Khoá luận tốt nghiệp không gian nghệ thuật trong linh sơn của cao hành kiện - Pdf 30

TRƯỜNG ĐẠI HỌC sư PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN

NGUYỀN THỊ THANH HUYÈN

HÀ NỘI, 2015


TRƯỜNG ĐẠI HỌC sư PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN

KHÔNG GIAN NGHỆ THUẬT TRONG
LINH SƠN CỦA CAO HÀNH KIỆN

KHÓA LUẬN TÓT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Văn học Nước ngoàỉ

HÀ NỘI, 2015


TRƯỜNG ĐẠI HỌC sư PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN

NGUYÊN THỊ THANH HUYÊN

KHÔNG GIAN NGHỆ THUẬT TRONG
LINH SƠN CỦA CAO HÀNH KIỆN

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC



Với đề tài “Không gian nghệ thuật trong Linh Sơn của Cao Hành Kiện”được
hoàn thành dưới sự hướng dẫn của TS. Nguyễn Thị Bích Dung và cố gắng của bản
thân.
Tôi xin cam đoan những kết quả trong khóa luận này là kết quả nghiên cứu của
bản thân không trùng với kết quả nghiên cứu của tác giả khác. Trong quá trình nghiên
cứu và thưc hiện khóa luận, tôi cũng đã kế thừa những thành tựu nghiên cứu của một
số tác giả khác. Neu có không đúng tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm.

Hà Nội, thảng 5 năm 2015 Sinh viên

Nguyễn Thị Thanh Huyền

HÀ NỘI, 2015


MỤC LỤC

TÀI LIỆU THAM KHẢO


MỜ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Trung Quốc là một trong những cái nôi văn hóa của nhân loại, nền văn minh
sông Hoàng Hà rực 1'ỡ mấy nghìn năm chói lọi. Lịch sử Trung Quốc vẫn luôn tự bồi
đắp những giá trị văn hóa của dân tộc mình trên từng tấc đất lãnh thổ quốc gia, tác
động tới quá trình hình thành nhận thức và nảy sinh mầm tư tưởng, tâm hồn nghệ
thuật phong phú trong mỗi con người Trung Hoa. Từ Kinh thi tới Sở từ, Nhạc phủ
rồi sự hình thành nên thể loại tiểu thuyết phát triến từ thời Minh-Thanh tới ngày nay,
luôn là chằng đường dài vang tiếng lẫy lừng của văn học Trung Hoa. Cái nôi của thi
ca và nhạc họa ấy đưa bản thân những người cầm bút gần hơn với nhân loại, khi họ

trong tưởng tưởng của nhân vật. Khai thác từ góc độ nghệ thuật trong Linh Sơn mà
tác giả khóa luận đi sâu vào đề tài “Không gian nghệ thuật trong Linh Sơn của Cao
Hành Kiện” nhằm đi sâu vào các kiểu loại không gian và hệ thống biểu tượng
không gian với những giá trị nhân văn, tâm linh trong tác phẩm. Đồng thời thể hiện
niềm đam mê nghệ thuật của họ Cao trong đóng góp vào nền nghệ thuật nhân loại,
nhất là đối với văn học.
2. Lịch sử vấn đề
Lỉnh Sơn từ ngay sau khi đoạt giải Nobel đã nhận được nhiều ý kiến ủng hộ và
bác bỏ.Tất cả những nhận định đó nằm trong những công trình, bài viết, lời bàn luận
về cuốn tiếu thuyết của nhà văn vốn đã có nhiều tranh cãi này.
Trong tuyên bố của Viện Hàn lâm Thụy Điển về lí do trao giải cho Linh Sơn có
nhấn mạnh: Cao Hành Kiện với nỗ lực khôi phục tinh thần thuần khiết và tính chất
Trung Quốc của tiếng Trung Quốc, ông đã tạo nên một sự nghiệp mang giá trị thế
giới. Những suy tư cay đắng và cả sự tỉnh tế của Cao Hành Kiện đã mở ra những
nẻo đường mới cho tiếu thuyết và kịch nghệ Trung Quôc, tạo ra những giá trị mang
tính phô quát nhân loại.
Trên thế giới, có nhiều nhà nghiên cứu không ngừng quan tâm tới Linh Sơn và
những vấn đề trong nó. Không thế không nhắc đến Mabel Lee, người đã dịch ĨẤnh

8


MỜ ĐẦU
Sơn sang tiếng Anh và đề cử tác giả với giải Nohel văn học, và hàng loạt những
công trình nghiên cứu liên quan tới tiểu thuyết Lỉnh Sơn.
Cuốn tống hợp các tác phấm của Cao Hành Kiện trong buối hội thảo cùng tên:
Những tác phâm tiếu thuyết và kịch của Cao Hành Kiện (L’ecriture Romanesque et
théâtrale de Gao Xingjian) tố chức tại Aixen Provence năm 2005 tại Pháp, với sự tham
gia của 17 nhà nghiên cứu tới


báo mạng, diễn đàn trên mạng và trong một số trường đại học tại nước ta.
Với việc điểm qua tình hình nghiên cứu về Lỉnh Sơn như trên có thể nói, tác phẩm
cũng được coi là một hiện tượng văn học, thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà
nghiên cứu. Bản chất sự khám phá là vô bờ bến, vì thế có cầy xới bao nhiêu trong một
đối tượng cũng không là cũ kĩ, trong khi nghệ thuật trong Lỉnh Sơn được xem là mảnh
đất phì nhiêu, màu mỡ, mà hệ thống loại hình không gian và hệ thống biểu tượng không
gian trong đó lại là nhân tố góp phần làm nên giá trị nghệ thuật cho chính tác phẩm. Với
ý nghĩa đó, khóa luận này mong muốn đi sâu vào tìm hiểu về không gian nghệ thuật
trong tác phẩm Lỉnh Sơn nhằm củng cố và phát huy những giá trị nghệ thuật trong tác
phẩm mang hơi thở của dòng văn học chủ nghĩa hiện đại này.
3. Đối tượng nghiên cún và phạm vi khảo sát
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Không gian nghệ thuật trong Lỉnh Sơn của Cao Hành Kiện.
3.2 Phạm vỉ khảo sát
Cuốn Linh Son của Cao Hành Kiện, do Trần Đĩnh biên dịch, NXB Phụ nữ in năm
2003, 715 trang.
4. Mục đích nghiên cứu
Thực hiện đề tài này, tác giả khóa luận dựa trên hệ thống các biểu tượng không
gian với nhiều kiếu loại không gian khác nhau trong tác phẩm đế thấy được nhiều màu
sắc nghệ thuật. Nhận ra được cái hay, cái đẹp từ không gian nghệ thuật và giá trị của các
biếu tượng không gian trong tác phẩm.

1
0


MỜ ĐẦU
Trên cơ sở lí thuyết về không gian, không gian nghệ thuật cũng như biếu tượng
không gian để thấy được cách bày trí không gian của tác giả Cao Hành Kiện, các điểm
nhìn từ không gian vào tâm hồn cá nhân trong tác phẩm.

Trong cuốn Từ điển Tiếng Việt Hoàng Phê đã cắt nghĩa, lí giải về không gian như
sau: “Không gian là khoảng không bao la trùm lên tất cả sự vật hiện tượng xung quanh
đời sống con người”. [13;663]
Trước khi có các định nghĩa hoàn chỉnh về không gian như trên, trong tư tưởng
của người phương Đông xưa đã quan niệm cấu trúc không gian vũ trụ với mô hình tam
tài và ngũ hành:
“Tam tài” là một khái niệm bộ ba, “ba phép”: Thiên - Địa - Nhân. Nó thể hiện
quan niệm của người xưa về cấu trúc không gian dưới dạng mô hình ba yếu tố. Còn
“Ngũ hành” là khái niệm dùng đế mô phỏng cấu trúc không gian vũ trụ bởi năm yếu tố
(năm hành) theo thứ tự: Kim - Mộc - Thủy - Hỏa - Thổ. Và xét về bản chất của những
từ “thế giới”, “vũ trụ” thì đó đều là những khái niệm đế chỉ tống thế không gian - thời
gian. “Thế giới” gồm có thế - đời (thời gian) và giới - cõi (không gian). Như vậy, thế
giới được hiểu là cõi đời. Nghĩa là nó bao hàm cả không gian và thời gian.
Con người luôn phải tồn tại đế thế hiện tính xác định của mình trong thế giới
khách quan đa chiều, ba chiều không gian và một chiều thời gian, thời gian lại được coi
là chiều thứ tư của không gian vậy. Con người có thể đo đạc, nhìn ngắm, thậm chí có
thế chạm vào không gian một cách trực tiếp, có thế cảm nhận một cách chân thực bằng
trực giác. Đó là không gian cụ thể, không

1
2


gian vật chất, không gian vật lí, chứ chưa phải không gian nghệ thuật.Như vậy,
không gian chính là môi trường chúng ta đang sống với sự tồn tại của các sự vật.
Không gian chính là hình thức tồn tại của vật chất với những thuộc tính như cùng tồn
tại và tách biệt, có chiều kích và kết cấu.
1.1.2

Không gian nghệ thuật

thế giới nghệ thuật. Neu thế giới nghệ thuật là thế giới của cái nhìn và mang ỷ nghĩa thì
không gian nghệ thuật ỉà trường nhìn của cách nhìn” [15;88-89].
Nhìn chung, không gian nghệ thuật không phải và khác hẳn với không gian hiện
thực, không gian vật lý. Nó là hình tượng không gian, là hình thức tồn tại của hình thức
con người trong thế giới nghệ thuật. Gắn liền với quan niệm về con người của nhà văn
và góp phần biểu hiện cho quan niêm ấy.Các cặp phạm trù đối lập cao - thấp, xa - gần,
rộng - hẹp... được sử dụng nhằm biểu hiện phạm vi giá trị phẩm chất của đời sống xã
hội. Chúng tạo thành ngôn ngữ nghệ thuật để thể hiện quan niệm về thế giới của nhà văn
trong tác phấm.Sự lặp lại của các hình thức không gian tạo thành tính loại hình của
không gian nghệ thuật.
1.2 Các loại không gian trong Linh Sơn của Cao Hành Kiện
Nhắc tới Linh Sơn, người ta nghĩ ngay tới Cao Hành Kiện và những vấn đề xung
quanh cá nhân ông. Giải Nobel văn học 2000 rơi vào tay một nhà văn học người Trung
Hoa mang quốc tịch Pháp. Lỉnh Sơn đắc thắng, nhiều người coi đó như một sự may mắn.
Song thực tế, Lỉnh Sơn lại rất hiện đại cả về bút pháp, ngôi kế lẫn bố cục, chương về
“ta” và chương về “mỉ”. Cả tác phẩm là một hành trình đi tìm kiếm ngọn núi lỉnh hồn và
sưu tầm văn hóa dân gian, những câu chuyện kì lạ, bí hiểm, trong những hành trình lớn
luôn xuất hiện những hành trình nhỏ, trong mỗi cuộc hành trình lại là những câu chuyện,
sự kiện nhỏ, xen kẽ vào một khoảng thời gian nào đó ở trong một không gian nhất định.
1.2.1

Không gian tụnhiên
Khảo sát trên 81 chương của tiểu thyếtLỉnh Sơnthì có tới 65 chương tả cảnh thiên

nhiên ở nhiều góc độ. Chiếm 38% không gian trong tác phẩm. Cũng theo thống kê,
trong 65 chương này thì nhân vật đã đi qua 37 điểm, gồm di tích lịch sử danh lam thắng

14





mang đậm trong nó là cả một vùng không gian văn hóa, mang giá trị to lớn đối với đời
sống người Trung Quốc, chúng cứ như bảo bối bởi cái đẹp sự quý hiếm và kì lạ của
chúng. Vùng Ngọa Long ở vấn Xuyên với độ cao hơn 4000m, xuất hiện cùng ta trong
những chương đầu tác phẩm được coi là khu bảo tồn trọng điểm. Vùng quan sát gấu
mèo (chương 6), khu bảo hộ loài Hạc cổ đen, Hạc xám ở Hồ cỏ (chương 18), khu bảo
tồn dưới chân núi Phạn Tịnh nối tiếng với loài rắn kỳ (chương 30). Hay trại giám sát
Hắc Loan khu sinh sống chung của người Miêu, Thổ giao, Hán (chương 33), khu bảo
tồn vượn lông vàng ở huyện Thần Nông Giá, tại khu Đại Ba Sơn tỉnh Hồ Bắc (chương
57). Cho thấy một điều quý giá từ những khu bảo tồn những loài động vật quý hiếm, có
khi chúng còn được liệt vào khu bảo tồn sinh vật thế giới.
Không gian núi, không gian văn hóa khu bảo tồn, di tích, rồi cả không gian sông
hồ trở đi trở lại trong tác phấm một phần cũng nhằm đề cao vẻ đẹp tự nhiên của núi rừng
miền nam Trung Hoa. Chỉ một dãy Thanh Thành có 36 ngọn và 108 thắng cảnh nổi
tiếng của huyện Tứ Xuyên.
Cao Hành Kiện vốn ảnh hưởng nhiều từ lối viết của phương Tây, nhưng ông lại
luôn muốn tìm về nguồn cội, mọi giá trị trong thơ ca, văn chương Trung Quốc chính đều
bắt đầu từ nguồn cội ấy. Ông không chỉ sáng tác văn chương giỏi mà ông còn là một họa
sĩ tài ba, tranh thủy mạc của ông cực kì xuất sắc. Linh Sơn được xây dựng như một bức
tranh mực tàu đầy tinh tế, mỗi đường nét về thiên nhiên ông đều ghi lại một cách có hồn,
sống động trong các chương viết. Bức tranh thiên nhiên ông dựng lên trong Lỉnh Sơn
hoàn toàn không có gam màu chói, nhưng nó làm người ta ngắm nhìn mà nhớ mãi về nó,
ngỡ như đang đứng trước cả sông, cả hồ, cả núi, cả rừng phía nam vậy.
Cao Hành Kiện cũng từng chia sẻ trong một bài phỏng vấn rằng: “Chính việc tôi
hiện hữu ở đây là một ân sủng của tạo hóa. Cuộc đời con người thật mong manh nếu so
sánh với thiên nhiên hiện hữu mọi nơi. Tôi có niềm thươỉĩg cảm và trân trọng lớn lao
đôi với thiên nhiên, thiên nhiên ân chứa một sức mạnh không ngừng thu hút tôi. Cuốn
Linh Sơn (1990) là bằng chủng cho sự tổn tại của tôi khi sông bên thiên nhiên, ngoài ra


khu dân cư ấy đa phần đều là người dân tộc thiểu số, sinh sống nơi “đồng không
sông quạnh”, heo hút và cheo leo, cuộc sống nghèo nàn.

17


Ngoài hai chương nhà văn nói về suy nghĩ, tâm tư của mình (chương 72 và 81),
thì chỉ gói gọn có 5 chương Cao Hành Kiện cho miêu tả cảnh thành phố và sinh hoạt
của nhân vật, ít xuất hiện chỉ 6,2% trong toàn tập tác phấm so với không gian sinh
hoạt ở rừng núi. Phần lớn không gian sinh hoạt ở 74 chương trong tác phẩm được
nêu ra là ở vùng xa xôi, biệt lập. Dễ thấy mục đích của nhà văn trong chuyến hành
trình mang tên Tìm kiếm. Sự bộc phát đi tìm trong các nhân vật chỉ ninh ninh tìm sao
cho ra được ngọn núi mang tên Linh hồn, cho ra cho thấu được những câu chuyện là
lạ, li kì của cả mi và ta.
Suốt cuộc hành trình của mình, nhân vật ta, nhân vật mi luôn mong mỏi đi đến
được “mảnh đất ấy”. Chuyến hành trình của ta như một chuyến du ngoại đi thực tế,
trong ta những điều ta nói không mơ màng, ảo giác như của mi. Ta đã đi qua khá
nhiều trạm ga xe lửa, điếm xe buýt, hay trú ngụ tại nhà trọ, khách sạn, nhà dân. Loại
hình không gian này giúp ta di chuyển nhanh chóng và ít leo trèo, thậm chí giúp ta
có thêm nhiều cách nhìn nhận mới về cuộc đời. Không gian này tiêu biểu trong tác
phẩm là những nơi tập tụ đủ các hạng người...
Không gian sinh hoạt trong Lỉnh Sơn hiện lên đầy màu sắc của văn hóa của
cuộc sống hiện đại. Mặc dù gắn liền với phần lớn không gian của miền núi, thị trấn
nông thôn, song các phương tiện di chuyển gắn với ta lại mang đậm “khí thế” của
một thời đại công nghệ giao thông vận tải. Neu không gian của đời tư riêng lẻ là
không gian của sinh hoạt cá nhân, thì không gian sinh hoạt cộng đồng lại gắn liền
với cái tập thể. Có thể thấy, trong tác phẩm gắn với cuộc hành trình của ta cũng
chính là không gian của tập thể, bởi nó thường xuyên xuất hiện trong các chương
viết của Cao. Những bến xe đường dài, nhà ga xe lửa thị trấn... Tất cả đều là những
phương tiện di chuyển ở vùng nông thôn xa lắc, nhưng lại không thể thiếu cho mỗi

một bên là không gian sinh hoạt vui vẻ tập thể, còn một bên là không gian sinh hoạt của
một kẻ cô đơn, mờ nhạt hẳn đi bởi sự ồn ào, đông đúc.

19


Không gian sinh hoạt ở vùng dân tộc thiếu số của người Khương, người Di, hay
thỉnh thoảng ở khu của người Mông, khu tự trị, đều thể hiện một đặc tính truyền thống
từ những phong tục tập quán của họ, thể hiện được tính hiện thực sâu sắc. Đồng thời thể
hiện được quá trình di chuyển từ vùng này sang vùng khác của người kể chuyện trong
tác phẩm, thể hiện sự mở rộng vùng không gian mà nhân vật đi tới, ở mỗi nơi nhân vật
lại hình thành cho mình những dòng tâm lí khác nhau, tạo nên một không gian mang
đậm chất đời tư ngay từ trong suy nghĩ, trong dòng tâm tư của nhân vật.
1.2.3

Không gian tâm lí
Tâm lí là một phần không thế thiếu trong suy nghĩ của mỗi người, tâm lí chính là

được sinh ra từ hệ thống cảm xúc cá nhân, gắn liền với ý chí và hành động. Tâm lí con
người được coi là hiện tượng tinh thần tự nhiên, được phân chia thành: các quá trìnhtâm
lí; các trạng thái tâm lí; các thuộc tính tâm lí. Tất cả chúng có liên quan tới nhau, sản
sinh nhau tạo thành móc xích vòng tròn thông qua các giác quan, đặc biệt là khi chúng
được tiếp nhận tại bộ não và sản sinh ra hành động tạo ra các mặt tâm lí khác nhau của
từng người. Trong Linh Sơn những con người cá nhân ấy lại mang phần nào dáng dấp
của Cao Hành Kiện. Có lẽ chỉ là sự trùng hợp khi soi chiếu bóng hình Cao vào với ta,
mi, và hắn trong tác phẩm. Họ đều đi kiếm tìm một cái gì được coi là giá trị của văn hóa,
giá trị truyền thống. Nhân vật mỉ trong tác phẩm hiện lên với rất nhiều dòng cảm xúc,
đặc biệt là với tuổi thơ và nhân vật nàng. Nên phần lớn, không gian tâm lí trong đây gắn
với mi hơn cả.
Không gian tâm lí trong tác phẩm vừa mang tính hiện thực vừa mang tính ảo giác

tường minh với khối kí ức tuối thơ nặng trịch ấy giống như mi đang mắc bệnh vậy. “Căn
bệnh tâm lí” của mi dường như chỉ có mi là có biện pháp chữa trị. Nhưng mỉ không chịu
thoát mình ra khỏi mớ hộn độn trạng thái tâm lí ây vì mi nghĩ “chỉ có trong thứ kỉ niệm
ấy mỉ mới có thế bảo toàn bản thân mi, không đê bị thương tôn. Rút lại trong cõi đời
mang mang này, quá lắm mỉ cũng chỉ là một giọt vừa nhỏ nhoi vừa yếu đuối của bế dâu
thôi mà ” (chương 54).

21


Trạng thái tâm lí nhân vật đôi khi còn là sự hài hòa bó chặt của thời gian với không
gian trong một phạm vi khép kín. Không gian bó hẹp “ở góc phòng trên mảy ghi âm
đèn bảo cườỉĩg độ âm thanh nhấp nháy liên hồi” (chương 80). Hình tượng căn phòng,
ngôi nhà đại diện cho khoảng không gian nhỏ bé gắn với suy tưởng, hồi ức cá nhân, tâm
tư thầm kín và kỉ niệm không muốn rời bỏ của nhân vật. Đặc biệt Cao Hành Kiện hết
sức chú tâm tới việc phô ra
trạng thái tâm lí nhân vật theo chiều kích không gian của dòng hồi ức bằng cách tái
hiện chúng thông qua cách diễn đạt với tần số cao, nhà văn đã cố ý kể đi kể lại về
không gian tuổi thơ qua dòng hồi ức trong khắp 27 chương có mô tả không gian tâm
lí của nhân vật.
Cao là một trong những nhà văn Đông Á có ảnh hưởng sâu sắc nhất của văn
học Tây phương. Đặc biệt là văn học Pháp, nơi ông mang quốc tịch. Neu trong các
sáng tác văn học hiện đại chủ nghĩa, nhân vật của M. Proust thường lang thang trong
những cuộc tìm kiếm cái bất tận, cái thực tại, cái thời gian đã đảnh mất, hay đối với
nhà văn người Mĩ w.Faulkner, thực tại là tiếng vọng của Ảm thanh và cuồng nộ,
nguyên sơ của quá khứ hộn độn mang vọng về thì những hồi ức, kỉ niệm của mỉ
trong Linh Solĩ cũng vậy, đều là đi tìm lại cái đã mất, tìm lại tiếng vang vọng từ trong
âm thanh của cuộc sống, nó thúc đẩy mi đi tìm lại nó, nó chi phối dòng tư tưởng của
ra/, gần như điều khiển tâm và thân mi vậy. Có thể thấy, Cao đã vận dụng thành công
nguyên tắc Dòng ý thức của văn học hiện đại chủ nghĩa. Đây được coi là một trong

Không gian tâm linh
Nhắc tới tâm linh, người ta hẳn sẽ hình dung về một thế giới khác, thế giới của

thần linh, của tín ngưỡng, tôn giáo, của những cái mộng mị, không phải đời thường, gắn
với nó là không gian của những thứ không phải đời thường ấy. Toàn bộ tác phẩm Lỉnh
Sơn, không gian linh thiêng xuất hiện dày đặc, từ chương mở đầu đến chương kết thúc
không gian mộng mị tái diễn tới 11 lần, chiếm 19% tác phẩm, không gian tưởng tượng
chiếm 17% với 10 lần xuất hiện, không gian tôn giáo bao gồm cả Phật giáo lẫn Đạo giáo
chính thống và đạo giáo dân gian chiếm 64% tác phẩm.
Trong kinh điển Phật giáo, núi non là những biểu tượng quen thuộc có tính chất
biểu tượng cho sự giác ngộ, chẳng hạn như núi Tu Di, núi Lỉnh Sơn, núi Phố Đà... Núi
non rừng sâu vốn là địa điếm của nhiều bậc đại sư, thánh hiền lựa chọn để tu hành.Ngay

23


từ chương đầu, người kể chuyện đã bày tỏ những nhận thức về Lỉnh Sơn (núi linh hồn).
Từ trong những thư tịch Linh Sơn đã được ghi trong vô số các sách vở, văn bản lịch sử
cổ xưa, từ tác phẩm bói toán và ma thuật cổ đại Sơn Hải Kinh, đến bộ sách lâu đời về
địa lý nhan đề Thủy Kinh Chú. Chính ở nơi này đức Phật đã giáo hóa cho đấng tổ sư thứ
nhất chí tôn Ma Ha Ca Diếp [19; p3.2]
Ở những chương cuối (chương 76,78,80,81) quá trình dịch chuyển không gian từ
tâm thức sang không gian tôn giáo rất rõ rệt, chủ yếu theo phương thức thiền. Sự xuất
hiện của hàng loạt những con người mang chức năng chỉ đường đều nằm trong khuôn
thước của thiền. Những câu thơ thiền cũng xuất hiện trong tác phấm, tuy số lượng không
nhiều song nó lại làm toát lên được lòng tin của con người đối với Phật. Do đó, có thể
nói hành trình đi tìm kiếm ngọn Linh Sơn trong cuốn tiểu thuyết của họ Cao là hành
trình giác ngộ, hành trình đến với tâm, với đạo của nhân vật mang đậm chất tâm linh tôn
giáo.
Theo định nghĩa của Giáo hội (thần học) thì tôn giáo là mối liên hệ của con người

Trung Quốc có ngũ nhạc gắn với Lão giáo và tứ đại danh sơn gắn với Phật giáo nối
tiếng linh thiêng, thậm chí có bản đồ địa chỉ cụ thể rõ ràng, hà tất phải tìm Linh Sơn? Do
đó, bản chất của cuộc tìm kiếm này chính là hành trình “phá chấp ” trong tâm hồn con
người[19; p3.2].
Không gian tâm linh mang một ý nghĩa linh thiêng thờ phụng, nằm trong nó không
chỉ có một hai yếu tố về không gian tôn giáo tín ngưỡng, không gian ma quỷ, không
gian hồi ức về những câu chuyện trong dân gian- “nhũng con hồ lí cái lấy chồng sình
con Có thể nói, tâm thức của mỗi con người về cõi linh thiêng là một phần không thể
thiếu của đời sống tinh thần mỗi con người. Neu nhân vật mỉ trong tác phẩm luôn tin vào
những điều hết sức kì bí, nhất là những gì về ngọn núi linh hồn, ngọn núi thiêng đầy bí
ấn thì nhân vật ta lại tin vào số mệnh nhiều hơn, sau cái chết của cha và căn bệnh ung
thư phối cũng như nghe kể về cái chết đầy bí hiếm của ông già sống lâu năm trong ngôi
nhà đá trên đỉnh núi. Nhân vật trong tiểu thuyết của Cao luôn tin vào một thế giới bí

25


Trích đoạn CỦA CAO HÀNH KIỆN 2.1 Khái quát về biểu tượng Các biểutượng không gian trong Linh Sơn của Cao Hành Kiện
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status