Thời gian và không gian nghệ thuật trong tiểu thuyết Sống mòn của Nam Cao - Pdf 28



TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA SƯ PHẠM
BỘ MÔN NGỮ VĂN NGUYỄN MINH HẢI THỜI GIAN VÀ KHÔNG GIAN NGHỆ THUẬT
TRONG TIỂU THUYẾT SỐNG MÒN

CỦA NAM CAO
Luận văn tốt nghiệp đại học
Ngành sư phạm Ngữ Văn

1. Thời gian nghệ thuật
1.1. Khái niệm thời gian nghệ thuật
1.2. Cấu trúc và biểu hiện của thời gian nghệ thuật
1.2.1 Thời gian được trần thuật
1.2.2.Thời gian trần thuật
2. Không gian nghệ thuật
2.1. Khái niệm không gian nghệ thuật
2.2. Các loại không gian nghệ thuật
2.2.1.Không gian bối cảnh
2.2.2.Không gian sự kiện
2.2.3.Không gian tâm lý
Chương II: THỜI GIAN NGHỆ THUẬT TRONG TIỂU THUYẾT SỐNG
MÒN CỦA NAM CAO
2.1. Thời gian được trần thuật
2.1.1. Thời gian hiện thực hàng ngày
2.1.2. Thời gian hồi tưởng
2.1.3. Thời gian tương lai
2.1.4. Thời giann tâm trạng
2.2. Thời gian trần thuật
Chương III: KHÔNG GIAN NGHỆ THUẬT TRONG TIỂU THUYẾT
SỐNG MÒN CỦA NAM CAO
3.1. Không gian bối cảnh
3.2. Không gian sự kiện
3.3. Không gian tâm lý
PHẦN KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO


tranh bản thân để vượt mình,
cố thoát khỏi lối sống tầm thường, nhỏ nhen, khao
khát hướng tới “tâm hồn trong sạch
và mơ tới những cảnh sống, những con người thật đẹp” (Nhật kí Nam Cao, ghi ngày 31-
8-1950).
Nam Cao đã ra đi khi tuổi đời còn rất trẻ, cái tuổi ba mươi sáu(1915-1951) đang
ở độ “chín” về tư tưởng và tài năng, ra đi khi đang ấp ủ viết một cuốn tiểu thuyết
lớn về quê hương mình. Ông chỉ kịp để lại một tiểu thuyết duy nhất là Sống mòn
(1944). Đọc
Sống mòn
, đầu tiên người đọc sẽ có cảm tưởng như đây là một tiểu
thuyết tự thuật, một tư liệu quí để hiểu hơn về cuộc đời, về suy nghĩ của nhà văn.
Nhưng đó chỉ là thứ yếu bởi Sống mòn còn có một ý nghĩa rộng hơn, sâu sắc hơn.
Tác phẩm không chỉ làm nổi bật cuộc sống nghèo khổ, bế tắc của người trí thức
trước Cách mạng với những suy nghĩ nhỏ nhen, vặt vãnh mà còn mở rộng ra những
mảnh đời nghèo khổ, tăm tối của bao người dân lương thiện. Trong quá trình sáng
tạo tác phẩm, ngòi bút của Nam Cao đã sử dụng linh hoạt yếu tố thời gian và không
gian nghệ thuật làm cho Sống mòn trở nên đặc sắc và hấp dẫn. Vì vậy, tôi đã chọn
đề tài “
Thời gian và không gian nghệ thuật trong tiểu thuyết Sống mòn của Nam
Cao
” để có dịp tìm hiểu kĩ hơn về nghệ thuật tác phẩm của một nhà văn mà tôi hằng

Trang 1
yêu thích, mến mộ và cũng là cơ hội để tôi trao dồi, củng cố kiến thức tiện cho việc học
tập, làm việc và nghiên cứu sau này.
2. Lịch sử vấn đề:

nhận định: “
không gian và thời gian - khác biệt, gắn với những địa
điểm và
thời gian của nhiều người kể chuyện”…[15; tr.43] “các đầu mối của truyện trong những
trục không gian và thời gian đa phương không tuân theo một trình tự trước sau chặt
chẽ” [15; tr.44]. Để chứng minh cho nhận định của mình, nhà nghiên
cứu đi vào làm rõ
điểm nhìn khác nhau của người kể chuyện qua một số truyện ngắn, tiểu thuyết tiêu
biểu.
Ngoài ra sách Lí luận văn học (chương IX) do Phương Lựu làm chủ biên có đưa
ra những đặc điểm, biểu hiện riêng của từng loại không gian và thời gian nghệ thuật

Trang 2
nhưng do không gian và thời gian nghệ thuật chỉ là một mảng nhỏ trong đặc trưng
nghệ thuật ngôn từ nên nhà nghiên cứu chưa có điều kiên đi sâu, trình bày một cách
chi tiết.
Trong Lí luận văn học - Vấn đề và suy ngẫm của Nguyễn Văn Hạnh & Huỳnh Như
Phương, hai nhà nghiên cứu đi vào làm rõ một số đặc điểm về hình tượng thời gian và
không gian. Về hình tượng không gian có không gian thiên nhiên, không
gian sinh
hoạt, có thể là không gian mở hay không gian khép, là không gian tĩnh
hay động.Về
hình tượng thời gian có thời gian trần thuật, thời gian tâm lí. Tác giả cũng nhấn mạnh
“hình tượng thời gian cũng đồng thời biểu lộ cách nhìn của con người về thế giới”[10;
tr.183].
Vấn đề thời gian và không gian nghệ thuật trong Sống mòn cũng được nhiều nhà
nghiên cứu quan tâm, đề cập đến:

mòn. Đó là gian ở nhà trường, gian nhà ông Học và gian nhà của Thứ ở quê”
[3; tr.
323]. Tác giả còn nhận định “
thế giới truyện Sống mòn, cả không gian và
thời gian
như là sự dồn nén, thu nhỏ lại, rồi thu nhỏ nữa. Trong dồn nén mà chứa chất, mà diễn
biến cho hết mọi cử động, mọi hoạt động, mọi hành động, mọi suy tư và ý nghĩ…”[3;
tr.327].
Trong Lí luận văn học - Vấn đề và suy ngẫm, tác giả nghiên cứu hình tượng thời
gian cũng có đề cập đến Sống mòn: “Những mẫu chuyện vặt vãnh, quẩn quanh

Trang 3
trong sinh hoạt hàng ngày của những người trí thức được tác giả Sống mòn dẫn dắt trong
sự kết hợp với trạng thái tâm lí bất lực, tự ti, hoài nghi, bi quan, khinh bạc, sĩ diện hảo
của các nhân vật, phù hợp với không gian chật hẹp, tù túng. Đó là một thế giới quẩn
quanh đơn điệu, lặp lại hàng ngày, cũng đơn điệu như cái tâm trạng mệt mỏi của các
nhân vật [10; tr.182].
Trần Đăng Xuyền với Thời gian và không gian nghệ thuật Nam Cao in trên Tạp
chí văn học số 5,1991 và được in lại trong Nam Cao - Về tác gia và tác phẩm. Ông
đã phân tích các đặc điểm của thời gian nghệ thuật: là thời gian hiện thực hàng
ngày với những bế tắc, tù túng, lẩn quẩn trong vòng những lo âu thường nhật của
các nhân vật, là thời gian hồi tưởng của các nhân vật “
có thể trong sáng ấm áp
nhưng bao giờ cũng gợi lên một nỗi buồn”[18; tr.466] và thời gian tâm trạng “nặng
nề chậm chạp” gắn liền với tâm trạng đau buồn và bi kịch của nhân vật. Về không
gian nghệ thuật, ông cho rằng đó là không gian nông thôn “
có cái vẻ vắng lặng

và không gian nghệ thuật trong tác phẩm Sống mòn. Đó cũng là dịp để người viết hiểu
rõ hơn về tác phẩm Sống mòn cũng như tập làm quen với công việc nghiên cứu khoa học.
4. Phạm vi nghiên cứu:
Thi pháp học là lĩnh vực rất rộng nghiên cứu về nghệ thuật như nghiên cứu tác
phẩm, thể loại, phong cách ngôn ngữ. Vì vậy để làm rõ vấn đề cần nghiên cứu,
người viết chỉ đi sâu vào một mảng nhỏ của thi pháp học (và lí luận), cụ thể là một mảng
đặc trưng của nghệ thuật ngôn từ. Đó là không gian và thời gian nghệ thuật của văn
chương. Từ phần lí luận về thời gian và không gian nghệ thuật đó, người
viết sẽ vận
dụng vào làm rõ thời gian và không gian nghệ thuật trong một tiểu
thuyết cụ thể,
một tiểu thuyết duy nhất của Nam Cao có tên Sống mòn (hay còn có một tên gọi khác là
Chết mòn).
5. Phương pháp nghiên cứu:
Vấn đề thời gian và không gian nghệ thuật văn chương nói chung cũng như trong
tiểu thuyết
Sống mòn
nói riêng đã được nhiều người quan tâm, nghiên cứu
nhưng vẫn
chưa đi đến kết luận chung và mang tính thống nhất. Vì vậy dựa trên tài liệu của các nhà
nghiên cứu và trên văn bản của tác phẩm Sống mòn, người viết chủ
yếu vận dụng phương
pháp phân tích, tổng hợp để làm rõ vấn đề nghiên cứu của
mình. Và các thao tác bình
luận, giải thích, chứng minh cũng được sử dụng như là các thao tác bổ trợ.
Bên cạnh đó, để làm rõ vấn đề, người viết cũng vận dụng phương pháp so sánh, đối
chiếu Sống mòn với một số tác phẩm khác trong nước và thế giới thuộc các trào lưu lãng
mạn, hiện thực phê phán hay hiện thực Cách mạng trong đó có cả một số tác phẩm khác
của Nam Cao.
Ngoài ra, phương pháp thống kê cũng được người viết sử dụng để tiện cho việc

gian thì cũng thế, thế giới nghệ thuật cũng tồn tại trong thời gian nghệ thuật.
Theo Từ điển thuật ngữ văn học thì thời gian nghệ thuật là “hình thức nội tại của
hình tượng nghệ thuật thể hiện tính chỉnh thể của nó. Cũng như không gian nghệ
thuật, sự miêu tả, trần thuật trong văn học nghệ thuật bao giờ cũng xuất phát từ
một điểm nhìn nhất định trong thời gian. Và cái được trần thuật bao giờ cũng diễn
ra trong thời gian, được biết qua thời gian trần thuật. Sự phối hợp của hai yếu tố
thời gian này tạo thành thời gian nghệ thuật, một hiện tượng ước lệ chỉ có trong thế
giới nghệ thuật. Khác với thời gian khách quan được đo bằng đồng hồ và lịch, thời
gian nghệ thuật có thể đảo ngược, quay về quá khứ, có thể bay vượt tới tương lai xa
xôi, có thể dồn nén một khoảng thời gian dài trong chốc lát, lại có thể kéo dài cái
chốc lát thành vô tận. Thời gian nghệ thuật được đo bằng nhiều thước đo khác
nhau, bằng sự lặp lại đều đặn của các hiện tượng đời sống được ý thức: sự sống,
cái chết, gặp gỡ, chia tay, mùa này, mùa khác…tạo nên nhịp điệu trong tác phẩm.
Như vậy, thời gian nghệ thuật gắn liền với tổ chức bên trong của hình tượng nghệ
thuật. Khi nào ngòi bút nghệ sĩ chạy theo diễn biến sự kiện thì thời gian trôi nhanh,
khi nào dừng lại miêu tả chi tiết thì thời gian chậm lại.
Thời gian nghệ thuật thể hiện sự tự cảm thấy của con người trong thế giới. Có
thời gian nghệ thuật không tách rời với chuỗi biến cố cốt truyện như cổ tích, có thời
gian nghệ thuật xây dựng trên dòng tâm trạng và ý thức như tiểu thuyết, có tác
phẩm dừng lại chủ yếu trong quá khứ khép kín trong tương lai, có thời gian nghệ
thuật “trôi” trong các diễn biến sinh hoạt, có thời gian gắn với vận động của thời
đại, lịch sử, lại có thời gian nghệ thuật có tính “vĩnh viễn”, đứng ngoài thời gian
như thần thoại. Thời gian nghệ thuật phản ánh sự cảm thụ thời gian của con người
trong từng thời kì lịch sử, từng giai đoạn phát triển, nó cũng thể hiện sự cảm thụ
độc đáo của tác giả về phương thức tồn tại của con người trong thời gian. Trong
thế giới nghệ thuật, thời gian nghệ thuật xuất hiện như một hệ quy chiếu có tính
tiêu đề được giấu kín để miêu tả đời sống trong tác phẩm, cho thấy đặc điểm tư duy

dạo ấy
”, “
cách đây không
lâu” cùng
các từ chỉ các đoạn thời gian, chỉ cách tính thời gian. Thời gian được trần thuật được biểu
hiện bằng các dấu hiệu chỉ thời gian như tuổi trẻ, tuổi già, xuân, hạ, thu, đông, bằng tiếng
đỗ quyên kêu, bằng tiếng chuông chùa, bằng phiên chợ, bằng lễ kỉ niệm hằng năm…
Nhìn chung, thời gian được trần thuật là một hiện tượng vô hạn, liên tục. Người
ta có thể miêu tả một đời, một thế hệ hoặc một ngày, một phút giây trong đời hoặc
tái hiện những năm tháng không thể nào quên. Có thể đó là một buổi chiều nhá
nhem tối mở đầu tác phẩm Vợ nhặt, Tràng trở về nhà như mở ra bối cảnh lịch sử -
những ngày tháng đen tối đầu năm 1945 của xã hội Việt Nam với nạn đói khủng
khiếp đang diễn ra. Hay Cao điểm cuối cùng của Hữu Mai, người đọc sẽ cảm nhận
được 56 ngày đêm chiến đấu gian khổ, ác liệt, đầy hi sinh mất mát nhưng thật đẹp
và hào hùng của dân tộc Việt Nam. Cụ thể hơn, đó là những giờ phút chiến đấu đầy
cam go, thử thách khi bộ đội ta tấn công vào cứ điểm, ngọn đồi A1 trong tầm đại
bác của kẻ thù để giành từng tấc đất, từng ụ súng. Ở một số tác phẩm, thời gian
được trần thuật kéo dài tới hàng chục năm, trăm năm như truyện Sông đông êm đềm

Trang 7
của Sôlôkhôp, thời gian được trần thuật kéo dài tới mười năm (1912-1922) hay
Chiến tranh & hòa bình là cả một thời gian lịch sử dài gần một thế kỉ.
Bản thân thời gian là một đối tượng của sự cảm nhận, một chủ đề, đề tài của văn
học. Thời gian được trần thuật ở đây có thể là thời gian quá khứ, thời gian quay trở lại
với những hồi ức, kỉ niệm của nhân vật. Thanh Tịnh trong Tôi đi học luôn nhớ về buổi
học đầu tiên với kỉ niệm của ngày khai trường “Hôm ấy, một buổi mai đầy
sương thu và

Em vui đi, ráng nở ánh trăng rằm
Anh hút nhụy của mỗi giờ tình tự,
Mau với chứ! Vội vàng lên với chứ!
Em, em ơi, tình non sắp già rồi…

Trang 8

(Giục giã)
Đó là trong thơ trữ tình. Còn trong văn xuôi tự sự, thời gian tâm lí thường được biểu
hiện ở hiện tại với những đau khổ, dằn vặt hay sung sướng hạnh phúc. Tất cả quá khứ
hay tương lai dường như đều quy tụ trong hiện tại với cái bây giờ. Bởi quá khứ là kết quả
hôm nay, cái hôm nay dự báo ngày mai. Thời gian tịch mịch vào một buổi chiều với tiếng
trống thu không trong Hai đứa trẻ của Thạch Lam như lặp lại một cách bình thường
những ngày khác của phố huyện nghèo tăm tối, những ngày
tháng dài lê thê, buồn tẻ
phải chăng cũng là tương lai ảm đạm, cũng không kém
phần tăm tối của cuộc sống con
người trước Cách mạng. Vì vậy, Giáo sư Trần Đình Sử đã nhận định: trong tác phẩm
“một cuộc đời có thể trôi nhanh như giấc mộng, một phúc chờ đợi có thể dài như trăm
năm, có kẻ say sưa quên năm tháng, có người mãi mãi thiếu thời gian, lịch sử có khi hàng
trăm năm giậm chân tại chỗ, có khi vùn vụt một ngày bằng hai mươi năm” [26; tr.243].
Có khi thời gian được trần thuật là thời gian tương lai hay mở ra những viễn
cảnh
tương lai. Nó cho thấy niềm lạc quan yêu đời, niềm tin tưởng vào một tương
lai tươi
sáng, tốt đẹp của nhân vật, hay của chính tác giả. Với
Tiếng hát sông

(Khi con tu hú)
Ở một số tác phẩm, đặc biệt là các tác phẩm thuộc trào lưu hiện thực phê phán, do nhà
văn lấy chất liệu trên nền hiện thực và phản ánh tố cáo hiện thực nên thời gian
tương lai
hay viễn cảnh tương lai trong tác phẩm thường mang màu sắc bi quan,
tuyệt vọng.
Chẳng hạn, kết thúc tác phẩm Bỉ Vỏ của Nguyên Hồng, Tám Bính bị bắt và đau lòng
chứng kiến đứa con mình chết mà chị là người có phần tham dự vào cái chết đó hay
kết thúc Một bữa no của Nam Cao, bà cái đĩ phải đón nhận cái chết, một cái chết oằn oại
và đau đớn.
Bên cạnh đó, thời gian được trần thuật còn có thể chứa đựng cả ba thời quá khứ,
hiện tại và tương lai. Truyện Một ngày dài hơn thế kỉ của T. AiMaTov là một thí dụ
điển hình. Với thời gian hiện tại từ nửa đêm khi Edigel nhận được tin Kazangap
chết đến lúc đi an táng thi hài của người quá cố ở nghĩa địa Ana-Bejit chỉ trong
vòng một ngày nhưng tác giả còn tái hiện lại quá khứ đau thương đầy khổ cực của
những công nhân sống nơi Ga xép bão tuyết, trên thảo nguyên mênh mông, hiu
quạnh và vô cùng khắc nghiệt cùng viễn cảnh tương lai của khoa học khám phá vũ
trụ. Trong tác phẩm, cả quá khứ, hiện tại, tương lai như đan xen hòa quyện vào
nhau.
Quá khứ hiện tại đan xen nhau còn là biểu hiện của thời gian hồi tưởng, hoài
niệm quá khứ. Ở đây con người như tiếc nuối như muốn níu kéo lại quá khứ bởi quá
khứ kia vẫn còn để lại một ấn tượng tốt đẹp hay một kỉ niệm sâu sắc trong hiện tại.
Còn hiện tại, con người đang thất vọng, chua xót, đau khổ, bế tắc và dự báo một
tương lai ảm đạm mờ mịt. Trong
Thềm hoang
của Nhật Tiến, hai anh em Ích và
Ngoan nhớ lại những ngày tháng êm đềm chúng được ăn no, mặc ấm, được cả cha
và mẹ chúng yêu thương. Nghĩ về hiện tại, chúng vô cùng đau đớn, chua xót vì luôn
bị dượng ghẻ đánh đập, hành hạ, phải làm công việc của những kẻ sống lang thang
tạm bợ, không phù hợp với tuổi thơ của chúng như hát rong, mua bán đồng nát.

những tấm gương chiến đấu dũng cảm, là niềm tự hào của dân làng Xôman.
Trong nhiều tiểu thuyết và kịch hiện đại, những khoảng thời gian xa cách nhau
được các tác giả tái hiện đồng thời với nhau, đan cài vào nhau. Đấy là tại một thời
điểm cả ba sự kiện đều xảy ra. Người ta gọi thời gian nghệ thuật này là thời gian
đồng hiện. Loại thời gian nghệ thuật này góp phần tạo nên tính phức điệu của tác
phẩm, nó đòi hỏi người đọc một tư duy tinh nhạy mới nắm bắt được bản chất của
các mối quan hệ ẩn đằng sau các khoảng thời gian tưởng như lộn xộn, vô lí. Trong
tác phẩm Chí Phèo, chi tiết cuối cùng Thị Nở nhìn nhanh xuống bụng “đột nhiên
Thị thấy thoáng hiện ra một cái lò gạch cũ bỏ không, xa nhà cửa và vắng người qua
lại” [4; tr.235] là một chi tiết nghệ thuật tiêu biểu cho thời gian đồng hiện. Thông
qua cái thời điểm hiện tại lúc thị Nở nhìn xuống bụng đó lại hiện lên quá khứ xuất
thân của Chí Phèo: không cha, không mẹ, trần truồng và xám ngắt trong một cái váy
đụp. Hay đó còn là tương lai của những Chí Phèo con rồi cũng sẽ như thế, cũng sẽ
nối tiếp những cuộc đời của cha chúng, của Năm Thọ, Binh Chức. Ba bình diện thời
gian như đối chiếu với nhau cùng một lúc gợi lên cái vòng luẩn quẩn, bế tắc của bao
kiếp người bé mọn không được sống thật, sống đúng với bản chất lương thiện của
mình.
1.2.2. Thời gian trần thuật:
Được xây dựng bằng chất liệu ngôn từ, văn chương là loại nghệ thuật thời gian
mà bản thân thời gian là một đối tượng của sự cảm nhận, một chủ đề, đề tài của văn

Trang 11
học. Người ta có thể miêu tả một đời, một thế hệ hoặc một ngày, một phút giây
trong đời hoặc tái hiện lại những năm tháng không thể nào quên. Tương quan giữa
chuỗi biến cố thời gian và sự cảm nhận thời gian tạo thành cấu trúc thời gian miêu
tả. Thời gian được miêu tả là một hiện tượng vô hạn, liên tục nhưng thời gian miêu
tả thì có mở đầu, có kết thúc. Thời gian trần thuật (hay thời gian miêu tả) có thể là

đúng như thật, trực tiếp như thời gian trên sân khấu là trùng khít với thời gian được
trần thật. Nhiều khi chỉ là khoảnh khắc nhưng được nhà văn trần thuật tỉ mỉ, chậm

Trang 12
rãi và có thể có lời bình phẩm kéo dài hàng trang sách. Như vậy ở đây thời gian trần thuật
nhiều gấp mấy lần thời gian được trần thuật. Hãy so sánh phim và truyện Sống
như anh

với bài thơ
Nguyễn Văn Trỗi
. Chín phút cuối đời của anh hùng Nguyễn
Văn Trỗi được
trần thuật chỉ trong mấy chục giây trong phim và truyện nhưng trong thơ Tố Hữu lại miêu
tả mấy phút.
Việc dồn nén nhiều sự kiện có độ dài thời gian lớn trong một khoảnh khắc trần
thuật hoặc trải một hành động vốn diễn ra nhanh trong cả đoạn trần thuật chi tiết
kéo dài thường tạo ra những hiệu quả thẩm mĩ nhất định của nghệ thuật. Nghệ thuật
có thể kéo dài hay làm dừng lại một phút giây để người ta cảm thấy mọi liên hệ của
thực tại xảy ra trong một khoảnh khắc, nghệ thuật cũng có thể dồn nén trăm năm,
nghìn năm vào một giờ để cho thấy các vận động chậm chạp mà đời người không
cảm thấy được. Nghệ thuật cũng có thể đưa ta vào chuỗi các sự biến dồn dập để ta
thấy được cái nhịp bão táp của cuộc đời. Truyện Kiều, trong tương quan với ước mơ
và hành động của Kiều, các sự kiện ngang trái ập đến như một cái gì phi lí ngẫu
nhiên, bất ngờ ngoài ý muốn. Nó làm cho thời gian sự kiện trong Truyện Kiều có cái
nhịp gấp khúc, chồng chéo, sự kiện này chưa xong, sự kiện kia đã tới, gối đầu lên
nhau, chồng chất, xô đẩy nhau, khi tai họa cũng như khi hạnh phúc. Trái lại trong
truyện Một bữa no của Nam Cao, cảnh ăn chực của bà cái đĩ diễn ra dài đằng đẵng

Ta muốn ôm sự sống còn đang mơn mởn Ta
muốn riết mây đưa và gió lượn
Ta muốn say cánh bướm với tình yêu”
(Vội vàng)
Nhịp điệu hối hả khẩn trương của thời gian tâm tưởng còn thể hiện nỗi sốt ruột,
bồn chồn khi hẹn hò, chờ đợi. Đấy là Tân trong Đứa con đầu lòng của Thạch Lam
khi chàng chờ vợ sinh nở trong căn phòng của hộ sinh viện: “Chàng nóng ruột như
lửa đốt, đi đi lại lại trong phòng, ngồi xuống chiếc ghế ở bên tường một lát rồi
đứng dậy. Chàng đưa mắt nhìn qua những chiếc bàn giản dị và sơn trắng, xếp đặt
một cách gọn ghẽ. Rồi chàng chăm chú nhìn cái cánh cửa đóng ở góc phòng” [22;
tr.7].
Thời gian nghệ thuật đích thực là thời gian phối trí giữa thời gian trần thuật và
thời gian được trần thuật. Cho nên thời gian trần thuật thì không đảo ngược được,
không đứt đoạn, chỉ đứng ở thời gian hiện tại với sự phối trí của người kể. Giữa thời
gian trần thuật và thời gian được trần thuật thì thời gian trần thuật thường ngắn hơn
thời gian được trần thuật. Ví dụ, theo tác giả Bùi Văn Tiếng, cách tổ chức thời gian
trần thuật trong
Giông tố
như sau: “
bảy chương đầu của cuốn tiểu thuyết (trong
tổng số ba mươi chương và một đoạn kết) tức khoảng một phần tư dung lượng trần
thuật, Vũ Trọng Phụng cũng dùng để nhẩn nha kể về thời gian gần năm hôm, làm
ra vẻ cố ý phơi bày tất cả hậu quả của cơn giông-tố-dưới-ánh-trăng ấy. Từ chương
VIII trở đi, mật độ biến cố mới bắt đầu được dồn nén chặt hơn. Khung thời gian
chín, mười tháng trời nằm gọn trong khuôn khổ hăm bốn chương sách, có khi trên
nửa tháng chỉ được nhà văn trần thuật chưa đầy ba trang (245-248). Hình như
giông bão đang tăng dần tốc độ lẫn cường độ, đẩy nhanh nhịp điệu của cốt truyện”
[29; tr.24). Tuy nhiên có trường hợp, có lúc thời gian được trần thuật ít hơn thời
gian
trần thuật. Đấy là lúc tác giả dừng lại miêu tả thiên nhiên, tâm trạng nhân vật, thời gian

Thời gian trần thuật còn thể hiện điểm nhìn thời gian, cách hiểu thời gian của tác
giả và tự nó là một tín hiệu thẩm mĩ, có hiệu lực thẩm mĩ riêng.
Trong truyện cổ tích, thời gian trần thuật gần như trùng với thời gian của sự kiện
được trần thuật. Ở đây thời gian nghệ thuật gắn liền với chuỗi sự kiện, được tính
bằng bản thân sự kiện và tính liên tục của sự kiện. Mỗi lần bắt đầu bằng “Một hôm”,
“Ít lâu sau”, “ Hôm sau”, “Đến bữa cơm”, “ Được ít lâu”, “ Mãi sau”, “ Đến ngày
giỗ bố”, “ Đến lúc”, “Từ đó”, “Cứ mỗi lần”, “Từ bấy giờ”…Truyện không có quá
khứ, thời tương lai. Tất cả chỉ ở thời hiện tại kéo dài, khi sự kiện kết thúc thì thời
gian cũng hết. Nói chung thời gian này không ra ngoài phạm vi “một hôm”. Tác giả
đứng ở thời hiện tại để trần thuật lại câu chuyện. Vì vậy để người đọc (người nghe)
khỏi nhầm lẫn và có cảm tưởng như sự việc đã diễn ra nên thường mở đầu truyện
cổ tích bằng công thức “
ngày xửa, ngày xưa
”, một thời gian quá khứ không xác
định như dặn người đọc, người nghe rằng đây là một thời xa xưa, không có thực ở
hiện tại.
Kiểu thời gian trần thuật theo trình tự phát triển trước sau của thời gian là một
đặc điểm của tiểu thuyết truyền thống. Trong
Tam quốc diễn nghĩa
của La Quán
Trung,
Tây Du Ký
của Ngô Thừa Ân,
Hoàng Lê Nhất thống chí

của Ngô gia văn
phái…diễn tiến của câu chuyện chủ yếu được trình bày theo thứ tự phát triển trước

Trang 15


gã sở khanh lừa gạt có con, bị gia đình hắt hủi, cô lần tìm lên thành phố để tìm cha
của đứa bé thì liên tiếp gặp những tai họa: suýt bị cưỡng hiếp rồi bị cưỡng hiếp thật,
bị đánh ghen vô tội họa, bị đưa về bót, vào nhà chứa rồi trở thành kẻ lưu manh
chuyên móc túi lừa gạt. Chính cái xấu cái ác đã dồn nén, thúc ép Tám Bính vào con
đường tha hóa. Thời gian trần thuật này thể hiện một cách tất yếu sự đối phó của
nhân vật, những con người nhỏ bé tội nghiệp trước những tai họa luôn rình rập họ.
Họ không thể sống lương thiện mà lao vào con đường phạm tội. Suy cho cùng, họ
cũng chính là nạn nhân, là sản phẩm của xã hội thực dân phong kiến xấu xa.
Trong văn học lãng mạn và hiện thực, nhiều tác phẩm được xây dựng chủ yếu
không phải theo trình tự kế tục của thời gian mà theo qui luật phát triển cuả tâm lí.
Quan tâm đến các trạng thái tâm hồn của nhân vật, tác giả dẫn dắt câu chuyện theo

Trang 16
mạch thời gian tâm lí. Những sự kiện, biến cố tình tiết, khung cảnh được sắp xếp,
phục hiện phù hợp với những ấn tượng và hồi ức của nhân vật. Trong tiểu thuyết Đi
tìm thời gian đã mất của Marel Proust thời gian bước đi theo hành trình tìm lại kỉ
niệm, theo tiếng gọi của hồi ức và tìm thức cá nhân, liên tưởng riêng tây. Ở đây thời
gian quá khứ như tự thỏa mãn với chính nó và kỉ niệm của nhân vật cũng trở thành
một thực thể tự đầy đủ với chính nó. Vì vậy, “Anatoli Bootxarep có lần đã khẳng
định rằng nghệ thuật thời gian gần đây đang hết sức khao khát phá vỡ sự giống
thật, xáo trộn trình tự trước sau của cốt truyện. Trong khi đó, tác giả của chủ nghĩa
cổ điển Pháp như Corneille, Racin từng có tham vọng kéo thời gian nghệ thuật xích
lại gần với thời gian hiện thực bằng nguyên lí tam duy nhất; hay việc tôn trọng
trình tự phát triển tự nhiên của thời gian là một đặc điểm của tiểu thuyết chương
hồi ở phương Đông” [29; tr.8]
Nhìn chung, để biến đổi nghệ thuật các quá trình thời gian, nhà văn có thể miêu
tả thời gian trong một dòng chảy liên tục hoặc ngắt quãng. Đặc biệt, những nhà văn

2. Không gian nghệ thuật:
Cùng với thời gian, không gian cũng là một phạm trù của triết học, là hình thức
tồn tại của thế giới hiện thực. Không có gì tồn tại ngoài không gian và thời gian.
Chỉ trong không gian và thời gian thì sự vật mới có tính xác định. Nhưng không
gian trong văn chương lại có những đặc điểm khác không gian thực tế. Bởi văn
chương không chỉ là nghệ thuật thời gian mà nó còn là nghệ thuật không gian, một
nghệ thuật không gian đặc thù. Tính đặc thù này cũng do chất liệu xây dựng hình
tượng là ngôn từ quy định. Không gian nghệ thuật gắn với sự cảm thụ về không
gian, có giá trị tình cảm nên nó mang tính chủ quan của người sáng tác. Do vậy mà
không gian nghệ thuật có tính độc lập tương đối không quy được vào không gian
địa lí.
2.1. Khái niệm:
Theo Từ điển thuật ngữ văn học thì không gian nghệ thuật là: “Hình thức bên
trong
của hình tượng nghệ thuật thể hiện tính chỉnh thể của nó. Sự miêu tả trần
thuật
trong nghệ thuật bao giờ cũng xuất phát từ một điểm nhìn, diễn ra trong
trường
nhìn nhất định qua đó thế giới nghệ thuật cụ thể, cảm tính bộc lộ toàn bộ
quảng tính
của nó: cái này bên cạnh cái kia, liên tục, cách quãng, tiếp nối, cao,
thấp, xa, gần,
rộng, dài , tạo thành viễn cảnh nghệ thuật. Không gian nghệ thuật gắn với cảm thụ về
không gian, nên mang tính chủ quan, ngoài không gian vật thể có không gian tâm
tưởng:
Gần đây mà xa biết bao nhiêu
Giữa hai đứa mênh mông là biển rộng
(Tố Hữu)
Do vậy, không gian nghệ thuật có tính độc lập tương đối, không quy vào được
không gian địa lí. Không gian nghệ thuật trong tác phẩm văn học có tác dụng mô

ánh từ thực tế khách quan và được nhà văn miêu tả lại bằng một cảm quan thẩm mĩ
mang tính nghệ thuật, bối cảnh thiên nhiên vừa gắn bó với nhân vật và hoạt động
của nhân vật vừa tạo ra nguồn cảm hứng cho người kể và người đọc. Thiên nhiên ở
đây có thể rộng lớn như bầu trời cao vời vợi với những đám mây lơ lửng hay nhỏ bé
như ao thu “lạnh lẽo nước trong veo”. Bên cạnh đó có nhiều bối cảnh nhỏ như ao
làng, giếng nước, hồ vườn, cây thị bên đường, cau, bờ rào, quán nước… Không
gian ở đây không phải chỉ làm “phông” cho tác phẩm. Chính không gian là một yếu
tố vừa mang tính nghệ thuật vừa mang tính nội dung, biểu đạt chủ đề của tác phẩm.
Nhìn chung, bối cảnh thiên nhiên trong thơ trữ tình thường rất nên thơ rất đẹp đúng
như câu “thi trung hữu họa”, chỉ bằng vài dòng thơ, thi nhân đã vẽ nên những bức tranh
thiên nhiên tuyệt đẹp:
Cỏ non xanh rợn chân trời
Cành lê trắng điểm một vài bông hoa
(Truyện Kiều - Nguyễn Du)
Hay Trong làn nắng ửng khói mơ tan,
Đôi mái nhà tranh lấm tấm vàng”
(Mùa xuân chín - Hàn Mặc Tử)
Còn trong văn xuôi lãng mạn, bối cảnh thiên nhiên được vẽ nên bằng những nét bút
tuyệt đẹp. Chẳng hạn, trong tác phẩm Hồn bướm mơ tiên, thiên nhiên được miêu tả
“phía tây sau dãy đồi cỏ biếc, sắc trời đỏ ửng lấp loáng qua các khe đám lá xanh
đen. Mái chùa rêu phong đã lẫn màu cùng đất, cùng cây, cùng cỏ. Khoảnh khắc,
mấy bức tường và mấy cái cột gạch quét vôi chỉ còn lờ mờ in hình trong cái cảnh
nhuộm đồng một màu tím thẫm
”[14; tr.11]. Một bức tranh thiên nhiên tuyệt đẹp
nhiều màu sắc, có nét cổ kính của rêu phong, có nét hiện đại của tường vôi trắng.

Trang 19

nhỏ bé vừa rộng lớn khi nó mang ý nghĩa khái quát, tượng trưng.
Nhìn chung, không gian bối cảnh có thể là không gian xác thực, cụ thể hay mơ
hồ, ước lệ. Trong Chinh phụ ngâm khúc, theo Giáo sư Đặng Thai Mai, không gian
bối cảnh mang tính mơ hồ, ước lệ “ tất cả cái gì là vật chất, là thực thể, bao nhiêu
màu sắc, thanh âm dường như đã bị tác giả xóa nhòa đi trong những nét bút mơ hồ
mênh mông. Một con sông, một đoạn đường, một nhịp cầu, một dòng nước, một
cánh đồng và xa kia, nơi lớp mây đưa…là một rặng núi…Cả một khung cảnh bao

Trang 20
la, đại thể…Nhưng chốn ấy là chốn nào? Con sông đó, đoạn đường đó, nhịp cầu, dòng
nước, và cánh đồng và rặng núi kia, tên nó là gì? Nó có gì là đặc biệt? Tác giả không
hề nói. Hơn thế nữa, cái cầu đã biến thành cầu Vị, và con đường là con đường Hán
dương, bến nước là bến Tiêu tương…thì chúng ở đâu thế này ? Thi sĩ đã
bố trí cảnh li
biệt vào một khung cảnh Tàu, hồi mà thủ đô Tàu còn ở bến Hàm
dương! Bao nhiêu
thực thể cụ thể, chính xác đều bị sa thải, hoặc gói ghém lại trong ước lệ, điển cố văn
Tàu”[24; tr.48].
Không gian bối cảnh ở đây có thể là không gian mở hay không gian khép nếu
xét về tính chất. Khoảng trời, cánh đồng…thể hiện hình tượng không gian mở; ngôi
nhà, căn phòng…thể hiện hình tượng không gian khép; còn khung cửa là ranh giới
giữa hai hình tượng đó. Nhiều bài thơ trong tập Nhật kí trong tù của Hồ Chí Minh
thể hiện hình tượng không gian vận động từ cận cảnh đến viễn cảnh, mở ra một
hướng chân trời, một vầng sáng hay một tầm nhìn khoáng đạt (Buổi sớm, Giải đi
sớm, Trời hứng…). Trong một số bài thơ khác, không gian nghệ thuật lại có tính
chất khép lại (Cảnh chiều tối, Đến Quế Lâm, Nhà lao Nam Ninh…).
Không gian bối cảnh có thể là không gian linh hoạt, vận động đa dạng hay đa hướng

2.2.2. Không gian sự kiện:
Văn chương thiên về miêu tả quá trình đời sống, sự vận động, tái hiện các hành
động của nhân vật. Vì thế, không gian trong văn chương luôn gắn liền với những sự
kiện, những biến cố xảy ra trong đời nhân vật. Những sự kiện xảy ra tác động đến
các nhân vật, gây ra những sự kiện khác theo quan hệ nhân quả và tạo thành chuỗi
sự kiện. Nhưng trong chuỗi sự kiện ấy, chỉ có một vài sự kiện quan trọng chi phối
cuộc sống của nhân vật. Trong các tác phẩm văn chương, các tác giả tạo ra sự kiện
gây tình huống cho nhân vật bộc lộ tính cách, tâm trạng. Trong Cao điểm cuối cùng
của Hữu Mai, tình huống đầy gây cấn khi giặc hết lượt này đến lượt khác phản công
chiếm lại ngọn đồi A1, trong khi đó các chiến sĩ phòng ngự các ụ súng đã hi sinh
hoặc bị thương nặng chỉ còn lại dăm người có khả năng chiến đấu thì trong số đó lại
có kẻ nao núng và rút lui “Trung đoàn trưởng rời khỏi ụ súng tiếp ra mấy bước,
đứng chắn trên đường anh ta đang chạy. Nhưng Quỳ bỏ đường hào, chống tay nhảy
lên mặt đồn, lao nhanh về phía cửa đột phá. Đằng sau hắn, một số chiến sĩ hùa
chạy theo. Tình hình đã rõ ràng, trung đoàn trưởng rút súng ngắn. Anh chưa kịp kết
liễu đời tên hèn nhát, bọn địch đuổi theo đã gần ập tới, anh phải quay mũi súng về
phía địch
[20; tr.106] (…) “
Địch đang xô tới rất đông…Anh [trung đoàn trưởng
Trang] bắn một băng tiểu liên. Vẫn không cản được chúng. Anh cúi xuống hào nhặt
một ống phóng lôi, tháo nhanh kíp, nhảy lên khỏi giao thông hào, dùng hết sức lăn
mạnh về phía địch. Một ánh lửa đỏ lóe, một tiếng nổ dậy như bom. Những chiếc mũ
sắt địch bay lên. Ống phóng lôi của trung đoàn trưởng đã cứu vãn tình hình. Các
chiến sĩ đang chạy quay lại, rút lựu đạn ném tới tấp về phía địch. Tiểu đoàn phó
Quân nắm thời cơ nhảy lên miệng hào hô to:
- Xung phong!
Thương binh nằm dưới chiến hào cũng hô theo vang dậy khắp nơi. Bọn địch
hoảng sợ, quay trở lại. Quân đuổi theo địch chừng dăm chục mét, nhìn phía sau chỉ
thấy một chiến sĩ chạy theo mình, phải dừng lại” [20; tr.107]. Giữa sự sống và cái
chết chỉ còn trong gang tấc, không gian sự kiện ở đây như làm nổi bật tinh thần

gầy gò, run run
bưng chậu mực” như đối lập với phong thái của Huấn Cao. Một bên là đường hoàng
đĩnh đạc, một bên là vội vàng, khép nép. Dường như họ đang hạ mình, họ đang tôn
trọng nhưng cái họ hạ mình, họ tôn trọng không phải là một tên tử tù phạm trọng tội
mà họ đang hạ mình, đang tôn trọng trước cái đẹp, một tâm hồn, nhân cách và
những dòng thư pháp đẹp. Như vậy, không chỉ Huấn Cao mà viên quản ngục, người
thơ lại đều là những con người tài hoa bởi họ biết sáng tạo, trân trọng và lưu giữ cái
đẹp. Nhìn chung, qua các sự kiện trong tác phẩm, tác giả đã làm nổi bật tính cách,
tâm trạng khác nhau giữa các nhân vật. Thậm chí có khi không gian sự kiện còn làm
nổi bật tính cách, tâm trạng khác nhau trong cùng một nhân vật. Trong Tắt đèn, sự
kiện chị Dậu đánh tên cay lệ, người nhà lí trưởng
“- Chị Dậu xám mặt, vội vàng đặt con bé con xuống đất, chạy đến đỡ lấy tay hắn: -
Cháu van ông, nhà cháu vừa mới tỉnh được một lúc, ông tha cho!
- Tha này! Tha này!
Vừa nói, hắn vừa bịch luôn vào ngực chị Dậu mấy bịt rồi lại sấn đến để trói anh Dậu.
Hình như tức quá không thể chịu được, chị Dậu liều mạng cự lại:
- Chồng tôi đau ốm, ông không được phép hành hạ!. Cai lệ tát vào mặt chị một cái đánh
bốp, rồi hắn cứ nhảy vào cạnh anh Dậu.
Chị Dậu nghiến hai hàm răng:
- Mày trói ngay chồng bà đi, bà cho mày xem!
Rồi chị túm lấy cổ hắn, ấn dúi ra cửa. Sức lẻo khẻo của anh chàng nghiện chạy
không kịp với sức xô đẩy của người đàn bà lực điền, hắn ngã chỏng quèo trên mặt
đất, miệng vẫn nham nhảm thét trói vợ chồng kẻ thiếu sưu
”[30; tr.116]. Sự hung
hăng, hống hách của tên cai lệ đã làm cho chị Dậu phải vùng lên phản kháng, xuất

Trang 23

Trích đoạn Thời gian tâm trạng
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status