TRƯỜNG ĐẠI HỌC s ư PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA: NGỮ VĂN
NGUYỄN THỊ HẠNH
KHÔNG GIAN VÀ THỜI GIAN
NGHỆ THUẬT TRONG CÓ ĐÔ
CỦA YASUNARY KAWABATA
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
•
•
•
C huyên ngành: V ăn học nư óc ngoài
HÀ NỘI- 2015
•
TRƯỜNG ĐẠI HỌC s ư PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA: NGỮ VĂN
NGUYỄN THỊ HẠNH
KHÔNG GIAN VÀ THỜI GIAN
NGHỆ THUẬT TRONG CÓ ĐÔ
CỦA YASUNARY KAWABATA
Nguyễn Thị Hạnh
L Ờ I C AM Đ O A N
Khóa luận tốt nghiệp này được hoàn thành dưới sự hướng dẫn của
TS.Nguyễn Thị Bích Dung. Tôi xin cam đoan rằng:
- Đây là kết quả nghiên cứu của riêng tôi.
- Ket quả này không trùng với kết quả của bất kỳ tác giả nào đã được
công bố. Neu sai tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm.
Hci Nội, ngày
thảng năm 2015
Sinh viên
Nguyễn Thị Hạnh
M Ụ C LỤC
MỞ Đ À U ................................................................................................................ 1
1. Lí do chọn đề tài.................................................................................................. 1
2. Lịch sử vấn đ ề .................................................................................................... 3
3. Mục đích nghiên cứu.......................................................................................... 5
4. Nhiệm vụ nghiên cứu......................................................................................... 5
5. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi khảo sá t..................................................... 6
6. Phương pháp nghiên cứu....................................................................................6
7. Đóng góp của khóa luận.....................................................................................6
8. Bố cục khóa luận................................................................................................ 6
tâm hồn Nhật Bản”. Ông là nhà văn Nhật Bản đầu tiên nhận giải Nobel văn
học vào năm 1968 với bộ ba tiểu thuyết: X ứ tuyết (1947), Ngàn cánh hạc
(1951), Cố đô (1962).
Cố đô là một trong ba bộ tiểu thuyết tiêu biểu, đặc sắc làm nên tên tuổi
của Y. Kawabata. Mỗi tác phấm của Y. Kawabata đều cho thấy nghệ thuật
viết văn tuyệt vời và tình cảm lớn lao, thể hiện được bản chất của cách tư duy
Nhật Bản qua bút pháp sáng tác bậc thầy - một kiếu sáng tác lãng mạn mà
không gian và thời gian nghệ thuật là một yếu tố rất quan trọng trong đó.
Không gian và thời gian là sản phấm sáng tạo đế nhà văn thế hiện quan
niệm nhất định về con người, cuộc sống. Vì vậy, việc tìm hiếu về không gian
và thời gian nghệ thuật là điều thú vị, là sự quan tâm của nhiều người.
Đối với Y. Kawabata, từ lâu “Không gian và thời gian nghệ thuật” trong
sáng tác của ông vẫn được coi là một đề tài mới mẻ và hấp dẫn đối với những
người say mê văn chương Nhật Bản - say mê dòng văn học xứ Phù Tang.
Không gian và thời gian nghệ thuật là hiện tượng của thế giới khách quan khi
đi vào nghệ thuật được soi rọi bằng tư tưởng, tình cảm, được nhào nặn và tái
tạo trở thành một hiện tượng nghệ thuật độc đáo, thấm đẫm cá tính sáng tạo
của nhà văn.
Không gian và thời gian trong văn học rất tiêu biếu cho khả năng chiếm
lĩnh đời sống rộng, sâu và nhiều mặt của ngôn từ. Cảm quan về không gian và
thời gian gắn liền với cảm quan về con người và cuộc đời, gắn bó với ước mơ
và lý tưởng của nhà văn. Không gian và thời gian là những yếu tố quan trọng
góp phần tạo nên diện mạo và giá trị của tác phấm. Mỗi nhà văn có cách tổ
chức không gian và thời gian riêng tùy thuộc vào tài năng và phong cách của
mỗi người. Nhưng nhìn chung đó là những phạm trù quan trọng, giúp nhà văn
tái hiện về hiện thực đời sống, phản ánh quan niệm nhân sinh quan của mình.
Tác phấm văn học là sản phấm của nhà văn. Ớ đó nhà văn không chỉ tái
hiện lại những sự kiện, hiện tượng của thế giới, đề xuất một quan niệm khái
những vấn đề cơ bản của khoa nghiên cứu văn học hiện đại. Ngày nay không
gian và thời gian nghệ thuật rất được giới nghiên cứu chú trọng. Tuy nhiên
trước thế kỷ XX, khái niệm này dường như chưa được quan tâm một
cách đúng mức.
Y. Kawabata là một trong những nhà văn góp phần làm phong phú các
giá trị văn chương của nhân loại trong thế kỉ XX. Sáng tác của ông luôn thu
hút được sự quan tâm của giới nghiên cứu trong và ngoài nước:
Tạp chí văn học số 16 (tháng 9/ 1999) tác giả E.G.Sheidensticker nhận
xét: “Tôi cho rằng nên xếp Y. Kawabata vào dòng văn chương mà ta có thế
dò đến tận bậc thầy Haikư của thế kỉ XVII”. Trong bài viết này tác giả chủ
yếu tìm hiếu nghệ thuật Chân không trong sáng tác của Y. Kawabata.
Tạp chí văn học số 9 năm 1999: Tác giả Lưu Đức Trung có bài viết bàn
về “Thi pháp tiểu thuyết Y. Kawabata- Nhà văn lớn của Nhật Bản”. Thể hiện
rõ thi pháp đặc trưng trong sáng tác của Y. Kawabata là thi pháp Chân không
(nói ít, gợi nhiều, ý được thoát ra từ khoảng trống của câu chữ).
Tạp chí văn học số 2 năm 2002, tác giả Nhật Chiêu có bài “Thế giới
Kawabata Yasunary trong tác phẩm của ông”
3
Tạp chí văn học số 1 năm 2004 với bài “Thủ pháp tương phản trong
truyện Người đẹp say ngũ của Y. Kawabata” của tác giả Khương Việt Hà,
bài viết tập trung đi sâu tìm hiểu nghệ thuật của tác phấm
Trong tạp chí văn học số 7 năm 2005: Đào Thị Thu Hằng có bài: “Y.
Kawabata giữa dòng chảy Đông- Tây”. Bài viết nghiên cứu về sự ảnh hưởng
của văn hóa phương Tây đối với Y. Kawabata và khắng định văn hóa phương
Đông là gốc rễ trong tư tưởng nhà văn.
Tạp chí văn học số 11 năm 2005 với bài: “Y. Kawabata- Lữ khách
muôn đời đi tìm cái đẹp” của tác giả Nguyễn Thị Mai Liên. Bài nghiên cứu đi
phẩm nói tới vẻ đẹp của thành phố Kyoto và các truyền thống cố, cũng từ đó
thê hiện tâm lí của con người - đặc biệt là nói tới cặp chị em song sinh đã bị
chia cách từ lúc mới chào đời. Không gian và thời gian trong tác phẩm được
Y. Kawabata thế hiện rất độc đáo, sinh động khiến độc giả cảm nhận mới mẻ
không dễ gì nắm bắt được ngay mà phải bằng cả tâm hồn, sự hứng thú của
mình để tìm hiếu sâu sắc vấn đề này.
3. Mục đích nghiên cứu
Đe tài nhằm mục đích khám phá không gian và thời gian nghệ thuật
trong Cố đô của Y. Kawabata. Qua đó thấy được tài năng của nhà văn và
nhũng đóng góp lớn lao của ông cho nền văn học Nhật Bản nói riêng và cho
nhân loại nói chung.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
Với đề tài này người nghiên cứu hệ thống các khoảng không gian và thời
gian khác nhau trong tác phấm, sau đó tiến hành phân tích, so sánh, đối chiếu
giúp người đọc thấy được những đóng góp, sáng tạo mới mẻ của Y. Kavvabata
về vấn đề đang cần bàn.
5
5. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi khảo sát
5.1. Đối tượng nghiên cứu
Không gian và thời gian nghệ thuật trong c ố đô của Y. Kawabata.
5.2. Phạm vi khảo sát
Tiểu thuyết Cố đô của Y. Kawabata do Thái Văn Hiếu dịch.
6. Phương pháp nghiên cứu
Đe thực hiện đề tài này, người viết đã sử dụng các phương pháp như:
- Phương pháp phân tích, so sánh, đối chiếu.
- Phương pháp khảo sát tác phẩm.
- Phương pháp tống hợp nâng cao vấn đề
Sử, Nguyễn Khắc Phi đã định nghĩa về không gian nghệ thuật như sau:
“Không gian nghệ thuật là hình thức bên trong của hình tượng nghệ thuật, thế
hiện chỉnh thể của nó. Sự miêu tả trần thuật trong nghệ thuật bao giờ cũng
xuất phát từ một “điếm nhìn” diễn ra trong “trường nhìn” nhất định. Không
gian nghệ thuật gắn với cảm thụ về không gian nên mang tính chủ quan, ngoài
không gian vật thế có không gian tâm tưởng”[8; tr 322]. Do vậy, không gian
nghệ thuật có tính độc lập, tương đối, không quy được vào không gian địa lý.
Không gian nghệ thuật trong tác phấm văn học có tác dụng mô hình
hóa các mối quan hệ của bức tranh thế giới như: Thời gian, xã hội, đạo đức,
7
tôn ti trật tự. Không gian nghệ thuật có thê mang tính địa điêm, tính phân
giới, tính cản trở. Nó cung cấp cơ sở khách quan đế khám phá tính độc đáo
cũng như nghiên cứu loại hình của các hình tượng nghệ thuật. Không gian
nghệ thuật là một mô hình nghệ thuật về thế giới mà con người đang sống,
đang cảm thấy vị trí, số phận mình trong đó. Không gian nghệ thuật mang
tính ước lệ, mang ý nghĩa cảm xúc, tâm tưởng của thế giới tinh thần. Trong
văn học, không gian được biểu hiện bằng các không gian điểm mang tính
ước lệ tượng trưng: Làng quê, trong nhà, ngoài vườn, bến sông, thành phố,
biển khơi, lễ hội, con đường...
Việc tìm hiêu không gian nghệ thuật của một tác giả, một tác phâm có
tầm quan trọng lớn, cho phép khám phá phong cách và cá tính sáng tác của
người nghệ sĩ một cách khoa học về đời sống.
1.2. Không gian nghệ thuật trong c ố đô
Cố đô là một trong những kiệt tác nghệ thuật đạt giải Nobel văn học của
Kawabata (năm 1968). Câu chuyện nói tới một cặp chị em song sinh đã bị
chia cách từ lúc mới chào đời, tác phấm đã nói lên vẻ đẹp của thành phố
Kyoto và các truyền thống cố với những phụ nữ Kyoto còn giữ vẻ duyên
dáng, không bị nền văn hóa phương Tây làm biến chất.
trong trang phục phụ nữ. Những khía cạnh này trong tiếu thuyết có thề có giá
trị tài liệu, nhưng độc giả thích thú với những đoạn miêu tả sâu sắc như vậy
như đoạn tả nhóm người trung lưu của thành phố thăm viếng người thực vật vốn bị đóng cửa một thời gian dài vì lính Mỹ chiếm đóng lập doanh trại ở đó
đế nhím xem những con đường đáng yêu với hàn cây long não còn nguyên và
có thế làm vui sướng những con mắt thành thạo hay không.
Không gian Co đô của Y. Kawabata đã góp phần quan trọng trong việc
bộc lộ tư tưởng, dụng ý nghệ thuật của nhà văn. Ớ đây, ông đã dựng lên một
không gian đồng hiện giữa hiện tại và quá khứ . Y. Kawabata thường khắc
9
họa một vài đường nét còn lại là những khoảng trống hư không. Điều này cho
thấy tác giả luôn trân trọng quá khứ, hướng về quá khứ đế tìm lại vẻ đẹp
truyền thống đang dần bị lãng quên.
Căn cứ vào kết quả khảo sát cho thấy không gian nghệ thuật trong c ố đô
củaY. Kawabata gồm ba kiếu không gian: Không gian chùa chiền, ni viện;
Không gian sinh hoạt; Không gian tâm lý. Các kiểu không gian trong tiếu
thuyết Cố đô được thống kê như sau:
Các kiễu không gian
Số lần xuất hiện và tỉ lệ phần trăm
1. Không gian chùa chiền, ni viện
Không gian của nghệ thuật
4 lần (10,52%)
Không gian của tâm linh
10 lần (26,32%)
không đồng nhất với không gian hiện thực. Đó là mô hình nghệ thuật về thế
10
giới mà con người đang sống, đang cảm thấy vị trí, số phận của mình trong
không gian đó. Không gian nghệ thuật là một yếu tố quan trọng thuộc hình
thức tồn tại của thế giới nghệ thuật, là phạm trù thuộc hình thức nghệ thuật.
Tuy nhiên điều đặc biệt là ở chỗ, không gian nghệ thuật là hình thức mang
tính nội dung. Không gian nghệ thuật trong tác phẩm của Y. Kawabata cũng
là một trong những yếu tố nghệ thuật độc đáo của Y. Kavvabata làm nên sự
hấp dẫn cho tác phẩm.
Trong Cố đô, bên cạnh những không gian hẹp của “các đường hẻm chật
chội có những ngôi nhà đã sạm đen vì cũ kỹ” là không gian những lối mòn,
những con đường: “hai bên con đường nhỏ dẫn từ cánh cống hẹp vào nhà có
những bụi hagi trắng đang kì nở rộ”. Và mở rộng hơn là không gian của
những hồ nước được phủ lên sắc hồng tươi đẹp của hoa anh đào: “Nơi đây
dưới tán lá xanh ngự trị cảnh tranh tối tranh sáng. Mùi lá non và đất ấm phảng
phất... Con đường đã dẫn họ tới một khu vườn rộng có hồ ở giữa. Hồ lớn hơn
cái hồ mà họ vừa đi qua. Cảnh vật vụt trở nên sáng sủa nhờ những cây anh
đào đầy hoa in bóng trên mặt nước hồ”. Thành phố Kyoto nổi tiếng với những
lễ hội bốn mùa,cảnh sắc thiên nhiên tươi đẹp và những chùa chiền thấp
thoáng dưới những tán lá xanh. Ớ thành phố xinh đẹp, trù phú: “Kyoto là một
thành phố lớn với những cây cối đẹp đến sững sờ. Không sao tả được cái
tuyệt mỹ nơi khu vườn bao quanh biệt thự hoàng gia cạnh chùa Xingakuin,
cánh ròng thông bên hoàng cung, bao nhiêu vạt vườn mênh mang của nhũng
ngôi chùa cố mà ngay cây cối trên các phố xá cũng rất tươi tốt. Những cây
liễu rủ ở Kiyamachi và bên bờ sông Takaxe, những con đường trồng liễu dọc
các dãy phố Godgio và Horikata thật lạ thường... Cả những cây thông đở mọc
thành hình bán nguyệt trên Bắc Sơn cũng khiến người ta thán phục”. Chính
hồng”. Tâm trạng Chieko lúc này vô cùng tốt, nàng được hòa mình với thiên
nhiên, không gian chùa chiền yên tĩnh, thanh tịnh. Hai người ngắm cảnh ở
chùa này và con nghĩ tới chùa Daigodgi, nơi đây người ta sắp sửa hoàn tất
12
việc trùng tu ngôi chùa tháp năm tầng. Ngôi chùa này được ví “tươi rói
như Đen V àng...”
Bên cạnh không gian của chùa chiền là không gian của ni viện. Mặc dù
ông Takichiro Xada là một nhà kinh doanh tơ lụa nhưng ông đã vào ở ấn
trong chùa đế học thiết kế những mẫu vẽ kimono độc đáo. “Ngôi chùa không
lớn mà dân tình Kyoto ai cũng biết nó ở biệt lập, xa lánh mọi cặp mát tò mò
của đám khách du lịch”. Ni viện là nơi mà ông chủ kinh doanh tơ lụa chọn
làm nơi sáng tạo nghệ thuật. “Takichiro thuê một buồng trong chùa. Lòng ông
khao khát sự cô tịch mà ở đây mọi cái đều đồng điệu với tâm trạng ông”. “
Xada là một thương gia bán buôn áo dài may sẵn có cửa hiệu ở
khu Nakaghio”.
Ni viện là nơi rất thích hợp với tính “ưa cô độc” của Takichiro. Vì tình
yêu thương con gái Chieko, ông có thê ở ni viện nửa tháng đê dệt cho con gái
một chiếc thắt lưng kimono. Tình yêu thương từ cha mẹ là một niềm hạnh
phúc to lớn, khác xa so với người chị em song sinh Naeko. Đó là một thân
phận hoàn toàn khác, một người phụ nữ lao động, làm công và một tiêu thư
được cha mẹ yêu thương, quan tâm hết mực.
1.2.1.3. Không gian của lễ hội
Kyoto nơi gia đình Chieko sống là nơi có nhiều chùa cố Phật giáo và
Thần đạo. Hằng năm nhiều lễ hội lớn nhỏ diễn ra làm cho Kyoto trở thành
không gian văn hóa với nhiều hoạt động lễ nghi mang tính cộng đồng, vừa tôn
nghiêm vừa thế hiện tinh thần đoàn kết. Kawabata đã kì công miêu tả những
công đoạn chuẩn bị và cách thức tiến hành nghi lễ ở các lễ hội, cách bài trí và
nào cũng sẽ mãi tươi mới khi xuất hiện trong trí nhớ của cô. Khi ấy cô chưa
biết mình không phải là con ruột của ông bà Takichirô. Sau khi bí mật đã
được tiết lộ, thì kí ức xa xưa trong Chieko lại hiện về rõ hơn bao giờ hết.
Trong lễ Ghion, riêng phần âm nhạc, có đến hai mươi sáu cách diễn tấu cùng
với nhạc đệm dành cho vũ điệu cung đình. Buổi tối trước khi rước lễ, tràng
đèn lồng nhỏ trang hoàng kiệu cũng được chuẩn bị sẵn sàng. Không gian tràn
14
ngập âm thanh và ánh sáng đó đã mang hình ảnh Xinichi khoác trang phục
chú tiếu từ xa xăm về trong kí ức của Chieko. Hằng năm lễ hội vẫn diễn ra
theo quy luật của thời gian. Năm nay, những nghi thức lễ hội vẫn vậy, nhưng
tâm thế của cô thì đã khác. Những mối un tư mơ hồ chiếm hết tâm trí Chieko.
Do vậy, khi hẹn gặp Xinichi trong khung cảnh mùa xuân- mùa của các lễ hội,
Chieko đã đột nhiên chia sẻ với Xinichi bí mật của mình. Lúc này, quá khứ và
hiện tại đan xen nhau xuất hiện như một đoạn phim nghệ thuật. Đang là cảnh
Chieko ở cửa hàng của thời hiện tại chuấn bị đi ra đường, thì tiếp đến là đồng
hiện quá khứ cảnh cuộc nói chuyện qua điện thoại hẹn đi ngắm hoa giữa
Chieko và Xinichi. Hình ảnh chú tiếu Xinichi còn trở đi trở lại trong hồi ức
của Chieko nhiều lần nữa. Khi đi dạo ngắm những chùm hoa uất kim hương
nhiều màu sắc cùng bố mẹ, nghe bố hỏi ý kiến về việc tiếp nhận Hideo vào
gia đình, Chieko chọt đồng hiện hình ảnh Xinichi khi chàng còn là chú tiếu.
Hồi ức tươi đẹp đó trở về là sự tiếc nuối khi phải xa rời tuối thơ. Rồi khi lễ
hội Ghion đang tới gần, Chieko thích thú nhớ tới chú tiếu Xinichi năm nào ăn
vận bảnh bao ngự trên chiếc kiệu thứ nhất. Cuộc trò chuyện vui vẻ giữa
Chieko, Xinichi và Riuxuke trên đường từ quán “Daiychi” trở về cũng lại
nhắc đến chú tiểu Xinichi và “cô bé đi sau kiệu không chịu tụt lại”. Kí ức của
Riuxuke về cô bé Chieko cũng ấn tượng không kém hồi ức sống động về
Xinichi trong tâm trí Chieko. Đó là sự kiện nối bật được kí ức tuối thơ lưu giữ
và gợi nhiều cảm xúc. Kỉ niệm đã làm cho tình thân càng trở nên khắng khít.
mẹ hồi nào trở về đồng hiện. Bà Xighe đến chùa cũng là đế tìm đến sự thanh
tịnh. Chi tiết câu chuyện đồng hiện được miêu tả cặn kẽ. Sự gắn kết giữa hai
người phụ nữ đầy nữ tính đã tạo nên bức tranh đồng hiện đậm tình mẫu tử.
Những lễ hội được tố chức thường xuyên tại Kyoto tạo nên đặc trưng riêng
như một hình thức bảo lưu những giá trị văn hóa truyền thống. Và trong bối
cảnh đó, nhũng con ngưòi Nhật trở nên gắn bó bền chặt. Lễ hội, chùa chiền
cùng với kỉ niệm cứ sống mãi trong kí ức Chieko và những nhân vật khác như
sự trường tồn của chính truyền thống.
16
“Những khách ở xa đến quen cho là lễ Ghion kéo dài cả thảy có một
ngày- mười bảy tháng bảy, lúc trong thành phố có rước Ymakobo”. Nhưng
thực chất lễ Ghion kéo dài hơn thế nhiều “lễ Ghion kéo dài suốt tháng bảy”.
Lễ hội diễn ra vô cùng ý nghĩa “Mở đầu hội rước kiệu hàng năm là kiệu
naghinataboka có các cậu bé mặc trang phục chú tiểu ngồi trên. Ngày mùng
hai và mùng ba tháng bảy, ở mỗi quận lại chuấn bị một kiệu rước riêng của
quận mình”. Lễ hội ở đây diễn ra mang đậm dấu ấn của thành phố Kyoto từ
việc chuấn bị các nghi lễ cho tới việc rước kiệu như thế nào: “người ta làm
kiệu từ đầu tháng, và đến mùng mười tháng bảy nghi thức “tẩy rửa” kiệu diễn
ra ở cầu Đại lộ thứ tư trên sông Kamogaoa. Tuy gọi là “tẩy rửa” nhưng sự
thực vị vua trụ trì chùa chỉ giản đơn nhúng cành cây thiêng xakaki uống nước
rồi rẩy lên kiệu”.
Đe chuấn bị cho lễ hội Ghion sắp diễn ra, mọi người đã chuấn bị từ hôm
trước. Không ngoại lệ, không gian nơi cửa hiệu nhà Chieko cũng có sự chuấn
bị “ở cửa hiệu của Chieko người ta đã dờ dãy hàng rào tô điếm cho mặt tiền
ngôi nhà để tu bổ”.
“Ngày lễ Lửa ở chùa trên núi Kurama, dành cho việc xua đuối các hung
thần vốn được Chieko ưa thích hơn lễ Daimondgi. Naeko cũng thường có mặt
ở lễ Lửa...”. Nhật Bản là quốc gia có rất nhiều lễ hội nổi tiếng và thu hút rất
1.2.2.1. Khống gian ngôi nhà
Trên mỗi trang sách, Y. Kavvabata luôn ý thức về việc dựng lại không
gian hẹp, truyền thống, đặc trưng riêng của nước Nhật (lễ hội, đền đài, cây
cối, cố đô...) muôn đời không bị thời gian và con người làm cho nhạt phai.
Nhưng bên cạnh không gian thiên nhiên, quang cảnh biểu hiện cho niềm tự
hào dân tộc còn có một dạng không gian khác, đó là không gian ngôi nhà.
Không gian này mang đậm ý nghĩa mục đích của tác giả. Đây cũng là nét độc
đáo trong nghệ thuật xây dựng không gian của nhà văn. Chính không gian này
đã tạo điều kiện thuận lợi cho nhà văn khai thác tâm lý, tình cảm, tính cách
của nhân vật. Đời sống của nhân vật hiện lên cụ thế, sinh động, chân thực ở
đây. Ngôi nhà của Takichiro được xây dựng theo kiếu cách Kyoto xưa, cho
nên người nào vào nhà vệ sinh cũng không khỏi phải theo lối hành lang hẹp,
qua chỗ bàn ông ngồi trong phòng khách.
Không những thế, “gian phòng chỗ Takichiro ngồi trên chiếc đệm mỏng
sau bàn, sàn có trải tấm thảm cổ của hải ngoại. Chiếc bàn được ngăn cách ra
bằng những tấm rèm vải hoa quý. Chính Chieko nghĩ ra việc treo rèm”.
Không gian ngôi nhà của Chieko còn hiện lên với vẻ đẹp của những pho
tượng: “Trong nhà họ có bảy pho tượng thần Hotay. Điều đó có nghĩa là, ít
nhất cũng đã bảy năm rồi không có ai trong gia đình họ đi sang thế giới bên
kia, họ vốn có cũng như vẫn còn lại ba người với nhau: cha, mẹ và Chieko”.
Ngôi nhà nhìn từ ngoài vào có hàng rào bên lối vào cửa hiệu và những phiến
gỗ. Trên tầng hai, dưới mấy khung cửa số con có treo tấm biến hiệu cũ, bên
trên nó là cái mái nhỏ xíu - một vật trang trí độc đáo và đồng thời cũng là dấu
hiệu cho thấy hãng buôn đã lâu đời”. Không gian ngôi nhà hiện lên cho thấy
gia đình ông Takichiro là một gia đình thương gia buôn bán khá giả, có lối
kiến trúc mang đậm chất cố đô Kyoto.
Cửa hàng của gia đình Xada là không gian cư trú của ba thành viên
Takichiro, Xighe và Chieko. Tuy vậy vì thiết kế khá đặc biệt mà nó gây cản
“Kyoto là một thành phố lớn với những cây cối đẹp đến sững sờ” Đây là
một thành phố lớn, đẹp nhất Nhật Bản. v ẻ đẹp tuyệt mĩ của “ khu vườn bao
quanh biệt thự hoàng gia cạnh chùa Xingakuin, cánh rừng thông bên hoàng
cung, bao nhiêu vạt vườn mênh mang của những ngôi chùa cố mà ngay cây
cối trên các phố xá cũng rất tươi tốt, chính chúng là điều trước nhất đập vào
mắt du khách”. Cảnh đẹp ở thành phố này không chỉ có vậy mà còn thể hiện
ở: “Những cây liễu rủ ở Kiyamachi và trên bờ sông Takaxe, những con đường
trồng liễu dọc các dãy phố Godgio và Horikaoa thật lạ thường. Đây là loài
liễu rủ thực sự, nhũng cành non mềm mại của chúng buông xuống sát đất. Cả
20