác giả cũng nh cái nhìn của nhà văn về con ngời và
14
thế giới. Sự luân chuyển không gian là một trong những cách thức tổ chức không
gian nhằm tạo nên hiệu quả thẩm mĩ, khái quát t tởng nghệ thuật của nhà văn.
Sự luân chuyển không gian đợc tổ chức khá linh hoạt và phong phú. Có khi sự
luân chuyển không gian đợc thực hiện qua sự chuyển dịch của cuộc đời, số
phận nhân vật; có khi sự dịch chuyển không gian đợc thực hiện qua hồi ức,
tởng tợng của nhân vật; có khi sự luân chuyển không gian đợc thực hiện qua
lời miêu tả trực tiếp của nhà văn. Nếu ở tác phẩm của Vũ Trọng Phụng, sự
chuyển đổi không gian theo hớng mở rộng thì sự luân chuyển không gian trong
sáng tác của Nam Cao theo hớng mở rộng - hẹp dần. Theo bớc chân và cuộc
đời nhân vật, không gian đợc mở rộng ra, từ một làng quê đến Sài Gòn, đến tận
Pari theo mơ ớc của nhân vật nhng cuối cùng lại quay trở lại không gian ban
đầu nơi nhân vật ra đi. Qua sự chuyển đổi mở rộng- thu hẹp không gian, Nam
suy t về cuộc sống.
Tại sao lựa chọn đêm tối lại là chủ ý của các nhà văn hiện thực. Có thể hiểu
đợc nh sau: Thời điểm 1930 1945 là thời điểm xã hội Việt Nam chịu nhiều
biến động: cuộc khủng hoảng kinh tế nh một cơn lốc tràn qua khiến cho bao
làng quê hoang tàn, kiệt quệ, chiến tranh thế giới nh một bóng đen ngày càng
hiện hữu, đẩy xã hội Việt Nam đến bên bờ của sự khủng hoảng, đói nghèo. ở
thành thị, nhiều cảnh đời ô trọc, nhiều số phận nghịch biến, bất thờng; phong
trào Âu hoá, văn minh với những mặt tiêu cực của nó tràn sang xứ ta khiến cho
phong tục, nền nếp muôn đời đứng trớc sự suy thoái Tất cả đã phần nào tác
động đến t duy của các nhà văn hiện thực. Chọn thời gian đêm tối làm bối cảnh
để triển khai các xung đột, sự kiện, các nhà văn hiện thực nhằm phản ánh không
khí ngột ngạt, tù đọng của xã hội đang có nguy cơ bị đẩy đến bên bờ vực thẳm
đồng thời thể hiện cảm quan nghệ thuật nhạy bén của họ về đêm trờng đen tối
của xã hội Việt Nam thời thuộc Pháp.
Mặt khác, chức năng của văn học hiện thực là phê phán xã hội, phơi bày
những cảnh ngang trái, bất công, đả phá những thói tật của giai cấp thống trị.
Đêm tối là thời gian phù hợp để nhân vật phản diện dễ dàng thực hiện những âm
mu, thủ đoạn. Còn với những con ngời nhỏ bé, dới đáy, đêm tối là thời gian
16
chứa đựng những hiểm nguy, đồng thời cũng là thời gian để họ suy t, ngẫm nghĩ
về cuộc đời đang lụi tàn, bế tắc.
3.1.2. Thời gian tâm trạng
Thời gian tâm trạng là thời gian do con ngời cảm nhận. Nó có thể nhanh
hay chậm dài hay ngắn là tuỳ thuộc vào cảm giác chủ quan của nhân vật chứ
không phụ thuộc vào thời gian cốt truyện, hay thời gian khách quan. Nghiên cứu
một số tiểu thuyết hiện thực tiêu biểu, chúng tôi nhận thấy, các nhà văn hiện thực
cũng đã chú ý tới việc miêu tả thời gian tâm trạng; đi sâu vào khám phá những bí
ẩn chìm sâu trong thế giới tâm hồn con ngời. Tuy nhiên thời gian nhân vật cảm
thấy không chỉ phản ánh một thế giới đa chiều kích, những vấp váp, đứt quãng
Trọng Phụng lại phản ánh nhịp sống gấp gáp đầy biến động của con ngời và
xã hội Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX.
3.2.2. Nhịp điệu thời gian chậm chạp, dàn trải
Nếu nh thời gian sự kiện trong tiểu thuyết của Ngô Tất Tố, Nguyễn Công
Hoan, Vũ Trọng Phụng thờng nhanh chóng, dồn dập thì thời gian sự kiện trong
tiểu thuyết của Nguyên Hồng, Nam Cao lại dàn trải và chậm chạp. Để tạo nhịp
điệu chậm của Bỉ vỏ, Sống mòn, Nguyên Hồng, Nam Cao thờng tạo ra trong tác
phẩm của mình thời gian hồi tởng, từ hiện tại nghĩ về quá khứ hoặc hớng tới
tơng lai. Chính việc hớng về quá khứ, nghĩ tới tơng lai, hoặc những liên hệ tạt
ngang của nhân vật cứ trôi theo dòng ý thức khiến cho tốc độ trần thuật chậm lại,
gần nh chùng xuống, các cảnh tợng đợc liên tởng một cách đứt nối đã tạo
nên nhịp điệu chậm chạp, nặng nề.
Tốc độ trần thuật chậm, các sự kiện không nhiều lại thờng đợc kéo dãn
bằng thủ pháp hồi tởng, dòng ý thức. Thế giới nghệ thuật trong tiểu thuyết của
Nguyên Hồng vừa căng thẳng lại vừa dữ dội, còn thế giới nghệ thuật trong tiểu
thuyết của Nam Cao đợc cảm nhận là một thế giới lụi tàn, một thế giới chết
mòn. Qua nhịp điệu thời gian linh hoạt, đầy biến hoá trong các tác phẩm văn
học hiện thực, có thể thấy đợc nhịp điệu đời sống của con ngời và xã hội
Việt Nam mời lăm năm trớc Cách mạng tháng Tám.
3.3. Một số cách thức tổ chức thời gian nghệ thuật
18
3.3.1. Tổ chức thời gian trần thuật theo hớng gấp khúc, đảo ngợc
Trong tiểu thuyết hiện thực của Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố, việc
đảo ngợc, xen kẽ dòng thời gian để tạo nên thời gian đảo tuyến cho truyện
cha nhiều. Tiểu thuyết Tắt đèn, Ngô Tất Tố, các bình diện thời gian quá khứ
- hiện tại - tơng lai ít đợc xáo trộn, những hồi ức của nhân vật đa ngời
đọc quay về những sự việc đã xảy ra trớc thời hiện tại tạo ra xu hớng đảo
tuyến thời gian của truyện chỉ xuất hiện trong những khoảnh khắc thoáng qua
với mật độ xuất hiện không nhiều. Việc đảo ngợc thời gian trần thuật đã trở
hội. ở Giông tố thời gian diễn ra câu chuyện ngắn (từ mùa hạ năm 1932 đến năm
1933), thời gian sự kiện nhanh chóng, gấp gáp, thời gian trần thuật gấp khúc, đảo
ngợc kết hợp với nó là một không gian rộng trải khắp từ trung du tới nông thôn,
thành thị gây cảm giác bất an vô biên, không giới hạn. ở Sống mòn, thời gian lê
thê, nặng nề, chậm chạp kết hợp với không gian chật chội, tù túng, gây cảm nhận
về một cuộc đời mòn mỏi, ngột ngạt và bế tắc. Trong khi đó ở Tắt đèn, cách tổ
chức thời gian kết hợp với không gian không thuận chiều nh Sống mòn. Không
gian nghệ thuật chỉ bó hẹp chủ yếu ở một vùng quê nhng thời gian sự kiện liên
tục, dồn dập. Các mâu thuẫn, biến cố cọ xát nhau, va đập vào nhau đến nảy lửa. Sự
kết hợp giữa hai phạm trù không gian (hẹp) và thời gian (nhanh) đã tạo nên một
hiệu quả nghệ thuật đặc sắc. Ngời đọc nh đang phải sống trong không khí kinh
hoàng, hầm hập, nghẹt thở của nông thôn Việt Nam trớc Cách mạng. Sự kết hợp
giữa hai phạm trù không gian và thời gian trong Số đỏ cũng là một biểu hiện độc
đáo trong cái nhìn của nhà văn về xã hội. Không gian trong Số đỏ là những mảnh
ghép của hiện thực xô bồ. Thời gian lúc tuần tự nhi tiến, lúc đồng thời, khi gấp
khúc, đảo ngợc Cách phối hợp không gian và thời gian nh trên đã nói lên sự
vô nghĩa, vô lí của hiện thực đơng thời.
T duy hiện thực và quan niệm tiểu thuyết là sự thực ở đời đã chi phối
các nhà văn trong cách tổ chức thời gian trong sự kết hợp với không gian nghệ
thuật. Có thể dễ dàng nhận thấy thời gian của những biến cố, sự kiện cũng nh
thời gian trong tâm t của các nhân vật đều là thời gian hiện thực. Trong thời gian
mang tính xác thực ấy, nhà văn phơi bày hiện thực nhiều xung đột, mâu thuẫn,
20
nhiều cảnh đời cơ cực, lầm than. Tơng ứng với thời gian hiện thực hàng ngày là
không gian hiện thực đời sống. Dù ở Quê ngời, quê nhà, dù ở nông thôn hay
thành thị, dù thiên nhiên hay xã hội, các không gian đều thể hiện tính xác thực,
chân thực của đời sống. Tuy nhiên, t duy hiện thực nghiêm ngặt và có tính quy
tắc nói trên đã làm cho văn học hiện thực không có đợc những không gian ảo,
không gian siêu thực, không gian giả cổ tích, không gian tâm linh đa dạng,
hẹp hòi ; không gian thành thị nhốn nháo, náo loạn, pha tạp, lổn nhổn, còn có
không gian mang tính đối thoại với những gì chính thống, chuẩn mực với không
gian nghệ thuật truyền thống (chúng tôi tạm gọi đó là không gian nghệ thuật
nghịch dị). Những hình ảnh không gian không còn là hình thức thông thờng của
bản thân nó, mà luôn có sự đan xen, phối hợp nhiều yếu tố dị thờng làm biến hoá
chức năng cũng nh bản chất, giá trị của chúng. Chính sự phối hợp những yếu tố dị
biệt và khác thờng trong việc tổ chức không gian đã tạo nên một thế giới nghệ
thuật độc đáo. Một thế giới không đơn tính, thuần khiết mà bao hàm những mặt
đối nghịch, kì quặc, nực cời. Nó thể hiện sự cời cợt, nhạo báng của nhà văn với
những gì đợc coi là chính thống (nh các phong trào thể thao, văn minh, Âu hoá)
của xã hội thực dân phong kiến đơng thời. Tuy nhiên, việc mô tả không gian bối
cảnh xã hội rộng hay hẹp, chuẩn mực hay phi chuẩn mực, các nhà văn hiện thực
đều thể hiện chức năng của văn học hiện thực là phân tích xã hội, cắt nghĩa, lí giải
hiện thực và đi tìm những nguyên nhân làm tha hoá con ngời.
Không gian thiên nhiên trong văn học hiện thực cũng mang những đặc trng
riêng, khác biệt với không gian thiên nhiên trong tiểu thuyết cùng thời thuộc
khuynh hớng khác. Nếu trong văn xuôi lãng mạn, thiên nhiên thờng đợc thi vị
hoá và lãng mạn hoá, mang xúc cảm thẩm mĩ về một thế giới thơ mộng, yên bình
phù hợp với kiểu nhân vật lãng mạn giàu mộng mơ, khát khao lí tởng, khát khao
hạnh phúc thì trong tiểu thuyết hiện thực, không gian thiên nhiên lại mang bút
pháp đặc thù của văn học hiện thực là tái hiện chân thực, cụ thể, dữ dội giống nh
bản thân đời sống. Cũng có lúc, không gian thiên nhiên trong tiểu thuyết hiện thực
đợc khắc hoạ ở những khía cạnh êm đềm và thơ mộng nhng nó thờng tơng
phản với cuộc sống cay cực, khốn khổ của con ngời.
22
Bên cạnh không gian bối cảnh xã hội, không gian thiên nhiên, tiểu thuyết
hiện thực còn tập trung khắc hoạ không gian tâm tởng. Nếu không gian bối cảnh
xã hội, không gian thiên nhiên tồn tại bên ngoài nhân vật thì không gian tâm tởng
là không gian diễn ra bên trong tâm hồn nhân vật, trong những hồi ức, giấc mơ,